TIN TỨC

Ai về nơi ấy cho tôi biết…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-03-25 11:15:24
mail facebook google pos stwis
1438 lượt xem

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

Có khi nào dọn đến ngôi nhà, ta tự hỏi: Ai đã sống nơi này trước khi ta đến?

Có đấy. Khi tôi một mình ôm đứa con 6 tuổi vào thành “người Saigon” chưa có nhà cửa, ở nhờ nhà chị gái- đúng ngôi nhà tại Quận 5 của một vị tướng nổi tiếng của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trước đây.

Nhà của Tướng lớn nên có cả trụ xây cao cho máy bay trực thăng có thể đậu xuống, và quá lớn nên đã chia cho mấy chủ mới ở hết. Giống như một khu nhà tập thể.

Đứa con 6 tuổi của tôi ấy nay đã thành một họa sỹ đang làm việc tại Mỹ và thật tình cờ, anh đã liên hệ được với người con của vị Tướng đã rời Saigon năm 1975. Họ trò chuyện với nhau về ngôi nhà họ đã từng sống qua các thời khác nhau, từ cái sân và mảnh vườn nhỏ sau hiên nhà có bức tường đá dựng đứng- nay thành cửa hàng sầm uất. Mỗi khi về nước, anh họa sỹ không quên ghé xuống Quận 5 chụp hình để sang Mỹ có thông tin mới kể cho người con vị Tướng (Tiếc rằng chưa xin phép bà nhà văn ấy – chứ nếu nói tên vị tướng ra thì cả nước đều biết dấu ấn lịch sử chiến tranh và câu chuyện sẽ thú vị nhường nào.

Cho dù Thành phố sẽ hiện đại và mở rộng đến đâu, con người có rời đi dịch chuyển, thì ngôi nhà và đường phố vẫn đẫm hồn của năm tháng ta đã mang.

Bây giờ có Google Map- tôi ngồi ở Saigon có thể xem định vị được ngôi nhà của người thân sống xa quê khắp các quốc gia. Người ta làm cả youtub cho người đi xa có thể biết quê mình nay ra sao. Trong những ngày phong tỏa cứng vì dịch Covid, tôi không chỉ xem cách nấu nướng món ăn của Trường Giang “muốn ăn thì lăn vào bếp “hay cô Lý Tử Thất có khu vườn như rừng tự trồng rau củ, chế biến món ăn. Cả nhà tranh nhau nhận vai “việc nhẹ lương cao” xuất hiện cuối chỉ việc… ăn. Ngồi bên hiên nhà giữa đồi gió mát, có con chó xù to tướng nằm dưới bàn.

Tôi cũng thử gõ “Phố Cát dài hôm nay” xem sao và ngạc nhiên nhớ ra mình vụng về nhát cáy mà thời thanh xuân từng có giải bắn súng cùng đội tự vệ công nhân nhà máy đóng tàu Bạch Đằng Hải Phòng.

Ngày ấy vào năm 1966 khi đeo súng đi đến gần lối rẽ lên cầu hạ Lý, trong tiếng còi báo động và tiếng máy bay Mỹ ùng ục bay qua trên bầu trời, tất cả phố bỗng nghe tiếng Bác Hồ vang trên loa phát thanh: “…Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10, 20 năm hay lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp bị tàn phá song nhân nhân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn Độc lập Tự do….”

Trong gian truân đằng đẵng ấy- lòng người lo âu sống đời gian khổ bom đạn, vẫn phải cố gắng hơn nữa vì lời thề dân tộc. Mỹ đã mở rộng chiến tranh không quân hải quân đánh phá miền Bắc, tuyên bố đưa miền Bắc “trở về thời kỳ đồ đá”. Sau này qua tổng kết mới biết ngày ấy Mỹ đã bỏ 15 triệu tấn bom, miền Bắc bình quân đầu người chịu 45,5 kg và một km2 chịu 6 tấn bom đạn.

Tôi cũng không thể biết sau này mình còn có dịp khi đã trở thành nhà báo, được đi ra sân bay “tiễn chân“ các tù binh Phi công Mỹ được trao trả về nước. Mỗi anh mặc bộ đồ màu ghi xám, tay một chiếc túi du lịch và lạ nữa là thêm… một cái nón lá Việt Nam. Nhìn các anh ấy cao to thật lạ, khác hẳn anh mà ta thấy lúc nhảy dù xuống hồ Trúc Bạch bơi lóp ngóp bị dân quân vây bắt, hay có lần chính tôi sấp ngửa nhảy khỏi tàu điện để chạy theo đám đông reo hò xem “tù binh phi công Mỹ“. Họ được dẫn giải đi phố Bờ Hồ trong tiếng mắng mỏ căm giận của dân chúng và các anh bộ đội đang cố ngăn những người quá căm thù muốn nhảy vào bạt tai. Nhà của họ vừa sập vì bom Mỹ, bà con anh em họ vừa bị vùi chết dưới bom.

Đó là lúc tàu điện vừa đỗ ở gần Tháp Hòa Phong nơi chúng tôi vẫn chờ để “nhảy tàu“ đi đường Bưởi- Chợ Hôm. Nay thì không còn tàu điện nữa trên phố xá Thủ Đô.

Cũng ở cái bến tàu này vào năm 1969 - đoàn tàu đang chạy bỗng dừng lại làm mọi người nhìn nhau tưởng… mất điện nhưng rồi chợt hiểu: Trên loa đang vang tiếng đồng chí Lê Duẩn: “Nhân dân ta, Tổ quốc ta mất đi người con...”- thì vội đứng nghiêm trang vì biết đang truyền thanh tường thuật điếu văn đưa tang Bác Hồ ở Quảng trường Ba Đình.

Có lần tôi từ Saigon ra viết bài nhân kỷ niệm ngàn năm Thăng Long, lùng sục phỏng vấn các kiến trúc sư về hình hài Hà Nội mở rộng, gặp các nghệ sỹ đang khôi phục chương trình nghệ thuật, biểu diễn hát xẩm ở phố Cổ và chợ Đồng Xuân. Hà Nội với tôi vẫn lạ lẫm vì phố xá phát triển, mở rộng các tuyến đường lớn.

Tôi không có thời gian tìm lại ngôi biệt thự Pháp cổ nơi mẹ tôi thuê cho gia đình ở, và ngày 10-10-1954 khi tôi lên 10 – sáng đó dậy sớm, mặc đồ đẹp để đi ra “5 cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về… như đài hoa đón mừng nở 5 cánh đào chảy dòng sương sớm long lanh”.

Nhất là trong đoàn “trùng trùng quân đi như sóng“ ấy có bố tôi - anh bộ đội Cụ Hồ ra đi lâu lắm từ Cách mạng tháng Tám nên chúng tôi không còn nhớ mặt, nay sắp đoàn tụ gặp lại vợ con.

Những biệt thự Pháp cổ vẫn cổ xưa bên cạnh bao công trình mới nguy nga. Đã có lần tôi vào ngôi biệt thự to đẹp ở 34 Hoàng Diệu để phỏng vấn cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ đã ngoài 90 tuổi - vợ nhà tư sản Trịnh Văn Bô - người đã tặng hiến cho nhà nước Cách mạng non trẻ 5.000 cây vàng. Gia đình họ cũng đón đoàn lãnh đạo và Bác Hồ về chuẩn bị Lễ 2-9-1945 và Bác Hồ đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập trong ngôi nhà của họ ở 48 Hàng Ngang.

Khuôn viên biệt thự 3.000 m2 ngay phố yên tĩnh với hàng cây cổ thụ - vào loại “Phố Tây nhà giàu đẹp nhất Hà Nội“ cho dù bây giờ chả thiếu kiến trúc tân kỳ- đẹp đến nỗi vào dịp lễ tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một số báo nước ngoài vào đưa tin đã kết hợp viết luôn về ngôi nhà “bà Bô” ở bên cạnh nhà Đại tướng.

Dạo ấy vừa bước vào cổng nhà bà Bô là tôi nhớ ngay hồi chiến tranh chống Mỹ- lúc tôi đang học đại học từ nơi sơ tán về đã đi cùng nhà thơ Phạm Tiến Duật qua phố này. Phạm Tiến Duật lúc ấy mới nổi, chưa thành “Con chim lửa của Trường sơn huyền thoại“, “cây săng lẻ của rừng già” và “nhà thơ lớn nhất thời chống Mỹ“ như sau này người ta dùng để gọi anh.

Hôm đó anh dắt xe đạp và tôi đi bộ bên cạnh, anh đọc cho nghe bài “Lửa đèn“ và phàn nàn có tờ báo không dùng. Anh đọc đầy cảm hứng “trái nhót như ngọn đèn tín hiệu - trỏ lối sang mùa hè“ ý tứ thật lạ lẫm mới mẻ những năm 1967- “quả ớt như ngọn lửa đèn dầu – chạm đầu lưỡi chạm vào sức nóng…”

Đang đọc thơ thì phố xá tắt phụt đèn, còi báo động kéo hồi dài, chúng tôi dừng lại dưới ánh trăng thật sáng, bên cạnh cái hầm cá nhân trên vỉa hè gần chếch cổng nhà bà Bô. Ngày ấy phố nào cũng đầy hầm cá nhân có cái nắp tròn cho người đi đường có thể nhảy xuống khi máy bay oanh tạc hoặc thả bom bi sát thương.

Sau này tôi xa Hà Nội, chỉ nghe tin báo đăng Phạm Tiến Duật bệnh nặng và em trai tôi, PGS-TS Nguyễn Quốc Bình du học Hungary về giảng dạy ở Đại học Quân sự - dù là dân kỹ thuật, dù không quen biết đã vào bệnh viện với tư cách người lính yêu thơ Phạm Tiến Duật – đã đứng bên giường bệnh của nhà thơ những ngày cuối cùng.

Tôi cũng đã phỏng vấn cây guitar Văn Vượng nổi tiếng soạn và biểu diễn những bản nhạc Hà Nội bất hủ - để tò mò xem anh đã “nhìn thấy“ Hà Nội đẹp theo cách nào của một nhạc sỹ mù.

Anh kể đã xuống sờ vào mép nước hồ Gươm, ngồi lắng nghe và dùng kỹ thuật bồi âm diễn tả tiếng chuông đền Ngọc Sơn buổi sớm. Anh cũng chưa từng đến sông Lô nhưng đã chơi bản “Trường ca sông Lô” cho chính Văn Cao nghe và được ông nhận xét: ”tôi không ngờ bài viết cho hợp xướng 4 chương mà biểu diễn được trên đàn Guitare 6 dây đầy đủ đến thế “.

Vậy là ta “cảm được“ nơi ta có thể không nhìn thấy.

Tôi là “người Saigon sau 1975 “, yêu thành phố này tha thiết - tôi có thể “cảm”  được những gì của quá khứ của nó hay không? Có biết mình đi trên đường phố nào còn vang bước chân xuống đường, phố nào có ký giả đi ăn mày, phố nào không giống Phố Phái nhưng đầy kỷ niệm học trò con đường có lá me bay….?

Người con gái vị tướng của Saigon -Việt Nam Cộng Hòa đang ở Mỹ nói chuyện gì với anh họa sỹ con trai tôi về ngôi nhà ở Quận 5 mà họ luôn thương nhớ, nơi họ gửi tuổi thơ hai thời khắc khác nhau? Tôi ước mong giá mà tôi hỏi được…

Google map có thể kể hết cho tôi không? Tôi không chắc.

Cũng giống như mỗi mùa Thu Tháng Tám đến, tôi ước gì có ai đang ở Ninh Giang- Hải Dương- trên giấy tờ là “nơi sinh” của tôi- kể cho tôi biết giờ đây ở đó thế nào, có còn dấu vết gì không?

Nơi ấy khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, lúc đó cha tôi làm Y tá và mẹ là Giáo viên- “công chức thời Tây“ đã bỏ hết nhà cửa theo kháng chiến. Chúng tôi còn nhỏ, được người ta “cho ngồi vào thúng“ gánh đi tản cư nên không thể nhớ - Chỉ nghe kể lại mẹ tôi là người đã tự tay châm lửa đốt chính ngôi nhà của mình để thực hiện “tiêu thổ kháng chiến“ ngăn bước quân thù.

Chúng tôi hay khoe quê rất xịn: Bà ngoại tôi - người con gái đảo Vân Đồn nên quê ngoại tôi ở Vịnh Hạ Long và bố tôi quê có làng cổ Sơn Tây. Chồng tôi thì cười tủm tỉm: “Quê tôi hả? Thường thôi!... Quê Bạc”.(Quê Bác)

Chúng tôi đang già đi ở Saigon và lũ trẻ nay lại đi tận những phương trời xa hơn.

Nhưng tâm hồn chúng ta luôn ở đó - dù bây giờ nó đã khác xưa và bao người khác lại đến sống, làm nên hành trình mới mà ta gọi là Lịch sử, dù trải những gì thì cuối cùng là tình yêu quê hương đất nước.

Dù đã có Google Map - hay là VR- vũ trụ ảo Metaverse – tôi vẫn luôn muốn hỏi thăm: Ai về nơi ấy cho tôi biết?

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hà Vi Tùng, vị tướng mưu lược…
Kỷ niệm 81 năm thành lập QĐND Việt Nam, 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân
Xem thêm
Pha Long nơi biên cương Tổ Quốc
“Pha Long nơi biên cương Tổ quốc” không chỉ là câu chuyện tìm mộ liệt sĩ, mà là một hành trình nhân văn về ký ức chiến tranh, tình ruột thịt và sự hóa thân thầm lặng của người lính vào từng tấc đất biên cương. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài ký của nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh
Xem thêm
Phú Yên nghĩa tình và khát vọng hồi sinh - Ký của Nguyên Hùng
Bài đăng báo Văn nghệ số 50, ra ngày 13/12/2025
Xem thêm
Lời thì thầm của biển – Tản văn của Như Nguyệt
Còn bạn thì sao? Bạn nghe điều gì từ lòng biển? Tôi tin dù bạn nghe được điều gì, hãy giữ lấy niềm tin ấy thật chặt, bởi vì mọi “lời thì thầm” đều có sức mạnh của riêng nó.
Xem thêm
Diễn viên Thương Tín đã về cõi lặng
Thông tin từ chị Bùi Kim Chi (vợ Thương Tín) cho biết, Thương Tín đã qua đời vào khuya nay tại nhà riêng Phủ Hoà, Phan Rang.
Xem thêm
Ký ức về bố – Bút ký Vũ Mạnh Định
Pleiku những ngày này mưa dầm dề do ảnh hưởng bão. Mưa trắng xóa cả bầu trời, gió hun hút qua hàng cây phủ kín cả phố núi. Tiếng mưa khiến lòng tôi chùng xuống, ký ức bất chợt ùa về. Mưa như tấm màn xám phủ trùm đất trời, có khi kéo dài cả tháng không dứt. Ngày ấy tôi còn quá nhỏ để hiểu nỗi buồn của những cơn mưa, chỉ nhớ nó dai dẳng đến mức sáng hay chiều cũng nhập nhòe một màu xám đục. Nhưng chính sự dầm dề ấy lại trở thành lát cắt đặc biệt của tuổi thơ, để sau này, mỗi lần nghe mưa nơi khác, tôi ngỡ như vừa chạm vào những ngày Pleiku xưa cũ, ngày mưa dài đến mức thời gian như ngưng đọng.
Xem thêm
Một Việt Nam nhân hậu giữa bão lũ và nước mắt
Giữa màn đêm bị xé toang bởi gió, nước và tiếng kêu cứu, người ta lại nhìn thấy những điều kỳ diệu khác: tình người, sự hy sinh, lòng nhân hậu – những phẩm chất làm nên cốt cách vĩ đại của dân Việt.
Xem thêm
Hai vị đại tướng Nam Bộ qua bút ký của nhà văn Trần Thế Tuyển
Lịch sử QĐND VN có nhiều vị tướng huyền thoại. Trên mảnh đất Phương Nam - Nam Bộ cũng có những vị tướng như thế. Đặc điểm chung của các vị tướng Nam Bộ là sống hết mình: Hết mình vì đất nước, nhân dân; hết mình về đồng đội, bạn bè; sống chân thật, thuỷ chung …mà người đời thường gọi là “Ông Già Nam Bộ”.
Xem thêm
Sương rơi trên lá non - Tản văn Hồng Loan
Có những đoạn đời, ta đi qua như kẻ mộng du giữa những vết xước của chính mình. Mỗi ngày trôi, ta tưởng mình vẫn sống, nhưng kỳ thực chỉ là đang lặp lại những hơi thở cũ, nhạt nhòa và vô nghĩa. Tổn thương không chỉ làm ta đau, nó khiến ta lãng quên, quên mất rằng mình từng có một tâm hồn trong trẻo, từng biết rung động trước điều nhỏ bé nhất trong đời.
Xem thêm
Người gieo hạt yêu thương – Tản văn Chu Thị Phương Thảo
Nhắc đến quãng đời học trò, tôi không thể quên hình ảnh cô giáo Trương Hoàng Oanh – người đã dìu dắt tôi suốt những năm cấp hai. Với tôi, cô không chỉ là một người thầy, mà còn là người mẹ thứ hai, người để lại trong lòng tôi những ký ức không thể phai mờ. Cho đến hôm nay, mỗi khi nhắm mắt lại, tôi vẫn thấy rõ ánh mắt hiền từ của cô, vẫn nghe giọng nói trầm ấm khi cô gọi tôi bằng cái tên thân thương: “Nhím” – cái tên gắn bó với tôi như một phần ký ức ngọt ngào của tuổi học trò.
Xem thêm
Những người con đất Quảng - Bút ký Phùng Chí Cường
Ngày 20 tháng 7 năm 1954 hiệp định Giơnevơ được ký kết, chấm dứt gần 100 năm người Pháp đặt ách đô hộ lên đất nước ta. Nhưng ngay sau khi chữ ký chưa ráo mực, thì đế quốc Mỹ đã nhảy vào miền Nam hất cẳng Pháp, đưa con bài Ngô Đình Diệm về Sài Gòn để lập ra chính quyền bù nhìn thân Mỹ, chúng rắp tâm chia cắt lâu dài đất nước ta. Năm đó, nhiều cán bộ miền Nam đã ra Bắc tập kết, để lại quê nhà, gia đình vợ con và những người thân, rồi họ cùng nhau mòn mỏi trông chờ ngày đoàn tụ. Tới ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, hai miền Nam - Bắc mới được sum họp một nhà. Vậy trong hơn 20 năm xa cách ấy những người ở lại miền Nam, dưới sự đàn áp điên cuồng của đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai, họ đã phải sống ra sao? Chúng ta hãy đi tìm câu trả lời:
Xem thêm
Từ dòng Lam đến Vàm Cỏ Đông
Một đêm diễn đặc biệt tại Nhà Văn hóa Thanh niên, với tên gọi “Giai điệu từ những vần thơ”, trong chuỗi chương trình “Những ngày Văn học Nghệ thuật TP.HCM”...
Xem thêm
Nha Trang – Viên ngọc xanh, từ hoài niệm đến khát vọng – Bút ký Nguyễn Phú Thành
Thành phố Nha Trang, thuộc tỉnh Khánh Hoà được mệnh danh là “Viên Ngọc Xanh” của bờ biển Đông, không chỉ là điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích biển đảo mà còn là nơi lưu giữ những hoài niệm và khát vọng của xứ sở. Đồng thời, Nha Trang cũng hội tụ vẻ đẹp của lịch sử văn hóa và, du lịch biển làm nên vẻ đẹp hiếm có làm say đắm lòng người.
Xem thêm
Ở nơi tận cùng con nước – Bút ký Hồng Sương
Nắng tắt bên sông Long Xuyên, vỡ thành từng mảnh nhỏ trong làn hơi nước mỏng tang. Thành phố vào giờ tan tầm, người xe chen nhau, nhưng trong nhịp hối hả ấy, có điều gì thật đỗi dịu dàng, thân quen. Tôi ngồi bên bờ hồ, tay cầm ly nước, ngắm nhìn đám lục bình trôi trên mặt nước xiết. Xa xa, những chiếc ghe đánh cá lặng lẽ như những kiếp người trôi giữa dòng đời, bền bỉ đi tìm cái sống trong mênh mang nước bạc.
Xem thêm
“Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình” – Phần 2
Đây không chỉ là cuộc hành trình theo dòng lịch sử, mà còn là cuộc trở về trong tâm tưởng – nơi mỗi bước chân đều in dấu biết ơn, tự hào và khát vọng được góp phần làm đẹp thêm dáng hình Tổ quốc.
Xem thêm
Không còn bao lâu nữa!
Tùy bút của Trần Đôn
Xem thêm
Tuổi thơ, mùa bão lụt và quê hương thương khó
Câu chuyện của hai nhà giáo Phạm Phú Phong (Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Khoa học - ĐH Huế) và Huỳnh Như Phương (Khoa Văn học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP. HCM)
Xem thêm