TIN TỨC

Đêm trở giấc của nhà thơ Lê Viết Hòa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-12-09 06:10:38
mail facebook google pos stwis
1554 lượt xem

LỆ HỒNG

 

Đêm
 

Đêm - nghe gió hát bên thềm

Giọt mưa gõ nhịp cho mềm lời ru

Rằng

vừa trở giấc tàn thu

Đã nghe vàng lá xa mù

trùng khơi

 

Đêm

nghe nhịp phách ru đời

Điệu chầu văn

sóng

chơi vơi mạn thuyền

Rằng

trăn trở giấc tàn đêm

Đã nghe hồn thoáng mông mênh ngút ngàn

 

Đêm

nghe nhịp bước lang thang

Lập lòe đốm lửa

hoa đăng

tiễn hồn

Răng

kinh cầu nguyện vô ngôn

Đã nghe xa xót mạch nguồn tang thương

 

Đêm

nghe rụng cánh tà dương

Bên bờ ảo giác

khói sương vật vờ

Rằng

ru khúc hát ngu ngơ

Đã nghe dư lệ khóc hờ tuổi xuân

 

Đêm

nghe nhịp bước xoay vần

Đóa sen hông nở giữa trần thị phi

Rằng

người

rồi cũng

về - đi

Trái tim nhịp đập

vô vi

đóa thiền…

                                        (Rút từ tập thơ “Kiếm thơ trong thiền”)

 

Không phải đến bây giờ nhà thơ Lê Viết Hòa mới tìm thấy thơ trong thiền. Người con đất kinh thành hẳn đã được ru bằng những điệu hò Huế thương, được ôm ấp trong từng lớp sóng vỗ mạn thuyền lách cách. Thơ thức dậy và nuôi dưỡng hồn anh để anh có thể tận tâm làm một thầy thuốc yêu nghề, một người cha yêu con vô điều kiện, và để có thể sống tháng ngày an yên cùng niềm đam mê với văn chương.

Đôi khi có những đêm trở giấc, anh lặng mình mơ về một khoảng trời xanh nào đó, một dáng huyền bồng bềnh xa ngái? suối nguồn yêu lại quay về réo rắc cung đàn.

“Đêm - nghe gió hát bên thềm

Giọt mưa gõ nhịp cho mềm lời ru”

‘Đêm’ như người bạn tri âm không bao giờ ngủ. Này, có nghe gió hát không? gần lắm mà hoang vu lắm. Thế nên mưa rơi tí tách đi, chỉ gió thôi không đủ để vuốt ve trái tim nứt nẻ. Vì rằng;

“Rằng

vừa trở giấc tàn thu

Đã nghe vàng lá xa mù

trùng khơi”

Lại thủ thỉ ‘Rằng’ như thể đêm nghe và hiểu sóng lòng anh nhức nhối. Lời tự trần cho cõi riêng heo hút lại nở ra, lại nghe trùng khơi sóng dội về. Tâm nghe tiếng cựa mình của lá, tiếng răng rắc vỡ vụn chiếc lá vàng, hay các giác quan đã già cội. Thu lạnh trú ngụ trong anh như nhắc nhớ mùa vắng vẫn còn đây, dẫu giấc tàn thu có làm tim anh hôi hổi.

“Đêm

nghe nhịp phách ru đời

Điệu chầu văn

sóng

chơi vơi mạn thuyền”

Đêm từng đêm khắc khoải, không gian đầy gió trở, nên đời mãi đong đưa từng nhịp phách. Nhà thơ đã gọi đêm như một phản xạ có điều kiện, một thói quen chẳng hề mong muốn. Sóng thôi đừng vỗ điệu chầu văn, chiếc thuyền độc mộc lặng tờ dưới vành trăng mỏng sẽ ai oán lắm! Nỗi cô đơn lại sẽ luồn vào mộng, anh không thể tự mình thoát bay. Giữa mênh mông sương trắng, anh chới với nghe hồn tương tư.

“Rằng

trăn trở giấc tàn đêm

Đã nghe hồn thoáng mông mênh ngút ngàn”

Ngẫm mình cũng từng có những đêm lay lắt, may mắn mộng vàng ru lại giấc mơ ngoan. Thế nên, để có thể hiểu được điệp từ lập lại “Đêm và Rằng” của nhà thơ phải là những đêm trắng hoang hoải, cả nỗi sợ hãi bủa vây.

“Đêm

nghe nhịp bước lang thang

Lập lòe đốm lửa

hoa đăng

tiễn hồn

Rằng

kinh cầu nguyện vô ngôn

Đã nghe xa xót mạch nguồn tang thương”

Không! Không phải đom đóm đùa giỡn với anh, không phải những vì sao mai lấp lóa xoa dịu bóng anh, mà là hoa đăng tiễn hồn theo đốm lửa lập lòe. Thật bàng hoàng, nỗi ám ảnh vàng lên đôi mắt. Hình ảnh ngắc ngứ lắp đầy cả mạch thơ làm ta bối rối, cảm thương! Âm vọng từ lời nguyện cầu nấc nghẹn không thể thoát bay, thì sao anh có thể bước được rồi lang thang mãi trong vùng khói trắng.

Chúng ta ít nhiều đều đi qua mất mát. Có người nuốt nước mắt vào lòng, ém nỗi đau vào một góc trái tim và lăn lê với bóng, hay mạnh mẽ mỉm cười vì ta còn hiện hữu giữa trời xanh. Mỗi cảm xúc đi qua đời ta đều là dấu son, tuy có buốt giá hoặc bỏng cháy thì những xót xa sẽ thêu hoa lên dĩ vãng. Với nhà thơ, có đớn đau nhưng ký ức đọng lại đã là một thời hạnh phúc. Vì quá hạnh phúc nên sẽ đau lâu…? Phải chăng thấp thoáng đâu đấy còn là những mảnh băng cô độc, nức vỡ vì tâm hồn giá lạnh. Nhà thơ cảm được mạch thở của đêm không chỉ bằng tình yêu đôi lứa mà bằng cả trái tim yêu với con người và đất.

“Đêm

nghe rụng cánh tà dương

Bên bờ ảo giác

khói sương vật vờ

                              Rằng

ru khúc hát ngu ngơ

Đã nghe dư lệ khóc hờ tuổi xuân”

Cả hai khổ thơ được miêu tả như bức tranh thu ẩn vào đời anh, và đợi hoàng hôn phủ tím vòm tây hồn tranh mới thoát ra hiện về. Thế sao anh đã nghe dư lệ thầm thì! Có vẻ ngay cả khi bình minh rực sáng trời đông thì khói hương lãng bãng vẫn bủa vây muôn trùng. Lời thơ ví giặm như tưởng niệm tuổi xuân phai, viên xá lợi đen mãi ngủ yên cùng năm tháng. Xa xót quá một đời yêu trong thinh lặng. Nhà thơ phơi lòng ‘ta và người’ cùng đêm cay xé, xúc cảm có vượt ngưỡng thì ông vẫn gượng.

                    “Đêm

nghe nhịp bước xoay vần

Đóa sen hồng nở giữa trần thị phi”

Đôi mắt nâu khô xuyên suốt cả miên trường, bởi lẽ ánh sáng được soi thấu từ khát khao mầm xanh cuộc sống, vầng dương lại thong dong đùa bỡn với mây mù. Song, để nỗi lòng mắc cạn có được cứu rỗi, thì cần lắm những đóa sen đời nở sắc long lanh. Giữa một vùng đầm lầy dù nắng mưa có làm nước trong vẩn đục, hương thiền vẫn tỏa ngát giữa trời trăng. Hiểu được sự sống đẹp và cũng vô thường nên nhà thơ trân quý cả những đêm mù hoang hoải.

“Rằng

người

rồi cũng

về - đi

Trái tim nhịp đập

vô vi

đóa thiền…”

Từ vùng khói lam trong ánh mắt vô vọng đến được sự vô vi trong cõi người là con đường không điểm kết. Ai có thể và ai ngần ngừ quay bước! Nhà thơ đang cần mẫn làm một lữ hành về phương đông chăng? Với rất nhiều tác phẩm được ra đời như thơ “Dạ khúc cội nguồn - Gieo mùa lục bát - Chảy qua đời tôi…”. Cùng các truyện, ký, tùy bút như: “Ám thị tuổi thơ - The Childhood Obsession - Những dòng tâm sự và mười sáu tình khúc không tên của nhà thơ Lê Viết Hòa và nhạc sĩ Vũ Thành An…”. Có lẽ đến một lúc nào đó, giữa trần thị phi một đóa sen khô nhô lên từ đất cỗi và bung cánh trong nắng xuân vàng.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm