TIN TỨC

Đêm trở giấc của nhà thơ Lê Viết Hòa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-12-09 06:10:38
mail facebook google pos stwis
1270 lượt xem

LỆ HỒNG

 

Đêm
 

Đêm - nghe gió hát bên thềm

Giọt mưa gõ nhịp cho mềm lời ru

Rằng

vừa trở giấc tàn thu

Đã nghe vàng lá xa mù

trùng khơi

 

Đêm

nghe nhịp phách ru đời

Điệu chầu văn

sóng

chơi vơi mạn thuyền

Rằng

trăn trở giấc tàn đêm

Đã nghe hồn thoáng mông mênh ngút ngàn

 

Đêm

nghe nhịp bước lang thang

Lập lòe đốm lửa

hoa đăng

tiễn hồn

Răng

kinh cầu nguyện vô ngôn

Đã nghe xa xót mạch nguồn tang thương

 

Đêm

nghe rụng cánh tà dương

Bên bờ ảo giác

khói sương vật vờ

Rằng

ru khúc hát ngu ngơ

Đã nghe dư lệ khóc hờ tuổi xuân

 

Đêm

nghe nhịp bước xoay vần

Đóa sen hông nở giữa trần thị phi

Rằng

người

rồi cũng

về - đi

Trái tim nhịp đập

vô vi

đóa thiền…

                                        (Rút từ tập thơ “Kiếm thơ trong thiền”)

 

Không phải đến bây giờ nhà thơ Lê Viết Hòa mới tìm thấy thơ trong thiền. Người con đất kinh thành hẳn đã được ru bằng những điệu hò Huế thương, được ôm ấp trong từng lớp sóng vỗ mạn thuyền lách cách. Thơ thức dậy và nuôi dưỡng hồn anh để anh có thể tận tâm làm một thầy thuốc yêu nghề, một người cha yêu con vô điều kiện, và để có thể sống tháng ngày an yên cùng niềm đam mê với văn chương.

Đôi khi có những đêm trở giấc, anh lặng mình mơ về một khoảng trời xanh nào đó, một dáng huyền bồng bềnh xa ngái? suối nguồn yêu lại quay về réo rắc cung đàn.

“Đêm - nghe gió hát bên thềm

Giọt mưa gõ nhịp cho mềm lời ru”

‘Đêm’ như người bạn tri âm không bao giờ ngủ. Này, có nghe gió hát không? gần lắm mà hoang vu lắm. Thế nên mưa rơi tí tách đi, chỉ gió thôi không đủ để vuốt ve trái tim nứt nẻ. Vì rằng;

“Rằng

vừa trở giấc tàn thu

Đã nghe vàng lá xa mù

trùng khơi”

Lại thủ thỉ ‘Rằng’ như thể đêm nghe và hiểu sóng lòng anh nhức nhối. Lời tự trần cho cõi riêng heo hút lại nở ra, lại nghe trùng khơi sóng dội về. Tâm nghe tiếng cựa mình của lá, tiếng răng rắc vỡ vụn chiếc lá vàng, hay các giác quan đã già cội. Thu lạnh trú ngụ trong anh như nhắc nhớ mùa vắng vẫn còn đây, dẫu giấc tàn thu có làm tim anh hôi hổi.

“Đêm

nghe nhịp phách ru đời

Điệu chầu văn

sóng

chơi vơi mạn thuyền”

Đêm từng đêm khắc khoải, không gian đầy gió trở, nên đời mãi đong đưa từng nhịp phách. Nhà thơ đã gọi đêm như một phản xạ có điều kiện, một thói quen chẳng hề mong muốn. Sóng thôi đừng vỗ điệu chầu văn, chiếc thuyền độc mộc lặng tờ dưới vành trăng mỏng sẽ ai oán lắm! Nỗi cô đơn lại sẽ luồn vào mộng, anh không thể tự mình thoát bay. Giữa mênh mông sương trắng, anh chới với nghe hồn tương tư.

“Rằng

trăn trở giấc tàn đêm

Đã nghe hồn thoáng mông mênh ngút ngàn”

Ngẫm mình cũng từng có những đêm lay lắt, may mắn mộng vàng ru lại giấc mơ ngoan. Thế nên, để có thể hiểu được điệp từ lập lại “Đêm và Rằng” của nhà thơ phải là những đêm trắng hoang hoải, cả nỗi sợ hãi bủa vây.

“Đêm

nghe nhịp bước lang thang

Lập lòe đốm lửa

hoa đăng

tiễn hồn

Rằng

kinh cầu nguyện vô ngôn

Đã nghe xa xót mạch nguồn tang thương”

Không! Không phải đom đóm đùa giỡn với anh, không phải những vì sao mai lấp lóa xoa dịu bóng anh, mà là hoa đăng tiễn hồn theo đốm lửa lập lòe. Thật bàng hoàng, nỗi ám ảnh vàng lên đôi mắt. Hình ảnh ngắc ngứ lắp đầy cả mạch thơ làm ta bối rối, cảm thương! Âm vọng từ lời nguyện cầu nấc nghẹn không thể thoát bay, thì sao anh có thể bước được rồi lang thang mãi trong vùng khói trắng.

Chúng ta ít nhiều đều đi qua mất mát. Có người nuốt nước mắt vào lòng, ém nỗi đau vào một góc trái tim và lăn lê với bóng, hay mạnh mẽ mỉm cười vì ta còn hiện hữu giữa trời xanh. Mỗi cảm xúc đi qua đời ta đều là dấu son, tuy có buốt giá hoặc bỏng cháy thì những xót xa sẽ thêu hoa lên dĩ vãng. Với nhà thơ, có đớn đau nhưng ký ức đọng lại đã là một thời hạnh phúc. Vì quá hạnh phúc nên sẽ đau lâu…? Phải chăng thấp thoáng đâu đấy còn là những mảnh băng cô độc, nức vỡ vì tâm hồn giá lạnh. Nhà thơ cảm được mạch thở của đêm không chỉ bằng tình yêu đôi lứa mà bằng cả trái tim yêu với con người và đất.

“Đêm

nghe rụng cánh tà dương

Bên bờ ảo giác

khói sương vật vờ

                              Rằng

ru khúc hát ngu ngơ

Đã nghe dư lệ khóc hờ tuổi xuân”

Cả hai khổ thơ được miêu tả như bức tranh thu ẩn vào đời anh, và đợi hoàng hôn phủ tím vòm tây hồn tranh mới thoát ra hiện về. Thế sao anh đã nghe dư lệ thầm thì! Có vẻ ngay cả khi bình minh rực sáng trời đông thì khói hương lãng bãng vẫn bủa vây muôn trùng. Lời thơ ví giặm như tưởng niệm tuổi xuân phai, viên xá lợi đen mãi ngủ yên cùng năm tháng. Xa xót quá một đời yêu trong thinh lặng. Nhà thơ phơi lòng ‘ta và người’ cùng đêm cay xé, xúc cảm có vượt ngưỡng thì ông vẫn gượng.

                    “Đêm

nghe nhịp bước xoay vần

Đóa sen hồng nở giữa trần thị phi”

Đôi mắt nâu khô xuyên suốt cả miên trường, bởi lẽ ánh sáng được soi thấu từ khát khao mầm xanh cuộc sống, vầng dương lại thong dong đùa bỡn với mây mù. Song, để nỗi lòng mắc cạn có được cứu rỗi, thì cần lắm những đóa sen đời nở sắc long lanh. Giữa một vùng đầm lầy dù nắng mưa có làm nước trong vẩn đục, hương thiền vẫn tỏa ngát giữa trời trăng. Hiểu được sự sống đẹp và cũng vô thường nên nhà thơ trân quý cả những đêm mù hoang hoải.

“Rằng

người

rồi cũng

về - đi

Trái tim nhịp đập

vô vi

đóa thiền…”

Từ vùng khói lam trong ánh mắt vô vọng đến được sự vô vi trong cõi người là con đường không điểm kết. Ai có thể và ai ngần ngừ quay bước! Nhà thơ đang cần mẫn làm một lữ hành về phương đông chăng? Với rất nhiều tác phẩm được ra đời như thơ “Dạ khúc cội nguồn - Gieo mùa lục bát - Chảy qua đời tôi…”. Cùng các truyện, ký, tùy bút như: “Ám thị tuổi thơ - The Childhood Obsession - Những dòng tâm sự và mười sáu tình khúc không tên của nhà thơ Lê Viết Hòa và nhạc sĩ Vũ Thành An…”. Có lẽ đến một lúc nào đó, giữa trần thị phi một đóa sen khô nhô lên từ đất cỗi và bung cánh trong nắng xuân vàng.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm