TIN TỨC

Dấu ấn anh hùng – Bút ký Trần Thế Tuyển

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-08-15 22:07:50
mail facebook google pos stwis
1144 lượt xem

Nhân kỷ niệm 75 năm thành lập Trung đoàn 174 (19/8/1949- 19/8/2024)

Trần Thế Tuyển 

Trong kháng chiến chống Mỹ, tôi may mắn được giao chép sử Trung đoàn 174 (đoàn Cao Bắc Lạng). Sau ngày giải phóng (30-4-1975), tôi lại thêm một lần may mắn nữa: trở lại chiến trường xưa, nơi Trung đoàn đã chiến đấu và gặp lại những người con ưu tú đã góp phần xây nên truyền thống vẻ vang của đơn vị hai lần được tuyên dương danh hiệu Đơn vị AHLLVT ND.

 

MỘT 

Năm 2019, chúng tôi có cuộc hành hương về cội nguồn. Trước khi đến địa danh Trung đoàn thành lập, dừng chân tại Hà Nội, các cựu chiến binh của Trung đoàn 174 dẫn chúng tôi đến thăm hai nhân vật nổi tiếng. Đó là bác Đặng Văn Việt, trung đoàn trưởng đầu tiên và bác La Văn Cầu, Anh hùng đầu tiên của quân đội ta do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Huy hiệu của Người. Năm ấy, bác Việt đã gần 100 tuổi. Người mảnh khảnh như tàu lá, nhưng đầu óc bác vẫn sáng suốt, minh tuệ: “Tôi chỉ phục vụ trong quân đội 15 năm, nhưng đó là khoảng thời gian đáng nhớ nhất của cuộc đời. Tôi đã trực tiếp chỉ huy đánh 120 trận, trong đó có 116 trận thắng, bốn trận thua. Tôi rất may mắn và tự hào được làm lính - Bộ đội Cụ Hồ. Đến nay, tôi vẫn thích người ta gọi mình là người lính già - lính Cụ Hồ. Và, cả biệt danh “Hùm xám đường 4” nữa. Nó khơi gợi lại một thời tuổi trẻ, hào hùng, vừa oanh liệt, vừa lãng mạn...” Bác Việt chia sẻ. 

Xuất thân từ gia đình quan lại triều đình Huế, đang học bác sĩ, Đặng Văn Việt gác bút nghiên tham gia đánh Pháp. Với tài chỉ huy của ông, Đặng Văn Việt đã chỉ huy Trung đoàn 174 ghi nhiều chiến công trên mặt trận Biên giới, đặc biệt trận đánh cứ điểm Đông Khê. Địch gọi Đặng Văn Việt là “hổ xám đường số 4” và treo nhiều giải thưởng cho ai bắt được Đặng Văn Việt. Vị Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn 174 lẫy lừng chiến công ấy, đường công danh không may mắn, nay đây mai đó. Cùng thời với Đặng Văn Việt, ông Chu Huy Mân, chính uỷ Trung đoàn 174 sau này lên tới Đại tướng- Chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị QĐNDVN; còn ông Việt vẫn mang quân hàm Trung tá. Trung tá Việt là trường hợp đặc biệt. Chúng tôi đến thăm ông tại bệnh viện Hữu nghị Việt- Xô tận mắt chứng kiến các tướng nhiều sao đến thăm thủ trưởng cũ với tình nghĩa đồng đội sắt son. 

Khi ông Việt làm trung đoàn trưởng thì bác La Văn Cầu làm tổ trưởng tổ bộc phá. Trận đánh cứ điểm Đông Khê, La Văn Cầu bị thương. Ông đã nhờ đồng đội cắt đứt cánh tay của mình để tiếp tục chiến đấu. La Văn Cầu là một trong những người đầu tiên của quân đội ta được phong danh hiệu Anh hùng Quân đội. Gặp chúng tôi, bác La Văn Cầu nói: “Tôi được phong anh hùng thì thủ trưởng Đặng Văn Việt phải được 2 lần nhận danh hiệu cao quý này”.

Trung đoàn 174 không chỉ có những người lính Cụ Hồ huyền thoại ấy mà còn là nơi đào tạo, rèn luyện cho quân đội ta các tướng lĩnh lừng danh như: Đại tướng Chu Huy Mân, Đại tướng Lương Cường, Thượng tướng Nguyễn Hữu An, Trung tướng Đàm Văn Nguỵ, Thiếu tướng Vũ Cam…

 

HAI 

Nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lần đầu tiên tôi được ra thăm mảnh đất thiêng đã thấm biết bao xương máu của cán bộ chiến sĩ ta, trong đó có các liệt sĩ của Trung đoàn 174. Ra nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên, bên cạnh các ngôi mộ có đầy đủ thông tin như anh hùng Bế Văn Đàn, anh hùng Phan Đình Giót… còn rất nhiều ngôi mộ vẫn ghi: Liệt sĩ Vô danh thuộc Trung đoàn 174. Mắt tôi nhoè đi. Những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ 20, là trợ lý tuyên huấn Trung đoàn, chúng tôi đã thuộc hết danh xưng và chiến công của các vị anh hùng lừng danh này. May mắn và hãnh diện, không nghĩ có ngày được đến tận nơi thắp hương thơm lên các ngôi mộ của những anh hùng lừng danh ấy.

Năm 2020, trở lại Tây Nguyên xây dựng bia ghi danh các liệt sĩ của Trung đoàn hy sinh trong trận Đắc Tô- Tân Cảnh. Mắt tôi lại nhoè đi khi đặt chân lên điểm cao 875, nơi 1967 cán bộ chiến sĩ của Trung đoàn đã đánh giáp lá cà, đến viên đạn cuối cùng với lính Mỹ thuộc Lữ dù 173 khét tiếng thời bấy giờ. Nghe các bác CCB trực tiếp tham gia trận đánh này kể lại: chung cuộc, hàng trăm xác lính Mỹ và thi hài bộ đội ta chồng chất trên đồi. Mỹ đã dùng bom na pan thiêu cháy. Không chỉ thân thể các liệt sĩ Trung đoàn 174 đã “biến thành đất đai của Tổ quốc” ở Điện Biên, Đắc Tô, Tân Cảnh…mà còn ở Lộc Ninh, An Lộc, ở Long Khốt, Tân An và dằng dặc trên biên giới Tây Nam và nước láng giềng Cam Pu Chia…

 

BA

Chiến tranh lùi xa không chỉ nửa thế kỷ mà còn hơn thế nữa. Món nợ của người đang sống với đồng đội đã hy sinh vì Tổ quốc thật khôn nguôi. Những CCB của Trung đoàn 174 sống sót sau các cuộc chiến tranh tâm niệm đồng đội cử mình ở lại để làm tiếp công việc mà các liệt sĩ chưa làm xong. Đó là chăm sóc mẹ già, con em của họ. Lại thêm món nợ nữa là đi tìm đồng đội, xác định danh tính hàng  vạn ngôi mộ liệt sĩ chưa đầy đủ thông tin và hỗ trợ tìm kiếm, đưa hài cốt liệt sĩ về quê. Ở tuổi thất tuần và hơn thế nữa, nghỉ hưu nhưng các ông vẫn thiện nguyện làm việc nghĩa tình, tham gia Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ TP HCM để đi tìm đồng đội và hỗ trợ gia đình liệt sĩ đang gặp khó khăn. Đội ngũ đó có hàng trăm người, tiêu biểu là các CCB : Nguyễn Văn Bạch, Lê Thanh Song, Trình Tự Kha, Nguyễn Đồng Bằng, Vũ Văn Dán, Phùng Ngọc Đồng, Nguyễn Minh Sơn, Bùi Xuân Tiến, Lê Thành Đại… Theo cách của mình, các ông tiếp tục cống hiến để tri ân đồng đội,  góp phần làm vơi đi nỗi mất mát, đau thương của các gia đình liệt sĩ, thương binh. Các ông thật xứng đáng là  CCB của Trung đoàn 174 (đoàn Cao Bắc Lạng) hai lần anh hùng; xứng đáng với đồng đội đã hy sinh vì đất nước ./. 

TTT

Bài viết liên quan

Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm