TIN TỨC

Tạ Ký, nỗi buồn ở lại

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-23 11:17:05
mail facebook google pos stwis
2850 lượt xem

HUỲNH VĂN HOA

Thủ bút của Tạ Ký

 

1. Tạ Ký sinh năm 1928 (Mậu Thìn) tại làng Trung Phước, huyện Quế Sơn (nay là huyện Nông Sơn), tỉnh Quảng Nam.  Làng Trung Phước nằm trên hữu ngạn con sông Thu Bồn, là một vùng có nhiểu núi non, từ đây càng tiến về phía tây thì càng đi vào vùng rừng núi cao.  Phong cảnh vùng này hữu tình, đồi núi quê ông là nơi Bùi Giáng đã đi chăn dê, hai chàng thi sĩ đất Quảng xuất thân cùng một làng, thậm chí nhà ở cùng một xóm với nhau.

Tạ Ký làm thơ tử thuở còn học tiểu học cho mãi đến những năm cuối của đời mình. Cuộc đời Tạ Ký gắn liền với thơ, cũng như với việc dạy học. Năm 1970, Tạ Ký xuất bản tập thơ Su Li, đã đoạt giải thơ của VNCH, tập thơ thứ nhì Cô Đơn Còn Mãi ra đời năm 1973. 

Cuối năm 1978, Tạ Ký từ Sài Gòn đi về sống ở An Giang và đã qua đời trong cô độc tại đây vào tháng Ba năm 1979. 

Sau khi qua đời, an táng tại An Giang, sau đó thân hữu và gia đình cải táng, đưa về Nghĩa trang Gò Dưa, Thủ Đức, vào đúng ngày Thanh Minh, năm Tân Tỵ (ngày 5 tháng 4 năm 2001), nằm gần phần mộ Bùi Giáng, nhà thơ cùng quê, cùng thời, người mà từ thưở thiếu thời từng có những ngày cùng chăn dê nơi núi rừng Trung Phước, Trung Lộc, Cà Tang,...

Tạ Ký tin và yêu cuộc đời, bao giờ cũng nghĩ những điều tốt đẹp đối với người thân, bạn bè. Thơ ông bàng bạc thứ ngôn ngữ của tình yêu. Có cảm tưởng, trong thơ, tiếng nói chân thành, hồn hậu lẫn khuất tâm sự ẩn trong từng bài thơ. Con người ấy bao giờ cũng trung thực với người và với mình.

Trong đời, Tạ Ký có những ngày tháng hết sức buồn bã, nhất là vào những năm tháng cuối đời. Khi in Sầu ở lại, lấy ý từ một câu thơ của Huy Cận trong bài Bi ca: "Tình đi mau, sầu ở lại lâu dài". Tập thơ như dự cảm một phía  trước gập ghềnh, bi thương, cay đắng. Chút tình chẳng ở lại lâu, đi mau quá ! Nỗi buồn ở lại, vương vấn trên những vần thơ sầu thương.

Cao Thế Dung nhận định về thơ Tạ Ký: Tạ Ký hiện diện như một nhà thơ của đau xót, trữ tình... Tạ Ký đứng riêng rẻ. Con đường ông đi cũng âm thầm như tiếng thơ ông song vẫn là sự lan rộng trong cái âm thầm yêu dấu của Quê Hương. Thơ ông đặc biệt Việt Nam (Văn học hiện đại, Thi ca và thi nhân, NXB Quần Chúng, Sài Gòn, 1969, trang 107, 108).

1. Tạ Ký và tâm tình quê hương

Thơ Tạ Ký trong giai đoạn đầu vào những năm cuối 40 đầu những năm 50, một thế hệ lớn lên từ sau 1945, mang tâm tình đất nước. Trên Giai phẩm Quảng Đà, 1972, bài thơ Gánh gạo qua đèo trong trẻo, đượm tình xứ sở. Những địa danh quen thuộc của Quế Sơn, Thăng Bình, Hòa Vang, những hình ảnh đèo cao, đá dựng, đêm dày ngủ núi, ánh lửa chập chờn, lũy tre xanh, trăng sáng ngập trời:

Trăng sáng đèo Le

Mây che Giảm Thọ

Dầu cho mưa gió

Không bỏ được đèo

Đường thì đá dựng cheo leo

Tình anh cả gánh anh trèo núi non

Thương nhau mấy dép cũng mòn

Nhớ nhau thức những đêm tròn gánh đi

 ... Gạo đi, nuôi chí căm hờn

Chừ đây gánh gạo quý hơn gánh vàng

Núi rừng che khuất Hòa Vang

Nơi nao  Phú Tứ xóm làng vắng hiu

Dừng chân mở gói cơm thiu

Uống sơ nước suối, sợ chiều đổ nhanh

Anh ở Quế Sơn

Anh ở Thăng Bình ...

Mỗi lần trong lệnh trong làng

Anh đi gánh gạo quên đàng xa xôi

Đêm nay trăng sáng ngập trời

Qua đèo gió lạnh quen hơi núi rừng.

Cũng như Tường Linh, Tạ Ký yêu làng quê Trung Phước với tình cảm sâu nặng. Những tên đất, tên làng, tên sông, tên núi đầy thương nhớ đi vào thơ:

Trung Phướơi, sông sâu dài un khúc,

Tình cheo leo cao vút mt con đèo, 

Núi Chèo Bo vươn mình trong khói đc,

Hòn Cà Tang thương nh vng tình theo...

       (Trung Phước ơi)

Tạ Ký có những dòng thơ cảm động viết về mẹ, về quê hương. Hình ảnh người mẹ ở chốn quê, sống với lúa vàng, cau xanh, bao đêm thương nhớ con, có em Ngọc hàng xóm, sắp lấy chồng có sang chơi ? Cha vẫn ngâm nga khúc viễn hành ? Thương nhất những câu thơ chân chất, dân dã: 

Thu y cm tay m dn dò: 

Ph phường không phi d chi mô! 

Và đôi mt m rưng rưng l

Đôi mt bây gi chc héo khô! 
 

Thân nghèo nhiều lúc không vui lắm,

Nhưng chng bao gi con ước mong 

Mt cuc đi như thiên h ước, 

Bi vì còn chuyn đc hay trong. 
 

Nói mãi ri ra cũng thế thôi, 

Núi sông cách tr my năm ri, 

Con mong nếu bt thư này đượ

Thì m cho con biết ít li.

         (Thư gửi mẹ)

Xa quê, xuân về, lại nhớ mẹ, "đầu xuân con biết mẹ đang buồn". Chiến tranh, quê nghèo, nơi đó: Ra đi t do mùa cam chín / Đã my mùa cam con cha v /  Tóc m hoa râm, nay bc trng / Vô tình trước ngõ trng hoa lê /  Có nhng đêm bun con phát khóc,  / Nh xưa tết đến dy mai vàng / Tha hương thân bé còn lăn lóc /  Mi đ xuân v mi d dang / Quê nhà hoang vng ra sao m(Bức thư đầu xuân).

Cảnh giao thừa giữa phố phường đông đúc, một kẻ không nhà, xa xôi mòn gót nơi đất khách quê người, cảm thương thân phận: 

Thẩn thơ đón lạnh giữa đường

Núi xa trùng điệp, cố hương khuất rồi! 

                (Giao thừa giữa phố)

2. Tạ Ký, giai điệu trầm lắng

Dần về sau, Tạ Ký chọn hướng đi riêng, vừa mang tâm hồn phương Đông vừa thao thức những nỗi niềm thế sự. Các cung bậc tình yêu phả lên hồn thơ Tạ Ký những giai điệu trầm lắng.

Tạ Ký, cảm khái cuộc đời của những nhân vật trong Truyện Kiều: Thúy Kiều, Thúy Vân, Từ Hải.

Với Kiều, người con gái tài hoa bạc mệnh, có nhan sắc và tài năng hơn người nhưng phải chịu một cuộc đời truân chuyên, chìm nổi suốt mười lăm năm trường. Kiều là hiện thực của nỗi đau khổ khôn cùng của con người trong xã hội phong kiến. Số phận nghiệt ngã, đầy bi kịch, bất hạnh nối tiếp bất hạnh. Hạnh phúc ngỡ như đến với nàng, rồi vuột khỏi tầm tay.

Như bao thi sĩ khác, Tạ Ký đồng cảm với thân phận nàng Kiều qua bài thơ Đon trường gi li. Mười sáu câu thơ đẫm đầy nước mắt, gợi lại những năm tháng buồn bã của đời Kiều:

Bước chân nào nng phù du, 

Ngón tay nào tht su tư trói hn. 

Cô đơn ri vn cô đơn, 

Bn mươi thu đó đòi cơn đon trường.
 

Sông xa bãi cát vàng hanh,

Đìu hiu bến vng, mong manh sương chiu. 

Mười lăm năm gic mng vèo, 

Bn dây nh máu xuôi theo Tin Đường.
 

 T em ln la lu xanh, 

Cuc say đy tháng, tàn canh, vn tha.

Ch đây bên cnh người xưa, 

Na đêm tái ng nghe mưa cui tri.
 

Mà thôi, đàn kiếm giang h

Tr v cát bi, cơ đ ng nghiêng.

Say đến khóc, cười như điên, 

Ngàn xưa đng li mt thiên não người! 

Cái hay của bài thơ là những hình ảnh về cô đơn, là tiếng đàn rỏ máu, là dòng nước Tiền Đường, là thân trói lầu xanh, là cuộc say đầy tháng, là đêm mưa cuối trời khi gặp lại người xưa, là Từ Hải với đàn kiếm giang hồ, khóc cười điên đảo, cuối cùng, vẫn chỉ "một thiên bạc mệnh lại càng não nhân".

 Tạ Ký đồng cảm với đời Kiều, cũng say, cũng khóc. Tạ Ký - một cuộc đời cũng mong manh sương chiều, đìu hiu nơi bến vắng: Bn mươi thu đó đòi cơn đon trường. 

Với nhân vật Thúy Vân, Tạ Ký không đi về phía vẻ đẹp quý phái, hài hòa với thiên nhiên, "mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da". Ông nghiêng về những dòng đời bất hạnh của Thúy Vân. Chỉ bốn câu, ba dấu hỏi (ấy chi ? / làm gì ? ai ?), tạc dựng chân dung nàng:

Còn em chén cúc tàng tàng,

Cuc vui nói tiếng đon tràng y chi ? 

Thưa rng: cũng chng làm gì ? 

Ai mê dáng ch mà vì duyên em? 

     (Thúy Vân)

Những câu thơ cũng dự báo một cuộc sống không bằng phẳng, chẳng bình yên, thiếu hạnh phúc của Thúy Vân.

Còn đây là Từ Hải, nhân vật mà Nguyễn Du gọi "anh hào", "đại vương", "anh hung", "đấng anh hùng" và gửi gắm bao tình cảm vào con người dọc ngang, khí phách, ngang tàng, khẳng khái, nghĩa khí, đậm chất nghệ sĩ, khiến ta yêu, ta quý, đúng như nhà thơ viết:

Nghe rng dy la đao binh,

Đon trường ngay thu thân nghênh ca ngoài.

Mt trăng lơ lng non đoài, 

Mà hn lơ lng vi loài tho hoa

            (Từ Hải)

Thêm một lần Tạ Ký làm ta yêu hơn Từ Hải, một biểu tượng của ước mơ và hạnh phúc, của tự do và công lý, của mảnh trăng treo lơ lửng nơi non đoài, sáng một góc trời, cùng sánh với thảo hoa đầy hương sắc.

Có khi, ngẫm thân thế: Bể Nam chim chẳng theo chiều gió / Nhịp sóng trùng dương vẫn thở than, Tạ Ký nhớ Nguyễn Du: Bất tri tam bách… ngàn năm nữa  / Tiếng thở than còn nguyên thở than! / Một bước chân người qua trước cửa, / Rồi xa, xa mãi chẳng dư vang (Một mình). Có quá nhiều "tiếng thở than" trong một bài thơ ngắn. Lại có khi nhìn mình qua thân phận Kiều:

Mười lăm năm: một Kiều nhi, 
Ba mươi năm hỏi làm chi bây giờ? 
Tâm tình: lỗi một đường tơ, 
Thế tình: loạn giữa hai bờ lợi danh, 
Nhân tình: khi rách, khi lành, 
Thì trang tình sử lại đành dở dang. 

     (Thì trang tình sử…)

Cả tâm tình và nhân tình đều lỗi đường tơ, đều đành dang dở. Tạ Ký đồng cảm với Kiều, với Nguyễn Du, trải lòng qua từng trang tình sử.
 

3. Tạ Ký, nghĩa tình bằng hữu

Tạ Ký có nhiều bài thơ tặng bạn bè như tặng Cao Thế Dung (Dâng, Ngõ lạc), Thế Viên (Viết trang tình sử), Phạm Công Thiện (Anh cho em mùa xuân), Bùi Giáng (Dáng xưa), Cam Duy Lễ (Đếm sao), Huy Trâm (Bài thơ cuối mùa), Tôn Thất Trung Nghĩa (Buồn như, Em chỉ trả lời), Tạ Hồng Nguyện (Thư gửi mẹ), Hoài Khanh (Giao thừa giữa phố), Nguyễn Liệu (Thế hệ bốn lăm), Lê Sử (Lại một bài thơ tâm tình), Phổ Đức (Hẹn một ngày mai), Trương Đình Ngữ (Xuân về thương nhớ với ai đây?, ...

Thơ tặng bạn thể hiện tình cảm nồng ấm, chân tình. Trong các nhà thơ ở miền Nam giai đoạn 1954-1975, Tạ Ký là nhà thơ có nhiều thơ tặng bạn. Thơ tặng bạn nằm trong truyền thống thi ca phương Đông. Đó là Hoàng Hạc lâu Tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lý Bạch, Đông nhật hữu hoài Lý Bạch, Xuân nhật ức Lý Bạch của Đỗ Phủ, Đông dương tửu gia tặng biệt của Vi Trang, Nam hành biệt đệ của Vi Thừa Khánh, Hữu nhân dạ phỏng của Bạch Cư Dị, ...

Tạ Ký, qua thơ, dễ thấy rằng, thi sĩ đã phổ tâm tình của mình vào những không gian, cảnh vật như bài Tôn Thất Trung Nghĩa: Từng đêm chợ Đũi đẫm sầu / Ly la-ve đổ gội đầu tóc xanh / Người sơn dã lạc kinh thành / Ngả nghiêng đáy cốc độc hành trong đêm. Bốn câu lục bát nói lên nỗi sầu ở buổi tóc xanh, như người hoang dã của núi rừng, lạc giữa kinh thành, một mình đi trong đêm, ngả nghiêng, chênh choáng đáy cốc.

Xuân về thương nhớ với ai đây? tặng Trương Đình Ngữ là bài thơ xuân đầy tâm trạng. Bài thơ  mở ra chân trời đầy nỗi niềm. Năm tháng dằng dặc những dang dở, giang hồ vẫn trắng đôi tay, đất trời ngày mai chỉ còn là cuộc hẹn, xuân vẫn còn xuân với đọa đày. Một câu chuyện tâm tình không biết tỏ cùng ai. Hiên người hoa lại nở. Năm tháng cầm bằng một cơn say. Không gian tâm tưởng. Thời gian tâm trạng, một mùa xuân:

Đâu đây nhc rót mng xuân mi, / Không hiu thương ai nước mt đy ! / Nhà trng tha h mơ mng đến / Tin đâu mua ly na cơn say / Thơ chng ai yêu, ri cũng vn / Đêm đêm nm tính chuyn tương lai / C tri dăm đa nghèo xơ xác / Ăn chc nm ch khp đó đây / Tán gu, cười suông, ngâm lc ging / “Sòng đi thua nhn c thơ ngây” / Thuc chưa hết điếu mà cay mt / Tình chng muôn đi vn đng cay / Xuân bng tưng bng trên má thm /  Xuân v thương nh vi ai đây ? 

Bài thơ cui mùa tặng Huy Trâm, một bài thơ tình, như tác giả viết: Không vui t do mi quen nhau / Ngày tháng bun tênh vn lướt qua, để rồi: Mùa cui, năm tàn, yêu na thôi ? / Kìa em, va thoáng ánh sao rơi / Đi khi lòng đt đưa tay đón /Ta s dn quên chuyn đi di. 

Thơ tặng bạn thường mang tâm trạng chia lìa, không gian ít khi hòa điệu với con người, tiêu biểu là Sầu ở lại. Chén rượu không vơi nỗi đoạn trường, ngồi bên nhau, vẫn dòng lệ chứa chan:

Đời lỡ nhúng sầu bên cốc rượu

Mượn vui bè bạn sống qua ngày

Đoạn trường hơn cả thân ca kỹ

Cơm áo làm quên chuyện nước mây
 

Năm cùng tháng tận đời hoang vắng

Bên quán ngờ đâu lại gặp mầy

Gọi để mừng nhau khi hội ngộ

Thì xin hãy cạn chục ly đầy
 

Quàng vai tìm chút dư hương cũ

Nhắc đến hằng trăm chuyện đổi thay

Nhắc đến những thằng nay đã chết

Những thằng đang sống kiếp trâu cày
 

Bạn ơi nước mắt mình tuôn chảy

Ngồi nhậu bên đường ta khóc đây.

Chén rượu, ly rượu, hình ảnh thường thấy trong thơ Tạ Ký. Rượu đi đôi với sầu, với nỗi buồn: Buồn như ly rượu cạn / Không còn rượu cho say / Bun như ly rượu đy / Không còn mt người bn / Buồn như buồn như thế / Buồn như một kiếp người / Ðây cõi lòng quạnh quẽ / Buồn như đoá hoa rơi !” (Buồn như).

Có và không. Không và có. Rượu không vơi niềm cô đơn:

Có rượu nhiều không mà say đêm nay? 

Có tiếng giai nhân cười vang đường dài?

Cô đơn từng bước lê trong tối, 

Có hoa nào không mà anh đưa tay? 

              (Em chỉ trả lời)

4. Tạ Ký, những trang tình sử

Tạ Ký viết nhiều thơ tình. Như một Nguyễn Bính trong Chân quê, Tạ Ký trong Viết trang tình s, tặng Thế Viên, về tình cảm đối với cô gái Huế của "xứ mộng, xứ mơ",  thẹn thùng khi nhắc chuyện chồng con, nhưng rồi:

Giận mình chưa đạt lời nguyền, 

Anh không mong được chung thuyền ấy đâu. 

Khi mô người bỏ cau trầu, 

Cho anh biết đủ sầu lên men, 

Để anh vặn nhỏ ngọn đèn, 

Viết trang tình sử cùng tên một người.

Trong thơ, Tạ Ký bộc lộ tâm tình: “Hỡi Thượng Ðế, suốt đời con đơn chiếc,/ Ði vu vơ như lạc nẻo Thiên Ðường,/ Thân cát bụi chẳng còn chi hối tiếc,/ Nhưng lòng riêng khao khát chút Tình Thương.” (Đêm giáng thế). Nhà thơ mãi đi tìm… “Tôi biết nói gì khi ta quên nhau?/ Tôi biết muốn gì, trời còn mưa mau / Em vẫn là em, xưa kia tuy khác / Tôi hết là tôi, chừ đây cúi đầu / Tôi lại say rồi, ngả nghiêng, ngả nghiêng / Nhạc cuồng gào lên, nhạc cuồng không tên...” (Cúi đầu)

Ngày đầu của tình yêu, có suối biếc, có hoa rừng, có cỏ cây: Đó là ngày va mi được quen em. Rồi theo thời gian, những câu thơ thật buồn: Ngày mái tóc không còn xanh được nữa / Ngày đôi tay thôi dệt mộng phù hoa / Thì em sẽ vì anh mà mở cửa / Trông lên trời, đếm những điểm sao xa (Đếm sao). 

Trong tình yêu, Tạ Ký dự cảm những điều sẽ đến: Nước trong vt coi chng đau si cui / Em ca anh ch,  ai ca ngày mai / Trong tiếng gió, nghe chng hoa trách móc / Hương dù bay, lòng gió vn vương hương / Trong tiếng sui, nghe chng hoa mun khóc / Sui dù tuôn, hoa vn đp như thường(Đếm sao). Cớ gì có những ngôi sao xa xôi, ngồi đếm trong những ngày đang yêu !

Đọc kỹ thơ Tạ Ký, vẫn thấy nỗi niềm lắng trong những câu thơ, đầy tâm trạng. Giữa dòng vui cũng lắm câu buồn. Nỗi buồn thế sự phả vào chuyện tóc tơ:

Ta vẫn chờ em héo cả thơ, 

Đèn khuya đêm trắng nẻo tương tư.

Tóc tơ có kẻ ngàn năm hẹn, 

Ai hẹn ngàn năm chuyện tóc tơ? 
 

Từ thuở quen nhau, rồi cách biệt, 

Lòng nghe còn nặng chuyện tang thương,

Mà dâu bể dậy từ chinh chiến,

Từ thuở trên đầu tóc điểm sương.

Sơ nguyện, một bài thơ, một tình sử, tặng Tuyết Hồng, những đóa  tình ca mt thi xuân, song:

Mong manh mong manh, 

Nửa chiều sơ nguyện. 
 

5. Tạ Ký, đời không như thơ

Tạ Ký có tập Sầu ở lại, đúng như tiên cảm về cuộc đời. Đời không vui nên sầu ở lại. Tạ Ký là kiểu người phong trần, kiêu bạt, phóng túng, đậm chất Quảng. Khi đã tỉnh rượu, từng mảnh con hy vọng / chìm trong đêm sâu dày, thấy mình:

Có ai ngồi trong xó 

Hát khúc hoàng-hôn-ca? 

Tuy bóng chiều chưa đổ, 

Đầy những mặt dơi già! 

  (Khi tỉnh rượu)

Có một bài thơ mang chút ai oán, ngậm ngùi thân thế, bài có tên HOÀI, chỉ một chữ, chứa chan tâm trạng từ buổi còn mơ nguyệt mái Tây, rồi gió đổi chiều xoay hướng:

Từ dạo tay không mơ nghiệp lớn, 
Sử kinh qua một tiếng than dài! 
Trường thành vạn dặm rêu xanh đá, 
Thắng những ai mà bại những ai? 
Đình trưởng một phen trời ngó lại, 
Múa gươm trên mộ kẻ anh tài! 
Hỡi ơi những chuyện ngàn xưa ấy 
Chép miệng mà nghe thấm đắng cay!

 

Một giấc hoàng hoa chưa chắc tỉnh

Nửa ly hoan ngộ lấy gì say

Ai mài kiếm rỉ, ai nâng chén?

Cửa sổ chiều chiều mây trắng bay.
 

Có nỗi buồn lan tỏa trên nhiều câu thơ của Tạ Ký. Rượu không giải tỏa hết nỗi sầu: Ngày xưa dm liu xanh còn xanh/ Ngày xưa trang thư thêm trang tình / Ngày nay mt phút vô tư mt / Ngày nay mt phút bun mông mênh (Em chỉ trả lời, tặng Tôn Thất Trung Nghĩa)

Nhớ Tạ Ký, nhớ những câu thơ viết về quê quán cũ, xin chút nắng ấm, sưởi một linh hồn nho nhỏ:

Mùa hy vọng thắp đôi hàng nến đỏ,

Chép bài thơ thương nhớ giữa kinh thành.

Ôi yếu đuối một linh hồn nho nhỏ,

Chỉ mong ngày nắng ấm ngọn cau xanh.

 (Trung Phước ơi!)
 

Tháng 8 năm 2022.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nước mắt trong Lục Bát Mẹ
Nhà thơ Đỗ Thành Đồng vừa làm lễ kỉ niệm 5 năm ngày mất của mạ, và dịp này anh ra mắt tập thơ thứ 9 “Lục bát mẹ”. Hơn 100 trang sách với 42 bài thơ lục bát viết về mẹ (mẹ anh sinh năm 1942), mỗi bài thơ là một cung bậc cảm xúc, cũng là những khúc ru của một người con hiếu đạo đối với mẹ ở nơi cõi Phật.
Xem thêm
Một Nguyễn Mạnh Tuấn vừa lạ vừa quen trong hai tác phẩm mới
Một Nguyễn Mạnh Tuấn vừa lạ vừa quen trong hai tác phẩm mới
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn chua ngọt một đời cầm bút
Văn Chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ, nhà lý luận phê bình Lê Thiếu Nhơn như một tiếp nối của cuộc trò chuyện đẹp này.
Xem thêm
Hoàng Đăng Khoa và nỗi buồn đương đại trong tập thơ mới
Có thể nói, buồn là phẩm chất thuộc tính thương hiệu của thi nhân. Tản Đà từ khoảng 1916 đã viết “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nửa rồi”, 20 năm sau, khoảng 1936, Xuân Diệu “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Cũng khoảng ấy, nhưng trước một hai năm, Thế Lữ cũng “Tiếng đưa hiu hắt bên lòng/ Buồn ơi! xa vắng mênh mông là buồn”. Ngay cả Tố Hữu, cùng thời gian, viết: “Buồn ta là của buồn đời/ Buồn ta không chảy thành đôi lệ hèn/ Buồn ta, ấy lửa đang nhen/ Buồn ta, ấy rượu lên men say nồng”. Đều buồn cả.
Xem thêm
Quá trình tự vượt lên chính mình
Tôi nhận được thư mời của Ban Tổ chức buổi Giao lưu - Tặng sách vào buổi chiều hôm nay (16/11) tại tư dinh của họa sỹ Nguyễn Đình Ánh ở Việt Trì, Phú Thọ. Ban Tổ chức có nhã ý mời tôi phát biểu ở buổi gặp mặt. Thật vinh dự nhưng quá khó với tôi: Lại phải xây dựng thói quen “Biến không thành có, biến khó thành dễ, biến cái không thể thành cái có thể…” như Thủ tướng Phạm Minh Chính thường nói!
Xem thêm
Nguyễn Thanh Quang - Giọng thơ trầm lắng từ miền sông nước An Giang
Trong bản đồ văn học đương đại Việt Nam, mỗi vùng đất đều mang trong mình một mạch nguồn riêng, âm thầm mà bền bỉ, lặng lẽ mà dai dẳng như chính nhịp sống của con người nơi đó. Và trong không gian thi ca rộng lớn ấy, An Giang như một miền phù sa bồi đắp bởi nhánh sông Hậu, bởi dãy Thất Sơn thâm u, bởi những cánh đồng lúa bát ngát, bởi mênh mang sóng biển và bởi những phận người chất phác, luôn có một sắc thái thi ca rất riêng. Đó là vẻ đẹp của sự hiền hòa xen chút sắc bén, của nỗi lặng thầm pha chút đa đoan, của những suy tư tưởng như bình dị mà lại chứa cả thẳm sâu nhân thế.
Xem thêm
Thơ Thảo Vi và cội nguồn ánh sáng yêu thương
Giọng thơ trầm bổng, khoan nhặt. Thi ảnh chân phương mà thật gợi cảm và tinh tế. Có lúc ta cảm nhận được những man mác ngậm ngùi, nỗi hối tiếc đan xen niềm hoài vọng, mơ tưởng. Thơ Thảo Vi có sự hòa phối các biện pháp nghệ thuật với dụng ý làm nổi bật nội dung, tư tưởng cốt lõi. Đó là tâm thức cội nguồn, chạm đến đỉnh điểm của tình cảm thương yêu, thấu hiểu với cõi lòng của đấng sinh thành. Thơ Thảo Vi là tiếng gọi đầy trìu mến, sâu lắng dư âm từ những thi hứng đậm cảm xúc trữ tình.
Xem thêm
Những chấn thương nội tâm trong “Mã độc báo thù”
“Mã độc báo thù” là tiểu thuyết mới nhất của nhà văn Nguyễn Văn Học, vừa được NXB Công an nhân dân phát hành. Đây là một trong vài tiểu thuyết đầu tiên viết về đề tài tội phạm công nghệ cao ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhà văn không chỉ nói về tội phạm, mà còn xoáy sâu về những tổn thương của con người trong thời đại số.
Xem thêm
Huệ Triệu, một nhà giáo, nhà thơ
Cả hai tư cách, nhà giáo và thi nhân, Huệ Triệu là một gương mặt sáng giá.
Xem thêm
Chúng ta có thực sự tự do trong chính tác phẩm của mình?
Văn học, cũng như các lĩnh vực khác, theo tôi đều có những dòng chảy nối tiếp âm thầm, tạo nên nhiều sự giao thoa, đan cài giữa cũ và mới, quen thuộc và khác lạ
Xem thêm
Biểu tượng nước trong thơ Vũ Mai Phong
“Nước” trong văn hóa phương Đông là thủy – khởi nguyên của sự sống, mang phẩm chất mềm mại – bền bỉ – linh hoạt biến hóa của triết lý nhu thắng cương. Trong thi ca Việt Nam, “nước” gắn với dòng chảy thời gian tâm thức dân tộc, văn hóa lịch sử và tâm linh
Xem thêm
“Hư Thực” của Phùng Văn Khai: Tiếng nói Hậu Hiện Đại và Dấu Ấn Văn Chương Đương Đại Việt Nam
Văn học luôn là tấm gương phản chiếu xã hội, là nơi ghi lại những biến chuyển của thời đại và tâm hồn con người. Trong lịch sử văn học Việt Nam, mỗi thời kỳ đều có những tác phẩm tiêu biểu, vừa mang dấu ấn thời đại, vừa để lại những giá trị trường tồn cho đời sau. Tuy nhiên, khi thế giới bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa và đa dạng văn hóa, các giá trị truyền thống gặp nhiều thử thách. Đặc biệt, với sự bùng nổ thông tin và biến động xã hội, con người ngày nay không còn sống trong một thế giới đơn giản, rạch ròi mà là một thế giới đa chiều, hỗn loạn và khó đoán định.
Xem thêm
Thế giới kỳ vĩ của thơ
Thế giới của thơ, với thi sỹ là bến đậu của tâm hồn, là cánh đồng gieo trồng cảm xúc và chữ nghĩa, là bầu trời để cất cánh ước mơ và thả hồn phiêu lãng; với đọc giả là nhịp cầu kết nối con tim, là dòng sông soi rọi, tắm táp tâm hồn để được nâng đỡ và bay cao.
Xem thêm
Văn học dịch và những tác động đến đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI
Nói đến văn học dịch những thập niên đầu thế kỉ 21, có lẽ, trước hết, phải nhắc tới việc rất nhiều tác phẩm thuộc hàng “tinh hoa”, “kinh điển”, hay các tác phẩm đạt được các giải thưởng văn chương danh giá (Nobel, Pulitzer, Man Booker...) đã được chú trọng chuyển ngữ trong giai đoạn này.
Xem thêm
Vài nhận thức về trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều
Tôi hỏi nhiều nhà thơ và văn, rằng họ thấy trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều như thế nào và đặng họ có thể khai sáng chút gì cho tôi nhưng không ai có câu trả lời khiến tôi thỏa mãn, đa phần đều nói “Ái chà, Lò mổ của Nguyễn Quang Thiều hả, bọn tớ cũng chỉ nghe dư luận ồn ào trên mạng thôi chứ có sách đọc đâu!”.
Xem thêm
Nguyễn Duy – Vịn thi ca vượt thác thời gian...
Bài đăng Văn nghệ Công an số ra ngày 13/11/2025
Xem thêm
Thơ có nghĩa là “thương” - Tiếng thơ Đặng Nguyệt Anh
Một bài viết thấm đẫm nhân tình của Tuấn Trần – người trẻ viết về Đặng Nguyệt Anh, “ngoại” của thơ và của lòng nhân hậu. Từ câu chữ đến cảm xúc, bài viết là một lời tri ân chân thành dành cho thế hệ cầm bút đã “đem trái tim yêu thương gánh ghì số phận chung”, để hôm nay, thơ của họ vẫn còn làm dịu đi những cơn bão đời người.
Xem thêm
Chất liệu dân gian trong ca khúc Việt Nam hiện đại
Bài viết này xin phép được tiếp tục trình bày một xu hướng vận động chủ đạo của âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam sau 1975: dân tộc hóa ca khúc Việt Nam.
Xem thêm
Đọc thơ Thiên Di
Dường như là một giấc mơ chậm rãi, dịu dàng, vẫn đọng lại dư âm của cô đơn, khao khát và hy vọng. Tác giả sử dụng nhịp điệu từ những chi tiết nhỏ – mưa rả rích, ánh mắt, cánh hoa – để cảm xúc lan tỏa, khiến độc giả không cần lạm dụng từ ngữ hoa mỹ vẫn cảm nhận được sự mềm mại, tinh tế và ám ảnh.
Xem thêm