TIN TỨC

Chế Lan Viên – Tôi trong đau vẫn làm viên muối bể

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-10-24 15:11:04
mail facebook google pos stwis
1964 lượt xem

Nguyễn Quỳnh Anh

 Chế Lan Viên là nhà thơ lớn của nền Văn học Việt Nam thế kỷ XX, với trên 50 năm cầm bút nhà thơ đã để lại cho nền văn học nước nhà một sự nghiệp đồ sộ với nhiều thể loại gồm thơ, văn, tiểu luận, phê bình… Riêng về thơ, ông đã để lại 13 tập thơ với trên một nghìn bài. Những vấn đề về thơ Chế Lan Viên đã được các nhà nghiên cứu phê bình quan tâm suốt hơn tám mươi năm qua.

Ông cũng là nhà thơ luôn tìm tòi, sáng tạo, trăn trở về thơ cho đến những ngày cuối đời, trong khi các nhà thơ cùng thời, cùng tầm cỡ với ông đã dừng lại với những thành tựu đã ổn định. Mặc dù nhà thơ đã rời xa cõi thế trên ba mươi năm nhưng thời gian ngày càng khẳng định vị trí và tầm vóc của ông đối với văn học nước nhà. Đóng góp về thơ của Chế Lan Viên vô cùng phong phú, đa dạng tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết nhỏ này chúng tôi chỉ điểm lại những suy ngẫm về thơ của ông, tức là những vấn đề mang tính lí luận văn học được ông đặt ra qua những bài thơ, câu thơ tiêu biểu nhằm bổ sung cho bạn đọc những khía cạnh mang tính lí luận văn học trong quá trình tiếp nhận thơ Chế Lan Viên và văn học nói chung với mấy vấn đề dưới đây.

  • Những vấn đề về mối quan hệ giữa Hiện thực cuộc sống – Nhà văn – Tác phẩm

Nhiều nhà nghiên cứu phê bình đều thống nhất cho rằng Chế Lan Viên là người viết nhiều những câu thơ, đoạn thơ về thơ nhất, chưa kể đến các cuốn sách mang tính tiểu luận, phê bình như: Suy ngẫm và bình luận, Phê bình văn học, Nghĩ cạnh dòng thơ. Trước Cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên đã nổi tiếng với tập thơ Điêu tàn, khi ông mới 17 tuổi, còn đang đi học nhưng giọng thơ của một người già trước tuổi, tiếc thương cho một vương quốc Chiêm Thành huy hoàng, than khóc cho những bóng ma Hời ảo não. Nhưng Cách mạng tháng Tám đã làm thay đổi nhà thơ, đem đến cho nhà thơ nguồn sống mới để ông “sáng mắt sáng lòng”, đi từ “thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”. Sự bắt nhịp của nhà thơ với thời đại mới được thể hiện rõ nhất trong những năm  60 của thế kỷ XX, tiêu biểu trong đó là tập thơ Ánh sáng và phù sa. Ngay từ nhan đề tập thơ đã cho ta thấy nguồn năng lượng mới, nguồn sống mới đã bồi đắp tâm hồn nhà thơ đồng thời ông cũng xác định rõ trách nhiệm của nhà thơ, của người nghệ sĩ trước cuộc đời nhất là trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới khi ấy. Tuy nhiên những vấn đề mang tính lí luận mà Chế Lan Viên đặt ra đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Người nghệ sĩ phải là người gắn bó với cuộc đời, phải mở lòng mình đề đón nhận cuộc đời, phải rút ngắn khoảng cách cuộc đời và nghệ thuật…

Tập thơ Ánh sáng và phù sa ra đời năm 1960, trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, cùng với các tập Trời mỗi ngày lại sáng của Huy Cận, Sông Đà của Nguyễn Tuân, Mùa lạc của Nguyễn Khải… Tuy nhiên Chế Lan Viên có hướng đi riêng với những vần thơ giàu cảm xúc và triết luận. Trong đó không thể không kể đến bài thơ Tiếng hát con tàu, một bài thơ xuất sắc nhất của tập thơ và cũng tiêu biểu cho phong cách thơ Chế Lan Viên. Bài thơ thể hiện trách nhiệm của người nghệ sĩ khi đến với cuộc đời, nhất là những vùng xa xôi của Tổ quốc và chỉ có thể đến đó  Khi lòng ta đã hoá những con tàu, hình ảnh con tàu hay chính là tiếng gọi của Tổ quốc, của trái tim, tiếng gọi của sự hòa nhập và lên đường như ngay trong lời Đề từ của bài thơ:

Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hoá những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu

Bài thơ đặt ra bằng những câu hỏi tu từ, hay đó là cách nhà thơ tự hỏi mình để thể hiện sự nhận thức về mối quan hệ cuộc đời – nghệ thuật, chỉ có hiện thực cuộc sống phong phú mới là ngọn nguồn của nghệ thuật chân chính. Chế Lan Viên dùng các hình ảnh: gió ngàn đang rú gọi, những vành trăng…

để nói đến một miền Tây Bắc hay miền xa xôi của Tổ quốc, chính những hình ảnh đó mới đem lại cảm hững sáng tác mới mẻ cho nhà thơ, cho người nghệ sĩ chân chính bởi Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép.

Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng?
Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng

Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp
Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?
Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia

Trong bài thơ còn rất nhiều lần Chế Lan Viên khẳng định Tây Bắc và hiện thực cuộc sống phong phú nơi đây chính là mẹ của hồn thơ, là ngọn nguồn của mọi cảm hứng sáng tạo.

Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi?
Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ
Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội
Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga

Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ
Mười năm chiến tranh, vàng ta đau trong lửa
Nay trở về, ta lấy lại vàng ta

Bên cạnh bài thơ Tiếng hát con tàu, còn rất nhiều bài thơ trong các tập thơ khác Chế Lan Viên cũng đề cập đến mối quan hệ cuộc sống và nghệ thuật hay để “Cuộc sống đánh vào thơ trăm nghìn lớp sóng” chứ không thể là những lời trống rỗng. Người nghệ sĩ phải gắn bó chan hòa với cuộc sống, phải thấy sức mạnh từ cuộc sống, phải buồn vui cùng với những nỗi buồn vui của nhân dân, phải có cách nhìn đời, nhìn người đa diện, nhiều chiều:

Phá cô đơn ta hòa hợp với người

Lấy cái vui cuộc đời đánh bại mọi đau thương

Xưa tôi hát mà nay tôi tập nói

Chỉ nói thôi mới nói hết được đời

Nhà thơ luôn trăn trở phải “Phát giác sự việc ở bề chưa thấy” hay ở bề sâu, bề xa . Ông cũng không cho phép mình viết những câu thơ hời hợt, dễ dãi, mỗi câu thơ phải là “Muối lắng ở ô nề và thơ đọng ở bề sâu”(Đối thoại mới).

 

  • Mối quan hệ Nhà văn – Tác phẩm – Bạn đọc

Cùng với mối quan hệ Hiện thực cuộc sống – Nhà văn – Tác phẩm như chúng tôi đề cập trên, Chế Lan Viên cũng rất quan tâm đến vấn đề tiếp nhận của người đọc, đó là điểm đáng lưu ý ở Chế Lan Viên so với nhiều nhà thơ cùng thời. Chế Lan Viên có rất nhiều bài thơ, tập thơ thể hiện sự quan tâm đó của mình như: Nghĩ về thơ, Sổ tay thơ, Thơ và bạn đọc, Nghề chúng ta, Thơ về thơ… Sự hình thành và phát triển của lý thuyết tiếp nhận nhằm khẳng định hoạt động văn học với các khâu Nhà văn – Tác phẩm – Bạn đọc ngày càng được chú ý đúng mức. Sự ra đời của lý thuyết tiếp nhận cho thấy sự dịch chuyển vị trí trung tâm từ tác phẩm sang người đọc, từ đó có thể nhận thấy lịch sử văn học không chỉ đơn thuần là các tác giả, tác phẩm mà cả lịch sử tiếp nhận của người đọc cũng phải được quan tâm đúng mức, nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn cho rằng: “Nói đến việc tạo nghĩa một tác phẩm văn học, nếu chỉ nói đến tư tưởng, ý đồ sáng tạo, chủ đích của tác giả vẫn chưa đủ. Nếu không có người đọc với toàn bộ kiến thức, sự lịch lãm, với quan điểm đạo đức, thẩm mỹ riêng tiếp nhận văn bản tác phẩm thì văn bản đó vẫn không có hiệu lực của văn bản nghệ thuật: lý thuyết tiếp nhận xuất hiện. Với lý thuyết tiếp nhận, người đọc được đặt đúng địa vị của mình; hành động đọc là hành động tạo nghĩa cho văn bản”.  Nhà văn sáng tạo ra tác phẩm mới chỉ là hệ thống kí hiệu trên giấy chỉ khi nào có sự tiếp nhận tác phẩm mới có đời sống thực sự của nó, Giôn Điuây phân biệt sản phẩm nghệ thuật và tác phẩm nghệ thuật, tương ứng với sáng tác của nhà văn và tiếp nhận của người đọc, “chỉ khi nào được công chúng thưởng thức, tiếp nhận thì mới trở thành tác phẩm nghệ thuật”. Bên cạnh đó nhiều nhà lí luận rất đề cao vai trò của bạn đọc, họ coi đó là quá trình đồng sáng tạo, một số nhà văn còn để ngỏ kết thúc của tác phẩm hoặc đưa ra các phương án kết thúc để người đọc lựa chọn. Từ những tiền đề trên, lý thuyết tiếp nhận ra đời nhằm khẳng định vai trò quan trọng của người đọc trong cả quá trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, điều đó được Chế Lan Viên thể hiện rất rõ:

Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi,
Còn một nửa cho mùa thu làm lấy.
Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá.
Nó không là anh, nhưng nó là mùa.

                                            (Sổ tay thơ)

Nghệ sĩ là người nào biết giãn cách họ với ta bằng tác phẩm

Đem tất cả cái Bên Trong tạo hình thức Bên Ngoài

                                            (Tạo hóa tạo hình)

Cho đến những năm tháng cuối đời, mặc dù phải đấu tranh với bệnh tật những Chế Lan Viên luôn luôn trăn trở về trách nhiệm của người cầm bút đồng thời qua Di cảo thơ ông cũng mong mỏi sự đồng cảm  của người đọc, sự tiếp nhận của bạn đọc trowng tương lai: “Nhìn trang sách biết mình hữu hạn” và “Một nghìn câu thơ thì chín trăm câu dang dở, và ai đón thơ anh ở cuối con đường” hay “Đừng đuổi thơ tôi, vì một chiều tà nào ngả bóng/ Hãy kiên lòng, sẽ thấy nắng mai lên”.

Mặc dù đã hơn ba mươi năm nhà thơ đi xa cõi thế nhưng những gì Chế Lan Viên nêu ra về thơ đến nay chúng ta vẫn cần phải tiếp tục suy nghĩ có như vậy việc tiếp nhận di sản thơ đồ sộ mà ông để lại cũng như văn chương nói chung mới có ý nghĩa thực sự. Để khép lại bài viết nhỏ này tôi xin dẫn lại lời tâm sự của ông với bạn đọc, với cuộc đời: Tôi trong đau vẫn làm viên muối bể/ Để mặn lòng những kẻ muốn vô tư.

N.Q.A

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mai Quỳnh Nam và một phía
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về thơ Mai Quỳnh Nam
Xem thêm
Một đêm trăng không dễ có ở trên đời!
Bài viết của nhà văn Tuấn Trần.
Xem thêm
Một vọng âm quá khứ hào hùng nhưng lắm đau thương
Đọc “Hòa âm đêm”, Nxb Hội Nhà văn, 2024 của Trương Tuyết Mai
Xem thêm
Khám phá vương triều Tiền Lý qua tiểu thuyết lịch sử
Thượng tá, nhà văn Phùng Văn Khai là người khá đa di năng. Từ lúc bước vào văn nghiệp, anh viết kí, truyện ngắn, làm thơ, cày báo… đều đặn, thuộc dạng “nhạc nào cũng nhảy được” và nhảy khá hay.
Xem thêm
Triệu hạt tâm hồn rót đầy biển tình yêu
Võ Thị Như Mai đọc PHẢI CHI MÂY TRẮNG KHÔNG NGANG NGÕ, Nguyễn Đức Quận, NXB Hội nhà văn, 2024.
Xem thêm
Tiểu luận Võ Quốc Việt: Vài cảm nhận về Cuộc thi Thơ 1-2-3
Cuộc thi Thơ 1-2-3 (The 1-2-3 Poetry Style/ Phannist Poetry) năm 2024 – 2025 đã nhận được sự hưởng ứng của đông đảo các tác giả trong lẫn ngoài nước và đã công bố kết quả. Nhà lý luận phê bình, nhà thơ Võ Quốc Việt – Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam thay mặt Ban Chung khảo đã có bài tiểu luận công phu, sâu sắc mang tính tổng kết về cuộc thi. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Xem thêm
Đọc tập thơ Dọc đường máu của Vương Cường
Nguyên Hùng giới thiệu tập thơ mới của Tiến sĩ nhà thơ Vương Cường
Xem thêm
Vũ điệu tái sinh trong từng cơn đau
Bái viết về tập thơ “Nghiêng về phía nỗi đau” tập thơ của Trịnh Bích Ngân (NXB Hội Nhà văn, quý II, 2024)
Xem thêm
“Ai cũng có ngày xưa” của nhà thơ Trần Duy Hiển
Gió vẫn thổi suốt chiều dài trận mạc/ Người nhẹ nhàng nằm lại lúc vượt sông
Xem thêm
“Theo chồng về quê” của Mai Khoa – một bài thơ hay
Bởi yêu chồng từ lúc mới bén duyên/ Như tình biển yêu thuyền thương nhớ
Xem thêm
Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam
Triết gia Hy Lạp Platon đã nói: “Thước đo của một con người là xem cách anh ta làm gì với quyền lực”. Thế nhưng, có rất nhiều người có quyền, vì lòng tham và ích kỷ cá nhân nên đã hủy hoại nhân cách và đất nước của họ (TCVTT/ Trương Văn Dân)
Xem thêm
Thi ca đương đại nhìn từ hệ hình nghệ thuật và chất suy tưởng của thơ
Sáng ngày 12.02.2025 tại Ninh Bình, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức tọa đàm “Trách nhiệm và khát vọng của nhà thơ”. Dưới đây là tham luận của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.
Xem thêm
Tôi đọc bài thơ Đừng sợ một mình của thi sĩ Trần Mạnh Hảo
Trần Mạnh Hảo và thơ ông đã sớm là “tín ngưỡng” đẹp nhất trong lòng của những người yêu thơ, quý chữ nghĩa chân chính. Từ thời còn trên giảng đường đại học, tôi đã từng nghe thầy tôi đọc những câu thơ trong trường ca Đất nước hình tia chớp. Từ đó, tôi bắt đầu săn sóc sự học, sự đọc về thơ ông.
Xem thêm
Hoàng đế Quang Trung, danh tướng bách chiến bách thắng
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, hiếm có một anh hùng nào như Hoàng đế Quang Trung, xuất thân áo vải, cả đời chinh chiến, danh vang bốn biển, đánh giặc lập nước, tôn vinh văn hiến, khuyến học khuyến tài, những bậc quốc sĩ danh thần cảm phục uy danh mà theo về giúp rập. Đặc biệt, trong hai lần đại phá quân Xiêm La và quân Thanh, ông đã bằng vào tài năng quân sự thiên bẩm của mình, đánh cho lũ giặc phía Nam, phía Bắc phải kinh hồn táng đởm. Ông từng hào sảng tuyên ngôn trong Chiếu xuất quân khích lệ tướng sĩ khi hành binh ra Bắc Hà đánh tan 29 vạn quân Thanh
Xem thêm
Mùa Xuân trong thơ Dương Xuân Linh
Bài viết của nhà thơ Phùng Hiệu
Xem thêm
Xuân về, đọc thơ Trương Nam Hương
Tuấn Trần viết về tập thơ “Thời nắng xanh” của Trương Nam Hương
Xem thêm
Tình yêu bển đảo trong thơ Lê Tiến Lợi
Nhà thơ Lê Tiến Mợi là một trong những người gắn bó lâu năm với nghiệp văn chương. Anh đã có số lượng tác phẩm khá lớn, trong đó một số sáng tác của anh đã chiếm được cảm tình của người đọc. Sau đây xin trân trọng gửi tới Ban Biên tập Văn chương thành phố Hồ Chí Minh bài viết về tình yêu biển đảo trong thơ anh. Xin chân thành cảm ơn Ban Biên tập khi được cộng tác với Văn chương thành phố Hồ Chí Minh.
Xem thêm
Mảnh trăng tinh tấn hàng cau trổ buồng
Cảm nhận về tập thơ SỰ MẤT NGỦ CỦA LỬA của Nguyễn Quang Thiều
Xem thêm