TIN TỨC

Ai về nơi ấy cho tôi biết…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-03-25 11:15:24
mail facebook google pos stwis
1584 lượt xem

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

Có khi nào dọn đến ngôi nhà, ta tự hỏi: Ai đã sống nơi này trước khi ta đến?

Có đấy. Khi tôi một mình ôm đứa con 6 tuổi vào thành “người Saigon” chưa có nhà cửa, ở nhờ nhà chị gái- đúng ngôi nhà tại Quận 5 của một vị tướng nổi tiếng của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trước đây.

Nhà của Tướng lớn nên có cả trụ xây cao cho máy bay trực thăng có thể đậu xuống, và quá lớn nên đã chia cho mấy chủ mới ở hết. Giống như một khu nhà tập thể.

Đứa con 6 tuổi của tôi ấy nay đã thành một họa sỹ đang làm việc tại Mỹ và thật tình cờ, anh đã liên hệ được với người con của vị Tướng đã rời Saigon năm 1975. Họ trò chuyện với nhau về ngôi nhà họ đã từng sống qua các thời khác nhau, từ cái sân và mảnh vườn nhỏ sau hiên nhà có bức tường đá dựng đứng- nay thành cửa hàng sầm uất. Mỗi khi về nước, anh họa sỹ không quên ghé xuống Quận 5 chụp hình để sang Mỹ có thông tin mới kể cho người con vị Tướng (Tiếc rằng chưa xin phép bà nhà văn ấy – chứ nếu nói tên vị tướng ra thì cả nước đều biết dấu ấn lịch sử chiến tranh và câu chuyện sẽ thú vị nhường nào.

Cho dù Thành phố sẽ hiện đại và mở rộng đến đâu, con người có rời đi dịch chuyển, thì ngôi nhà và đường phố vẫn đẫm hồn của năm tháng ta đã mang.

Bây giờ có Google Map- tôi ngồi ở Saigon có thể xem định vị được ngôi nhà của người thân sống xa quê khắp các quốc gia. Người ta làm cả youtub cho người đi xa có thể biết quê mình nay ra sao. Trong những ngày phong tỏa cứng vì dịch Covid, tôi không chỉ xem cách nấu nướng món ăn của Trường Giang “muốn ăn thì lăn vào bếp “hay cô Lý Tử Thất có khu vườn như rừng tự trồng rau củ, chế biến món ăn. Cả nhà tranh nhau nhận vai “việc nhẹ lương cao” xuất hiện cuối chỉ việc… ăn. Ngồi bên hiên nhà giữa đồi gió mát, có con chó xù to tướng nằm dưới bàn.

Tôi cũng thử gõ “Phố Cát dài hôm nay” xem sao và ngạc nhiên nhớ ra mình vụng về nhát cáy mà thời thanh xuân từng có giải bắn súng cùng đội tự vệ công nhân nhà máy đóng tàu Bạch Đằng Hải Phòng.

Ngày ấy vào năm 1966 khi đeo súng đi đến gần lối rẽ lên cầu hạ Lý, trong tiếng còi báo động và tiếng máy bay Mỹ ùng ục bay qua trên bầu trời, tất cả phố bỗng nghe tiếng Bác Hồ vang trên loa phát thanh: “…Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10, 20 năm hay lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp bị tàn phá song nhân nhân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn Độc lập Tự do….”

Trong gian truân đằng đẵng ấy- lòng người lo âu sống đời gian khổ bom đạn, vẫn phải cố gắng hơn nữa vì lời thề dân tộc. Mỹ đã mở rộng chiến tranh không quân hải quân đánh phá miền Bắc, tuyên bố đưa miền Bắc “trở về thời kỳ đồ đá”. Sau này qua tổng kết mới biết ngày ấy Mỹ đã bỏ 15 triệu tấn bom, miền Bắc bình quân đầu người chịu 45,5 kg và một km2 chịu 6 tấn bom đạn.

Tôi cũng không thể biết sau này mình còn có dịp khi đã trở thành nhà báo, được đi ra sân bay “tiễn chân“ các tù binh Phi công Mỹ được trao trả về nước. Mỗi anh mặc bộ đồ màu ghi xám, tay một chiếc túi du lịch và lạ nữa là thêm… một cái nón lá Việt Nam. Nhìn các anh ấy cao to thật lạ, khác hẳn anh mà ta thấy lúc nhảy dù xuống hồ Trúc Bạch bơi lóp ngóp bị dân quân vây bắt, hay có lần chính tôi sấp ngửa nhảy khỏi tàu điện để chạy theo đám đông reo hò xem “tù binh phi công Mỹ“. Họ được dẫn giải đi phố Bờ Hồ trong tiếng mắng mỏ căm giận của dân chúng và các anh bộ đội đang cố ngăn những người quá căm thù muốn nhảy vào bạt tai. Nhà của họ vừa sập vì bom Mỹ, bà con anh em họ vừa bị vùi chết dưới bom.

Đó là lúc tàu điện vừa đỗ ở gần Tháp Hòa Phong nơi chúng tôi vẫn chờ để “nhảy tàu“ đi đường Bưởi- Chợ Hôm. Nay thì không còn tàu điện nữa trên phố xá Thủ Đô.

Cũng ở cái bến tàu này vào năm 1969 - đoàn tàu đang chạy bỗng dừng lại làm mọi người nhìn nhau tưởng… mất điện nhưng rồi chợt hiểu: Trên loa đang vang tiếng đồng chí Lê Duẩn: “Nhân dân ta, Tổ quốc ta mất đi người con...”- thì vội đứng nghiêm trang vì biết đang truyền thanh tường thuật điếu văn đưa tang Bác Hồ ở Quảng trường Ba Đình.

Có lần tôi từ Saigon ra viết bài nhân kỷ niệm ngàn năm Thăng Long, lùng sục phỏng vấn các kiến trúc sư về hình hài Hà Nội mở rộng, gặp các nghệ sỹ đang khôi phục chương trình nghệ thuật, biểu diễn hát xẩm ở phố Cổ và chợ Đồng Xuân. Hà Nội với tôi vẫn lạ lẫm vì phố xá phát triển, mở rộng các tuyến đường lớn.

Tôi không có thời gian tìm lại ngôi biệt thự Pháp cổ nơi mẹ tôi thuê cho gia đình ở, và ngày 10-10-1954 khi tôi lên 10 – sáng đó dậy sớm, mặc đồ đẹp để đi ra “5 cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về… như đài hoa đón mừng nở 5 cánh đào chảy dòng sương sớm long lanh”.

Nhất là trong đoàn “trùng trùng quân đi như sóng“ ấy có bố tôi - anh bộ đội Cụ Hồ ra đi lâu lắm từ Cách mạng tháng Tám nên chúng tôi không còn nhớ mặt, nay sắp đoàn tụ gặp lại vợ con.

Những biệt thự Pháp cổ vẫn cổ xưa bên cạnh bao công trình mới nguy nga. Đã có lần tôi vào ngôi biệt thự to đẹp ở 34 Hoàng Diệu để phỏng vấn cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ đã ngoài 90 tuổi - vợ nhà tư sản Trịnh Văn Bô - người đã tặng hiến cho nhà nước Cách mạng non trẻ 5.000 cây vàng. Gia đình họ cũng đón đoàn lãnh đạo và Bác Hồ về chuẩn bị Lễ 2-9-1945 và Bác Hồ đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập trong ngôi nhà của họ ở 48 Hàng Ngang.

Khuôn viên biệt thự 3.000 m2 ngay phố yên tĩnh với hàng cây cổ thụ - vào loại “Phố Tây nhà giàu đẹp nhất Hà Nội“ cho dù bây giờ chả thiếu kiến trúc tân kỳ- đẹp đến nỗi vào dịp lễ tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một số báo nước ngoài vào đưa tin đã kết hợp viết luôn về ngôi nhà “bà Bô” ở bên cạnh nhà Đại tướng.

Dạo ấy vừa bước vào cổng nhà bà Bô là tôi nhớ ngay hồi chiến tranh chống Mỹ- lúc tôi đang học đại học từ nơi sơ tán về đã đi cùng nhà thơ Phạm Tiến Duật qua phố này. Phạm Tiến Duật lúc ấy mới nổi, chưa thành “Con chim lửa của Trường sơn huyền thoại“, “cây săng lẻ của rừng già” và “nhà thơ lớn nhất thời chống Mỹ“ như sau này người ta dùng để gọi anh.

Hôm đó anh dắt xe đạp và tôi đi bộ bên cạnh, anh đọc cho nghe bài “Lửa đèn“ và phàn nàn có tờ báo không dùng. Anh đọc đầy cảm hứng “trái nhót như ngọn đèn tín hiệu - trỏ lối sang mùa hè“ ý tứ thật lạ lẫm mới mẻ những năm 1967- “quả ớt như ngọn lửa đèn dầu – chạm đầu lưỡi chạm vào sức nóng…”

Đang đọc thơ thì phố xá tắt phụt đèn, còi báo động kéo hồi dài, chúng tôi dừng lại dưới ánh trăng thật sáng, bên cạnh cái hầm cá nhân trên vỉa hè gần chếch cổng nhà bà Bô. Ngày ấy phố nào cũng đầy hầm cá nhân có cái nắp tròn cho người đi đường có thể nhảy xuống khi máy bay oanh tạc hoặc thả bom bi sát thương.

Sau này tôi xa Hà Nội, chỉ nghe tin báo đăng Phạm Tiến Duật bệnh nặng và em trai tôi, PGS-TS Nguyễn Quốc Bình du học Hungary về giảng dạy ở Đại học Quân sự - dù là dân kỹ thuật, dù không quen biết đã vào bệnh viện với tư cách người lính yêu thơ Phạm Tiến Duật – đã đứng bên giường bệnh của nhà thơ những ngày cuối cùng.

Tôi cũng đã phỏng vấn cây guitar Văn Vượng nổi tiếng soạn và biểu diễn những bản nhạc Hà Nội bất hủ - để tò mò xem anh đã “nhìn thấy“ Hà Nội đẹp theo cách nào của một nhạc sỹ mù.

Anh kể đã xuống sờ vào mép nước hồ Gươm, ngồi lắng nghe và dùng kỹ thuật bồi âm diễn tả tiếng chuông đền Ngọc Sơn buổi sớm. Anh cũng chưa từng đến sông Lô nhưng đã chơi bản “Trường ca sông Lô” cho chính Văn Cao nghe và được ông nhận xét: ”tôi không ngờ bài viết cho hợp xướng 4 chương mà biểu diễn được trên đàn Guitare 6 dây đầy đủ đến thế “.

Vậy là ta “cảm được“ nơi ta có thể không nhìn thấy.

Tôi là “người Saigon sau 1975 “, yêu thành phố này tha thiết - tôi có thể “cảm”  được những gì của quá khứ của nó hay không? Có biết mình đi trên đường phố nào còn vang bước chân xuống đường, phố nào có ký giả đi ăn mày, phố nào không giống Phố Phái nhưng đầy kỷ niệm học trò con đường có lá me bay….?

Người con gái vị tướng của Saigon -Việt Nam Cộng Hòa đang ở Mỹ nói chuyện gì với anh họa sỹ con trai tôi về ngôi nhà ở Quận 5 mà họ luôn thương nhớ, nơi họ gửi tuổi thơ hai thời khắc khác nhau? Tôi ước mong giá mà tôi hỏi được…

Google map có thể kể hết cho tôi không? Tôi không chắc.

Cũng giống như mỗi mùa Thu Tháng Tám đến, tôi ước gì có ai đang ở Ninh Giang- Hải Dương- trên giấy tờ là “nơi sinh” của tôi- kể cho tôi biết giờ đây ở đó thế nào, có còn dấu vết gì không?

Nơi ấy khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, lúc đó cha tôi làm Y tá và mẹ là Giáo viên- “công chức thời Tây“ đã bỏ hết nhà cửa theo kháng chiến. Chúng tôi còn nhỏ, được người ta “cho ngồi vào thúng“ gánh đi tản cư nên không thể nhớ - Chỉ nghe kể lại mẹ tôi là người đã tự tay châm lửa đốt chính ngôi nhà của mình để thực hiện “tiêu thổ kháng chiến“ ngăn bước quân thù.

Chúng tôi hay khoe quê rất xịn: Bà ngoại tôi - người con gái đảo Vân Đồn nên quê ngoại tôi ở Vịnh Hạ Long và bố tôi quê có làng cổ Sơn Tây. Chồng tôi thì cười tủm tỉm: “Quê tôi hả? Thường thôi!... Quê Bạc”.(Quê Bác)

Chúng tôi đang già đi ở Saigon và lũ trẻ nay lại đi tận những phương trời xa hơn.

Nhưng tâm hồn chúng ta luôn ở đó - dù bây giờ nó đã khác xưa và bao người khác lại đến sống, làm nên hành trình mới mà ta gọi là Lịch sử, dù trải những gì thì cuối cùng là tình yêu quê hương đất nước.

Dù đã có Google Map - hay là VR- vũ trụ ảo Metaverse – tôi vẫn luôn muốn hỏi thăm: Ai về nơi ấy cho tôi biết?

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm