TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Những sắc màu ánh sáng trong tập thơ Thắp nến tôi để dành của Nguyên Bình

Những sắc màu ánh sáng trong tập thơ Thắp nến tôi để dành của Nguyên Bình

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-05-06 06:13:35
mail facebook google pos stwis
2672 lượt xem

TRIỆU KIM LOAN
 

Trả em thời gian xanh

đồi uyên ương lộng gió

góc không gian hoa cỏ

thắp nến tôi để dành... (Khép mắt)

Những câu thơ giàu thi ảnh, ngân vang như những nốt nhạc của một giai điệu tình yêu nồng nàn, tha thiết đã cuốn hút tôi khám phá những sắc màu ánh sáng đa chiều trong tập thơ Thắp nến tôi để dành của nhà thơ Nguyên Bình.

Nguyên Bình tên thật là Nguyễn Bá Bĩnh sinh ra ở Thừa Thiên Huế, tốt nghiệp ĐHSP Huế, gắn bó với nghề dạy học cho đến khi nghỉ hưu, hiện sinh sống và sáng tác tại Thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Thắp nến tôi để dành là tập thơ thứ tư của anh sau Tiền kiếp (2019), Hoa vàng trên áo xanh (2020), Dòng nhựa thơm nguyện ước (2021). Ngoài thơ, anh còn viết cảm nhận văn học cho hàng trăm tác phẩm của bạn bè trong và ngoài nước. Những vài viết đã được xuất bản qua hai tập QUYỀN NĂNG CỦA NGÔN NGỮ TỪ TRÁI TIM (Cảm nhận văn học I) và BÀI LUÂN VŨ CỦA GIAO CẢM THI CA (Cảm nhận văn học II) mà tôi vinh hạnh là một trong những tác giả được anh quan tâm với thi phẩm KHÁT VỌNG XANH.

Lawrence Ferlinghetti từng nói: “Thi ca là khoảng cách ngắn nhất giữa hai con người. Thi ca là cái bóng được chiếu bởi những ngọn đèn đường của trí tưởng tượng”. Với 70 bài thơ, những mảng màu ánh sáng trong Thắp nến tôi để dành của Nguyên Bình được khúc xạ bởi tình yêu lứa đôi, tình yêu tha nhân, những thăng trầm trong cuộc sống mà nhà thơ trân quý. Tên gọi của tập thơ đã ngầm chứa những vỉa trầm tích, dẫn dụ người đọc đến với mạch nguồn chủ đạo xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của Nguyên Bình.

Là một người xa xứ, những hoài niệm đau đáu đến khắc khoải về quê hương, gia đình nghèo khó được tái hiện trong thơ thật xúc động:

Đêm qua đất chảy thành sông/ nước lăn thành đá nhà rông thành thuyền/ Vườn sau sóng vỗ êm đềm/ con cá bơi ngửa trước thềm rêu xanh./ Quê nhà mạ đội mái tranh/ em bồng con đứng níu cành khế chua/ thằng cu húp chén nước mưa/ bàn thờ tiên tổ còn lưa lư đồng/ Tôi về ôm nhánh củi rong/ bập bềnh nước vỗ ong ong mái nhà/ cóng tay cha bế tôi qua/ bước trên đọt chuối oằn sa mấy buồng

(Giấc mơ Cam Lồ)

Quê hương, nguồn cội chính là nơi quay về - nơi bến đỗ bình yên, nơi bờ vai nương tựa được nhà thơ thi vị hóa bằng hình ảnh nụ đầu cành xanh biếc, vạt nắng vỗ tình đôi cánh lụa, đồi thạch thảo nở bừng hương diệu vợi và mây thong dong trong vầng sáng nhật nguyệt: Nơi ra đi cũng là chốn quay về/ mùa nhung nhớ nụ đầu cành xanh biếc/ mây lang thang một mình em nhật nguyệt/ nắng vỗ tình đôi cánh lụa là yêu (Quay về). Hoài niệm về một thời gian khốn khó với gánh nặng mưu sinh nhưng thơ Nguyên Bình không bi lụy, than vãn dù vẫn vương lại chút dư vị buồn:

Cùng lắm thì anh quẹt ga đốt trầm xông

hu hồn con cơ tình bò trên giấy

chiếc muỗng gãy đôi

trái tim gỗ cựa quậy

cô hàng ơi

cho anh xin tí đường...

(Nhớ những gì sẽ xa).

Thắp nến tôi để dành là vườn thơ tình yêu với đủ hương thơm, sắc màu và giọng điệu. Chủ thể có lúc nhập vai nhân vật trữ tình, có lúc tự phân thân thành hai nhân vật tự đối thoại về tình yêu lứa đôi. Có lúc là tình yêu tinh khôi, ngọt ngào và mê đắm:  Thức dậy tìm em/tóc rối xanh xưa xỏa mềm trên gối trắng/ vòng tay ôm cõi xa thăm thẳm/ có đủ ấm tình nhau (Cuối năm rồi). Có lúc trở về với bộn bề cảm xúc: trong tiết lạnh se se, dấu hương của hò hẹn đánh thức và chút buồn khe khẽ của nỗi nhớ vương mang đã tạo nên tứ thơ đẹp:  

Một chút lạnh se se ngoài sân vắng

một chút hương lưu dấu buổi hẹn hò

một chút nhớ tủi hờn sau ngực áo

một chút buồn khe khẽ rắc tàn tro

(Hoang vu)

Rất nhiều bài thơ viết về tình yêu mãnh liệt được mĩ lệ hóa qua những hình ảnh của đất trời cây cỏ: Trời đất rộng mà tình yêu duy nhất/vũ trụ mênh mông ta chọn dải ngân hà/ em hãy sáng như ngôi sao bất tử/ ta sẽ hái về từ mộng dấu yêu xa

(Quán trọ mùa đông), Trái tim xanh đã cháy hết mùa thu/ khi lá biếc vừa nhuốm vàng cuống nhớ/heo may em đi qua mùa trăn trở/ôi ngập ngừng tình lỡ với tình không…(Trái tim mùa thu), Trong đêm sâu/hai vì sao thức trắng/bờ hoang nhiên/tinh tú gối tay nằm/linh hồn ta/dạo qua chòm nhân mã/chạm thiên thu/vỡ một khúc nguyệt cầm.(Bóng thời gian). Niềm khát khao bỏng cháy đón nhận tình yêu được đo bằng ánh sáng dịu mát của vầng trăng, dòng chảy mềm mại mờ ảo trong khói mây của sông Ngân, vẻ đẹp lộng lẫy của vườn hoa thạch thảo:

Ta đứng chờ em

bên bờ sông Ngân huyền hoặc

gieo vần thơ vào mùa thu

vườn thạch thảo nở bừng hương sắc

bung lụa là

cả vầng trăng rót mật

ngọt lịm một mùa yêu

(Mũi tên vàng)

Tình yêu là đề tài muôn thuở cũng là mảnh đất mỡ màu để thi nhân gieo trồng và vun sới theo cách riêng của mình. Nói như Philip Larkin: “Mỗi bài thơ là một vũ trụ duy nhất, do đó không có cái gọi là truyền thống, một huyền thoại chung trong mỗi bài thơ của các nhà thơ khác nhau…” Gần gũi và chia xa, thủy chung và lừa dối là những mặt trái ngược trong tình yêu và đạo lí làm người. Nguyên Bình đã có những phá cách táo bạo để biểu đạt những phức điệu ấy bằng những ẩn dụ tinh tế:

Em cởi chiếc áo tình nhân
trả tôi màu hoang đường không có thật
sắc màu loài người đánh mất
bằng ánh mắt dối lừa nhau.

 

Tôi ngu ngơ thương tia sáng nhiệm mầu
ngu ngơ yêu tiếng cười pha lê vỡ
yêu bàn tay bé nhỏ
em siết chưa tròn một nỗi cô đơn

 (Phơi áo)

Để chuyển tải nhất quán những mảng màu ánh sáng trong Thắp nến tôi để dành, nhà thơ đã khai thác đa dạng đề tài, phong phú về thể loại và có những cách tân trong cách xây dựng tứ thơ, lựa chọn và xử lí ngôn ngữ, ngắt nhịp theo lối viết hiện đại. Những thi ảnh được sử dụng táo bạo đã tạo nên hiệu quả thẩm mĩ cao: Chiều lạc bước/ chiều rơi vàng lối nhỏ/gió chưa sang/ sợi nắng úa thầm thì ( Bóng thời gian). Hệ thống từ láy được sử dụng đậm đặc đã diễn tả tinh tế trạng thái của cảnh vật, con người: Thu chưa xa mà cúc tím rưng rưng/ phơn phớt gió xua đôi tà áo mỏng/ rơm rớm nắng hoe vàng hong số phận/ xao xác hồn từng chiếc lá me bay…(Trái tim mùa thu), Mắc chiếc áo màu tình yêu lên liềm trăng/ mới hôm qua thôi mà biếc xanh đã nhạt ( Phơi áo). Nhà thơ sử dụng nhiều phép so sánh, ẩn dụ, nhân hóa sáng tạo: Ai rót hương mà đầy khuông nhạc/ dòng kẻ xanh như ngón tay gầy (Nắng đầu mùa). Những so sánh độc đáo này mở ra trường liên tưởng rộng, nhờ vậy tránh được sự sáo mòn của sự biểu đạt ngôn ngữ thông thường:

Lời hờn ghen như bóng gã thủy triều

tràn lấp em rồi hồn nhiên rút chạy

bờ quạnh hiu dịu êm muôn đời ấy

thùy dương xanh xanh thắm lá đợi chờ

(Quay về)

Nguyên Bình viết nhiều thể thơ năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, tám chữ hiện đại, lục bát nhưng- như anh chia sẻ, thể thơ anh yêu thích và thành công hơn cả là thể thơ tự do. Với tư duy mở rộng biên độ về không gian, thời gian và những phức điệu tâm trạng của nhân vật trữ tình, thể thơ tự do là sự lựa chọn sáng suốt của tác giả.  Thơ lục bát của Nguyên Bình ngọt ngào, mềm mại, giàu nhạc tính, cách ngắt nhịp thả chữ hiện đại nhưng vẫn giữ được hồn cốt, tinh hoa của thơ ca truyền thống: Gieo vần/lạc khúc ca dao/ngàn sau ai biết/vì sao/nổi chìm.../Lật tung tiền kiếp soi tìm/thì ra/ mắc nợ/ lời nguyền xửa xưa (Lời nguyền xưa).

Phương Lựu từng nói: “Nghệ thuật là lĩnh vực của sự độc đáo vì vậy nó đòi hỏi người viết sự sáng tạo phong cách mới lạ, thu hút người đọc”. Thắp nến tôi để dành

là tập thơ thứ tư của Nguyên Bình đã khẳng định nét riêng trong cách biểu đạt và bản lĩnh của một cây bút chuyên nghiệp. Sự nghiêm túc và niềm đam mê trong lao động nghệ thuật đã giúp anh đạt được những thành công nhất định.

 

Trang bản thảo cuối cùng đã khép lại nhưng dư âm và những dòng thơ của Nguyên Bình cứ chầm chậm ngân nga và trò chuyện như nhắn nhủ và mời gọi.

Mùa thu hững hờ rắc hạt nhớ vào trăng
ta vun liếp gieo mầm thương mây trắng
heo may khóc trên bến xưa hoang vắng
ngày buồn rơi thả giọt nắng cuối mùa
... (Cuối mùa)

Giữa những bộn bề và hối hả của cuộc sống đương đại, vẫn có một người thơ cần mẫn gieo trồng, vun đắp trên cánh đồng chữ nghĩa nhọc nhằn để dâng hiến cho nghệ thuật. Xin chúc nhà thơ Nguyên Bình dồi dào bút lực và thành công trong hành trình sáng tác của mình.

T.P HCM 1/5/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm