TIN TỨC

Đi từ những dẫn gợi của nhà văn Thanh Châu

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-03-28 23:32:47
mail facebook google pos stwis
2798 lượt xem

NGUYÊN AN

Nếu không được gặp và trò chuyện - đúng hơn là nghe chuyện, với nhà văn Thanh Châu, chắc tôi chỉ biết chứ chả hiểu được bao nhiêu về cuộc đời và một ít đặc sắc trong văn nghiệp các nhà văn khác như Bùi Hiển, Hồ Dzếnh và Vũ Đình Liên, Phan Khắc Khoan...

Nhà văn Thanh Châu (1912- 2007)

Nhà thơ Ngô Quân Miện và nhà thơ Vân Long hẹn đưa tôi đến với nhà văn Thanh Châu, như đọc được vẻ băn khoăn của tôi, vào hai lần khác nhau, hai anh đều nói như hỏi tôi một câu, đại ý: "Sao Nguyên An lại không biết ông Thanh Châu nhỉ?". Tôi không tiện trả lời, vì sự biết của mỗi người, liệu đã được coi là đủ chưa? Mà khi cảm thấy chưa đủ, thì cứ hồi hộp và ngần ngại thế nào.

Tôi tìm đọc thêm tác phẩm của Thanh Châu đã. Bây giờ sách báo nhiều, dễ tìm, chứ ba, bốn chục năm trước, đâu có thuận. Đây là may cho tôi, lại do chính văn tài và cái khối tình đời nồng hậu của các ông - lứa nhà văn tiền bối khả kính của nền văn chương mới ở nước ta mang lại: Số là, tôi tìm gặp, hỏi lần qua người này, tiếp đến các vị khác, có ông là văn sĩ, thi gia, có người không sáng tác, mà chỉ đọc - đọc bền bỉ những Thanh Châu, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài... dễ đã nửa thế kỷ nay, dưới bom đạn chiến tranh với mấy lần tản cư, sơ tán, qua bao tháng bao ngày đi chiến dịch, làm dân công hay bộ đội, viên chức... Thì ra, những bậc cha chú này đã "nghiền" văn phẩm của các đấng bậc kia từ bao giờ! Họ cất giữ những trang in tác phẩm Thanh Châu từ thời Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939) và trước nữa rồi chuyền tay nhau đọc; họ còn nhờ ai đó chép tác phẩm của Thanh Châu (đâu như khoảng những năm 1950) vì bản in đã ố cũ quá rồi. Tôi mê mải đọc các truyện: Bó hoa quá đẹp, Cơn giông, Hoa tigôn, Rước xuân vào, Cái ngõ tối... từ các bản in cũ, từ các bản chép tay. Tôi như được gặp lại - đúng là gặp lại cuộc sống và tâm sự của cha mẹ mình, cô cậu chú bác mình thêm một lần nữa. Cái cách gọi quá đẹp (bó hoa, lời nói, việc làm...) tưởng mới quen dùng ở các năm 80,90 của thế kỷ XX này, hóa ra, đã được nhà văn dùng thật đắc địa, thoải mái từ 1934, 1936 trên tạp chí Tiểu thuyết thứ bảy rồi.

Ngày nhà văn Văn Tâm còn đi dạy học và chấm thi học sinh giỏi văn cấp III (tức trường PTTH bây giờ) có lần gặp tôi, ông kể và tán bình rất say sưa những văn phẩm, giai phẩm (từ của Văn Tâm) của Thanh Châu với Thạch Lam, Nguyễn Tuân, với Vũ Trọng Phụng rồi ông so sánh và trầm ngâm: Văn Thanh Châu quá đẹp, là giai phẩm cả... nhưng là văn giải trí, nhắc đến sầu thương mà vẫn là giải trí. Tôi bị cuốn hút theo sự say mê của người đồng nghiệp tài hoa. Sau này có lần nói lại với anh: Có lẽ anh nói chưa hẳn đúng, văn Thanh Châu buồn thương da diết mà ngụ ý nhiều lắm, không phải là giải trí đâu..

Ngồi với các nhà văn đích thị là văn nhân nhiều lần ở nhiều nơi với các bối cảnh khác nhau, dần dần tôi nghiệm ra một điều: Chính các ông - những tác giả lừng danh như những chủ tướng của văn đàn thì họ lại là những người rất ít nói chuyện kĩ thuật viết văn, dựng truyện. Gạn hỏi mãi, lựa lời ướm lời dẫn dụ vòng vèo mãi, như nể quý và "thương cho đời tạm", các ông mới kể cho đôi đoạn với một vài nguồn cơn - cái mà các thầy cô giáo dạy văn gọi là hoàn cảnh (xuất xứ) tác phẩm. Thế thôi, tôi đành liều dấn tiếp:

- Hình như trong nhân vật hoạ sư Lê Chất hay cái cậu bé trong truyện Cơn giông có nguyên mẫu?

Nhà văn Thanh Châu mỉm cười xa xăm:

- Cậu giáo về gặp ông Lam Hồng, ông Song Ngư mà hỏi. (Lam Hồng là cậu ruột tôi, Song Ngư là ba tôi).

Thấy tôi im lặng như háo hức, như bồn chồn nhà văn nói tiếp:

- Cậu đừng ngại, đừng sợ gì, mà ngại và sợ cũng chả được nào! Hay là gặp ông Bùi Hiển mà nghe.

Nhà văn Bùi Hiển vui vẻ và "thật thà" hơn, ông nhẩn nha:

- Cái thằng bé hay làm nũng hay hờn dỗi bà cô rồi về sau lại ân hận ấy là hình bóng ông Châu "lay" (tức ông Lam Hồng - Nguyên An); ngày ấy con nhà công chức khá giả đều thế cả. Truyện của ông Thanh Châu là kiểu tự truyện, có chất nguyên mẫu khá đậm, một lứa học trò trường Quốc học Vinh như bọn tôi, sau ra Hà Nội học tiếp ít nhiều đều thành nhân vật của ông ấy cả.

- Thế có ai thích, ai bực tác giả không?

- Có cả. Nhưng thích thì nhiều hơn. Cái buồn tủi cực khổ của thân phận mình, cái bồng bột non dại của mình... đều được nhà văn kể ra với một tấm lòng thông cảm, ưu ái cả đấy chứ.

- Nhà văn thì chả thù hận ghét bỏ gì đời?

- Không hẳn thế, nhưng viết văn là để giúp cho đời trong đẹp hơn. Đấy, Nguyên An đọc lại cái truyện anh Hai Tích vào cái đêm giao thừa mà xem.

Hai Tích là một thợ cắt tóc dạo trong truyện ngắn Rước xuân vào. Truyện này hình như đuợc đăng lần đầu trên tạp chí Tiểu thuyết thứ bảy số Tết - đầu năm 1941. Truyện ngắn gọn, viết khéo về quá trình tâm lý - ý nghĩ - tình cảm của một người thợ nghèo có lúc phẫn chí, và của cả vợ anh ta. Truyện ngắn đủ độ, và dường như chả thừa chi tiết nào, câu nào, chữ nào. Nhà văn đã gửi vào đấy bao nhiêu là thương quý, cảm thông và cả một niềm tin ở tính thiên lương, lòng vị tha vốn có ở những người nghèo khổ.

- Hình như bác viết truyện này để đưa ra một đối sánh?

- Anh nghĩ thế à? (Dạo ấy bác Thanh Châu không gọi tôi là cậu giáo, anh giáo nữa). Cũng có thể, nhưng là suy luận của nhà nghiên cứu thôi. Khéo mà xã hội học dung tục máy móc như người ta nói đấy! Tôi thì tôi cứ thấy và nghĩ sao thì viết ra vậy. Tôi đã đi lại ở cái xóm đê sông Lam, sông Hàm Rồng và sông Hồng Hà ở đoạn gần cập phố nhiều lần, nhiều năm. Người ta nghèo khổ mà bao bọc nhường nhịn cho nhau lắm, họ không bon chen và "vô sự" như dân trong phố...

Như chợt nhận ra mình bỗng nhiều lời, nhà văn nói lại, vẻ tâm sự:

- Bảo cho cậu hay nhé, đừng vội tin ở mấy ông văn nghệ mà thích làm chính trị suông, gọi cách viết này là chủ nghĩa cách viết kia là trường phái tư tưởng. Văn sĩ là phải làm việc tả chân chính từng mảnh đời xung quanh mình chứ còn làm gì nữa, tả và kể cho người ta biết đời, hiểu đời và đừng nản lòng để mà sống tiếp. Cậu ngẫm mà xem.

Nghe ông nói mấy câu này, tôi ngỡ như được gặp lại nhà văn Vũ Ngọc Phan thuở nào, lại như vừa ở nhà giáo sư Trương Chính đi ra:

Vâng, tôi đã theo lời ông, đã đọc lại, đọc tiếp truyện của ông sáng tác từ trước năm 1945 và sau đó, đọc cả các nhà văn cùng thời với ông và sau ông ít nữa... thì thấy là cái cách bênh vực người thấp cổ bé họng của ông và Nguyễn Công Hoan hay Ngô Tất Tố cũng khác nhau; cái cách cảm thông lớp người túng quẫn ở phố huyện hay thôn quê của ông với Thạch Lam, và cả Nam Cao cũng khác nhau.

Tôi nhớ lại, đâu như vào khoảng năm 1965 - 1966, ba tôi có kể lại là vào mấy năm 1957 - 1960 đang xốn xao chuyện Nhân văn - Giai phẩm, nhà văn Thanh Châu có gặp ba tôi, ngỏ ý muốn cùng nhau từ Hà Nội vào Vinh, qua Thanh Hóa và Diễn Châu chơi một chuyến cho đỡ căng thẳng, cho đỡ nhớ… Chẳng là ông vốn tên Ngô Hoan, Ngô là họ, Hoan là Diễn Châu, thủ phủ mấy trăm năm trước của châu Hoan. Nhà văn tương lai đã trải qua thời ấu nhi trường huyện trường tỉnh xứ Nghệ và nuôi mộng thơ văn từ buổi ấy. Khi viết đã thành, ông lấy bút danh Thanh Châu, là chữ ghép của Thanh Hóa (nơi sinh - quê mẹ) với Diễn Châu là quê cha. Tên khai sinh do cha mẹ định, còn bút danh do ông tự đặt ra thế, đủ biết con người này nặng tình xứ sở thế nào! Nhưng chuyến đi cũng không thực hiện được, ba tôi vào thăm mẹ ông tại thị xã Thanh Hóa, trong căn nhà vườn sạch sẽ, ghé vào cả phủ Diễn, rồi đến Vinh, dạo mấy nơi hồi đi học các ông thường qua lại. Sau đó ra kể cho ông hay. Nhà văn bần thần: “Biết lúc nào nhỉ, biết bao giờ đây…”. Ba tôi cũng kể: Thanh Châu rất thích trồng cây, nhất là cây có hoa, có hương thơm, ông trồng rau húng, rau mùi mà chỉ để hưởng hương chứ ít khi hái vào ăn. Cái thói quen này là từ bé, rất hiếm có thời ấy. Không biết có phải vì thế mà ông viết ra truyện Hoa tigôn, và trước đó là Bó hoa quá đẹp thơm lâu đến vậy? Thích làm vườn, nên dễ gần với đời sống cần lao của lớp bình dân là thế chăng?

Tôi thưa với bác Thanh Châu: Bác nhìn đời và kể, tả chuyện đời nghèo có phần giống nhà văn Hồ Dzếnh hơn? Có phải vì bác và ông ấy có tuổi ấu thơ và có cảnh li quê na ná như nhau? Nhà văn nhẹ nhàng:

- Thật thế à? Ở những truyện nào?

- Bàng bạc ở nhiều truyện, nhưng đậm nhất là ở cái truyện mà như một tản văn là truyện Về quê, rồi chuyện Cơn giông...

Nhà văn ngồi yên lặng, mấy ngón tay tì miết nhẹ góc bàn, đoạn ông cất giọng đều đều:

- Tôi cảm ơn anh. Nhưng ông Hồ Dzếnh viết sau tôi, ông ấy da diết với người quê cảnh quê đìu hiu lắm, thương vô cùng.

Nghe ông nói thế, tự nhiên tôi nhớ đến một đoạn trong truyện Về quê:

"Một vài ông khách đến chơi nhằm vào lúc đó, mân mê cái áo dệt bằng thứ gấm Tàu rất tốt mà khen ngợi mãi. Thực là cảm động! Thực là buồn, cái cảnh một bọn người hèn kém bám vào cái huy hoàng cũ của một người đã khuất để mà kiêu hãnh và thèm thuồng, giữa một cảnh đã suy vi nhưng vẫn cố giữ lấy nếp thế gia...".

Văn truyện của Thanh Châu hay có những đoạn luận đời xen vào như thế. Có đoạn như viết cho mai sau, mà bây giờ đọc vẫn gợi ý nghĩ suy. Đó là chỗ khác của ông với Hồ Dzếnh hay Thạch Lam.

Chuyển mạch chuyện, tôi định hỏi ông về những ngày tháng tham gia đợt tập kết 300 ngày giữa ta và quân Pháp với chính quyền Việt thân Pháp các năm 1954 - 1955, ông đã viết khá kịp thời hai truyện ký - phóng sự là: Những ngày trao trả tù binh (1954), Không rời quê hương (1955), ông đã cảm và nghĩ thế nào, để rồi sau đó chừng một năm, ông viết xong bài Mua hàng mậu dịch, thì như ngừng viết hay xuất bản luôn... nhưng gấp sổ tay lại, ngước nhìn lên, thấy nhà văn vẫn ngồi yên lặng như nãy giờ chưa ai nói với ai điều gì... Tôi băn khoăn, có phải mình đã làm ông chìm vào xa vắng? Như thế là được hay không được, phải hay không phải đây?

Thanh Châu như chợt nhớ ra, rằng bây giờ là ở đâu, ông chủ động:

- Thôi, hôm khác ta lại ngồi với nhau nhé!

Nếu đọc lại hai bài ký sự Những ngày trao trả tù binh Không rời quê hương của anh/ ông bộ đội cầm bút Thanh Châu, ta sẽ thấy là cái cách nhìn đời của nhà văn so với hơn hai mươi năm trước thì thấy đề tài và nhân vật đã có chuyển hoá rộng mở hơn, người dân quê trong tác phẩm của ông đã có những vẻ đẹp mới do kháng chiến và kiến quốc thành công buổi đầu đem lại, dẫu cuộc sống vẫn bộn bề, bút pháp của ông cũng nhanh hoạt hơn. Tuy vậy, vẫn ngờ ngợ một điều: Viết nhanh để phục vụ nhiệm vụ chính trị hình như là một trách nhiệm ông gắng hoàn thành, chứ văn ấy, có lẽ không phải là con đẻ của ông, không thích hợp với ông lắm.

Về sau, có bữa tôi đem ý nghĩ này nói với ông. Nhà văn cười, vẻ không ra vui cũng chẳng buồn đau gì, bảo:

- Anh đoán thế thật à? Anh dám nói cho ai biết ý nghĩ ấy nữa đây?

Tôi chỉ biết thưa:

- Dạ, cũng là vừa đọc vừa tìm vừa đoán thôi bác ạ.

Nhà văn đưa tay ra cho tôi bắt, ông nói: "Biết thế, biết thế".

Thực ra, chuyện không viết tiếp in thêm trên văn thi đàn vốn cũng là sự thường. Một đôi khi hình như chúng ta đã nghĩ quá thì phải? Sau nhà văn Thanh Châu ít lâu, đâu như từ khoảng 1968 - 1970 trở đi, nhà văn Kim Lân cũng chẳng sáng tác gì, nhà văn lão thành Nguyễn Công Hoan còn viết và đăng truyện ngắn về đề tài thành thị miền Nam đến mãi sau ngày Việt Nam thống nhất rồi cũng ngưng... Tất cả, âu cũng là hiện tượng nên coi là bình thường. Chỉ không bình thường là khi đã cạn vốn, vơi duyên mà cứ muốn có mặt, phải không? Lòng tự trọng và sự nâng niu bạn nghề nhắc nhở người cầm bút sự xuất hiện trên văn đàn sao cho phải. Ấy là tôi nghĩ thế. Tôi lại mang ý nghĩ này hỏi ông, xem có nghe được không. Nhà văn Thanh Châu bảo:

- Các anh nghĩ thế là chúng tôi mừng.

Rồi ông im lặng, gương mặt bình thản.

Mãi nhiều tháng năm về sau, và chắc là còn lâu lâu nữa, nhớ lại cái buổi sáng ngồi với ông trước ngày ông vào thành phố Hồ Chí Minh "Ở lâu lâu chưa biết lúc nào lại về Vinh, về Thanh hay ra Hà Nội...", tôi cứ thấy trang nghiêm và ấm áp mãi.

Một hôm, đang ngồi bàn việc của Hội đồng Khoa học Bảo tàng Văn học Việt Nam, nhà văn Phong Lê cười nói:

- Tôi đề nghị anh Nguyên An ghi nhớ cho ý này: Hiện vật của Bảo tàng văn học là tác phẩm, là giấy bút, là ảnh... các nhà văn đã đành, mà còn là vô vàn những mẩu chuyện về nhà văn để rồi qua đó ta biết được rất nhiều về lao động nhà văn cùng tư tưởng, nhân cách của họ nữa.

Có người nói theo:

- Nếu mà bê được ông Tô Hoài còn sống vào Bảo tàng Văn học cho ông ngồi đó một tuần vài giờ, để học sinh đến sờ vào áo ông, tay ông cho biết tác giả Dế mèn phiêu lưu ký là thế nào thì cũng hay đấy!

Nghe thế, tự nhiên tôi nhớ đến nhà văn Thanh Châu. Phải rồi, ông là đại diện cuối cùng của lứa văn nhân làm nên cuộc cải cách - đổi mới hiện đại hoá văn học Việt Nam ta từ đầu những năm 1930...

Nhà văn Thanh Châu vào Sài Gòn, ông được nhiều bạn văn nghệ và bạn đọc tìm đến thăm hỏi vui vẻ. Nhà thơ Vân Long bảo: Ông nhớ Hà Nội lắm, ông vẫn nhắc nhiều chuyện của câu lạc bộ bọn mình và muốn ra chơi.

Khi biết tôi đang chuẩn bị làm một tập chân dung nhà văn xứ Nghệ, ông rất vui. Trong thư viết ra, ông động viên và gợi ý lưu ý. Riêng phần mình, nhà văn Thanh Châu tự giới thiệu:

Tôi là người viết ở thế hệ 1930 - 1945, cùng thời với Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Tam Lang, Vũ Trọng Phụng (họ đều đã là người thiên cổ). NXB Khoa học Xã hội và Văn học trước đây đã in tuyển tập lớp 1930 - 1945, bạn đọc đã có thể đánh giá chúng tôi từ một số tác phẩm trong đó.

Lớp sau chúng tôi (như Bùi Hiển, Tô Hoài, Kim Lân) cũng đã có nhận xét công bình qua sáng tác trên sách báo về tôi trước và sau Cách mạng Tháng Tám.

Lớp trẻ bây giờ viết thật hay. Họ có hạnh phúc hơn những người viết trước cách mạng. Chắc chắn sẽ còn nhiều tác phẩm xứng đáng với Nhân dân, Tổ quốc ta.

Ở tuổi 95 như hiện nay, tôi còn tâm huyết với nghề là điều may mắn.

(Đoạn thư này tôi có chép lại rồi đưa vào cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, 2020, trang 1199)

Thư ông gửi tôi khá dài, chữ đẹp, tuy nhìn kỹ thấy đã có nét hơi run. Tôi hiểu là từng chữ trong câu "Ở tuổi 95... là điều may mắn", ông đã rất cân nhắc. Tính ông thế, nên văn ông mới đọc, cứ ngỡ là thơ thới lắm, song thực ra chi tiết nào, đoạn văn nào câu chữ nào cũng có ý riêng cả, rồi có mặt trong thiên truyện qua sự sắp đặt trước - sau của ông, chúng làm nên phong cách của ông: Hiền hoà tự nhiên, đôn hậu nghiêm trang, mà chặt chẽ.

Trở lại con đường đi tìm những đặc sắc của văn phẩm và con người nhà văn Thanh Châu, tôi muốn nhắc đến một kỉ niệm:

Sau vụ cháy kinh hoàng như thiêu rụi một phần ba thị xã Vinh vào mùa hè 1960, nhà tôi dọn đến một khu chung cư mới, ở cạnh nhà một anh Hoa kiều tên là Sáng. Anh Sáng chừng ngót 40 tuổi, bị gù. Ngày ấy gần 40 tuổi mà chưa có vợ, thật là kinh hoảng lắm rồi. Anh Sáng hát véo von như giọng nữ, thỉnh thoảng còn múa võ. Bọn trẻ chúng tôi gọi anh là "chú" nhưng mẹ anh bảo: Không được gọi thế, gọi Sáng là anh thôi. Một bữa tối, anh Sáng gọi tôi ra thì thào: Anh vừa đi Vân Nam về. Mấy củ cala thầu muối với trứng vịt muối là anh mang về đấy! Anh vừa gặp cái ông chồng cô Mai Hạnh yêu hoạ sĩ Lê Chất. Ông Lê Chất quen ba em phải không? Giờ ông ấy ở đâu? Tôi nghe mà chả hiểu mô tê gì. Vinh đầu những năm 1960, lo rần rật lửa cháy nhà, lo bố phòng bảo an vì bọn biệt kích Mỹ - Diệm sắp trà trộn ra phá hoại... Tôi lo lo thêm chuyện này mà chả dám kể với ai. Hè 1965, chúng tôi đi sơ tán khỏi thành phố Vinh. Anh Sáng gặp tôi trên đường về quê vợ, anh nói như khóc: Em tìm được họa sĩ Lê Chất thì báo cho anh ngay nhé, ông chồng cô Mai Hạnh nhờ anh mãi đấy!

Năm tôi học đại học năm thứ hai, hỏi cậu tôi, ba tôi, hai ông đều bảo: Tội nghiệp cái thằng Sáng và thật thương cho cái ông ở Vân Nam. Ông Thanh Châu viết chuyện đời thấp thoáng chuyện ai ai mà sao cứ vận vào mình thế nữa!?

Tôi lại kể cho bác Thanh Châu nghe. Nhà văn bùi ngùi: "Thì chính tôi cũng cứ bồn chồn bao nhiêu năm về cái truyện Hoa "Tigôn" này mà. Thực thực ảo ảo là do mình thấy thế, cho là thế thì viết ra thôi, nào ngờ".

Bác Thanh Châu viết truyện, tả cái thực mình thấy thế mình cho là thế. Viết chân thành tận cùng nên có văn khí, tạo được dư vang. Bây giờ thời đương đại, nghệ thuật kỹ thuật viết truyện có nhiều tân kì hơn bác là phải thôi. Nhưng đọc truyện bác mà đối chiếu dọc ngang, biết là nhà văn đã dung hợp được thực và hư thành hình tượng thì thấy có hai ý đáng nói:

1. Cứ viết, thì thành; còn lúc nào định "làm văn", là y như chỉ có chuyện mà không có truyện, tác phẩm không sống lâu được.

2. Tác phẩm của Thanh Châu vốn là chuyện đời bình dị bình thường nhưng qua tay ông mà có sức ám ảnh, dẫn gợi về lẽ sống, cách sống sao cho tử tế, phải chăng. Tài và tình ông hoà quyện đáng nể là vì thế.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm