TIN TỨC

Chúng ta có thực sự tự do trong chính tác phẩm của mình?

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-19 08:26:43
mail facebook google pos stwis
473 lượt xem

Văn học, cũng như các lĩnh vực khác, theo tôi đều có những dòng chảy nối tiếp âm thầm, tạo nên nhiều sự giao thoa, đan cài giữa cũ và mới, quen thuộc và khác lạ.

50 năm văn học Việt Nam từ năm 1975 đến nay, cũng đã và đang tạo nên một bộ mặt văn chương đất nước từ những sự giao thoa. Trong tầm hiểu biết hạn hẹp của mình, với tư cách là một độc giả và cũng là một người viết trẻ, tôi được kế thừa rất nhiều từ thế hệ các nhà văn đi trước. Từ giai đoạn Đổi mới năm 1986, đến giai đoạn Hội nhập mở cửa năm 1995, văn học cũng vận động theo tiến trình lịch sử của đất nước. Tôi đã được nghe, được đọc các tên tuổi, tác phẩm như Đứng trước biển, Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Thời xa vắng của Lê Lựu, Bến quê của Nguyễn Minh Châu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng…

Tiếp tục là những sự giao thoa sang giai đoạn hội nhập với nhiều tên tuổi lớn trên văn đàn mà tôi thật sự ngưỡng mộ tài năng của họ. Tất cả dường như đều có một địa hạt văn chương riêng, với sự phát triển trong cả chủ đề, bút pháp, nhằm không chỉ kế thừa mà còn tự vẽ ra cho mình một con đường riêng, một phong cách riêng, trong công việc sáng tạo mà tự mỗi nhà văn đều ý thức rất rõ những sự thôi thúc, dồn nén bắt nguồn từ thời đại họ đang sống, từ thân phận con người.

 

Tác giả Trần Văn Thiên phát biểu tại Tọa đàm “50 năm văn học Việt Nam từ sau năm 1975: Góc nhìn của những người viết văn trẻ”.

 

Tài năng của họ được thể hiện rất rõ trong những tác phẩm mà tôi có điều kiện được tiếp xúc từ nhỏ, chính là một trong những yếu tố thôi thúc tôi dấn thân vào con đường văn chương, mặc dù tôi là dân tự nhiên chính hiệu, từ thời học cấp III đến nghề nghiệp hiện tại. Với bản thân tôi, ngoài những trải nghiệm trong cuộc sống cá nhân, thì việc đọc và học hỏi từ thế hệ cầm bút đi trước, đã đem lại nguồn cảm hứng và động lực âm thầm để tôi sẵn sàng cất lên tiếng nói qua con chữ của mình. Và tôi nghĩ không chỉ riêng tôi mà thời đại nào cũng vậy, thế hệ sau luôn có tính kế thừa thế hệ trước, nhưng việc phải làm sao viết khác đi, mới hơn những gì đã được khai thác rất nhiều trở thành một thách thức lớn, đặc biệt là với thế hệ nhà văn trẻ.

Có lẽ sẽ có nhiều tác giả như tôi, bắt đầu hình thành niềm yêu thích văn chương từ những bộ truyện dành cho tuổi mới lớn của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, vào lúc còn ngồi trên ghế nhà trường. Rồi lớn hơn chút nữa, tôi lại muốn tìm đọc những tác phẩm mới hơn, quyết liệt hơn, mở rộng nhận thức của mình về đời sống. Trong những trải nghiệm văn chương của mình, tôi vẫn còn nhớ cảm xúc của lần đầu đọc Cánh đồng bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, tôi đọc trong một nhà sách ở thành phố, không đủ tiền mua cả cuốn sách nên tôi đã ngồi hết một buổi chiều ở đó để đọc đến kết truyện. Hay một buổi tối mùa đông ở kí túc xá, tôi học bài đến khuya, rồi tình cờ đọc được truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông của nhà văn Nguyễn Quang Thiều, tôi đã rùng mình vì thân phận con người trong tác phẩm. Đó chính là những tác phẩm gây ấn tượng mạnh trong nhận thức một đứa trẻ mới lớn là tôi lúc ấy.

Càng trải nghiệm đời sống, mở rộng vốn sống và sự hiểu biết, tôi càng muốn tìm tòi để đọc và học hỏi. Có những cuốn sách tôi chưa hiểu hoặc hiểu chưa đủ sâu ở thời điểm này, nhưng qua nhiều năm sau đọc lại tôi thấy tác phẩm ấy lại tạo những dấu ấn khác. Từ một người cảm thấy chủ đề chiến tranh không phù hợp với mình, tôi chuyển qua tìm đọc những tác phẩm viết về chiến tranh. Từ giai đoạn không thích đọc văn học nước ngoài vì thấy xa lạ, sau này tôi lại muốn đọc nhiều hơn văn học Nhật, văn học phương Tây, những tên tuổi lớn. Và tôi thấy ở những tác phẩm lớn, dường như các nhà văn luôn sẵn sàng mở rộng chiều kích văn chương, tức là họ không dè chừng, hay e ngại, rằng tác phẩm của mình với phong cách và chủ đề này sẽ kén người đọc, hay gây ra những hiệu ứng ngược. Nói như Makenzy Orcel, một nhà thơ và tiểu thuyết gia người Haiti, rằng “Văn chương cũng phải sục cả vào những vùng tối” (Tuổi trẻ cuối tuần, 2023).

Văn học Việt Nam 50 năm qua, theo tôi có nhiều tác phẩm đã gây tiếng vang ngay lúc mới công bố, và sống mãi trong lòng người đọc. Chủ đề chiến tranh, hậu chiến tranh, thân phận con người, nông thôn Việt Nam được khai thác xuyên suốt. Nhưng dường như vẫn chưa có nhiều tác phẩm vượt thoát tư tưởng thời đại, mở ra một con đường mới ít người dấn thân, một bản sắc mới, tư tưởng mới, thay đổi những cách nhìn quen thuộc. Chúng ta dường như vẫn đã và đang đi theo những lối mòn, với cách tiếp nhận bằng một hệ quy chiếu ít chịu thay đổi. Có những cuộc thi mà tác phẩm được vinh danh khiến tôi bất ngờ, vì sự cũ mòn trong tư tưởng và bút pháp. Điều đó khiến một bộ phận lớn độc giả cảm thấy mất tin tưởng vào chất lượng văn chương nước nhà. Chúng ta đang sống ở thời kì hội nhập, và cùng với đó văn chương Việt Nam cũng đang dần hội nhập. Các cây bút trẻ hiện nay đã và đang quyết liệt tìm một lối đi mới, không còn là chủ đề chiến tranh, hậu chiến tranh, không còn là nông thôn Việt Nam, bi kịch gia đình, khắc hoạ bức tranh một đất nước đang phát triển bước ra từ chiến tranh, mà họ đã có sự giao thoa, ảnh hưởng từ văn chương thế giới. Khi biên độ được mở rộng, họ muốn vượt thoát những cái kén cũ mòn, chọn một cách viết khác, mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, độc đáo hơn, sẵn sàng chọn những chủ đề, hình ảnh gai góc mang vào trang viết, cho nên theo tôi, chúng ta cũng cần phải thay đổi trong cách tiếp nhận. Thế hệ nhà văn đi trước, cần thay đổi trong cách tiếp nhận những tác phẩm thể hiện tính tìm tòi của thế hệ nhà văn kế thừa. Cần tôn trọng sự đa dạng, phong phú, nhiều chiều kích của văn chương, và không áp đặt tư tưởng, cách nhìn cá nhân để đánh giá chất lượng một tác phẩm mới.

Chúng ta còn đang đi những lối đi an toàn, né tránh những chủ đề được coi là nhạy cảm. Chúng ta có thực sự tự do trong chính tác phẩm của mình? Dường như chúng ta vẫn còn phải khéo léo uốn nắn, tránh né nhiều chỗ trong tác phẩm để vượt qua khâu kiểm duyệt, hay chấp nhận chọn một tác phẩm an toàn để vinh danh? Vẫn chưa có nhiều tạp chí, kênh văn học nghệ thuật chọn đăng bài theo xu hướng mở, tức là đăng những tác phẩm có tính tìm tòi, thể nghiệm. Tôi tự hỏi những nhà văn, nhà thơ của văn học Việt Nam ở thế hệ trước có những áp lực vô hình như những nhà văn, nhà thơ ở thế hệ hiện tại? Rồi tôi nghĩ thời nào cũng sẽ có áp lực riêng. Việc sống trọn vẹn với văn chương để cho ra đời những tác phẩm lớn trong thời buổi nào cũng đầy rẫy khó khăn. Với thời đại hiện nay, việc sống đủ chỉ bằng nghề viết văn thật sự bất khả. Và nhiều cây bút chấp nhận chọn con đường viết theo lối thị trường, tạo sự dễ dàng, thuận lợi trong việc công bố tác phẩm, cũng là một trong những nguyên nhân khiến nội tại văn chương chưa được khai phóng hết. Ta sẽ thấy những tác phẩm lặp lại, na ná nhau, nhưng lại dễ đọc, và cũng chưa đột phá. Càng nhiều tác phẩm như vậy sẽ khiến văn chương chững lại, không có sự phát triển.

Tôi nghĩ rằng muốn có sự phát triển, cần tôn trọng và chấp nhận những cái nhìn đa chiều. Nhưng theo tôi quan sát, chúng ta hiện nay dường như đang có một khoảng trống rất lớn của lí luận phê bình. Phải là lí luận và phê bình đúng nghĩa, tức là không cả nể, sợ mất lòng nhau. Dựa trên các cơ sở khoa học một cách khách quan, để thấy sự đủ và thiếu của một tác phẩm. Chúng ta cũng còn nhiều hạn chế ở mảng truyền thông các tác giả, tác phẩm trong nước để công chúng được biết đến rộng rãi. Đối với những tác giả mới chưa có sẵn tệp người đọc, thì việc in ấn, xuất bản cũng luôn gặp khó khăn. Các ngành nghề liên quan đến viết văn cũng chưa được tư vấn và phổ cập rộng rãi. Và trong xu thế kỉ nguyên mới như hiện nay, những người viết thực thụ còn gặp phải sự cạnh tranh đến từ AI (Artificial Intelligence – trí tuệ nhân tạo). Có một số người sẽ bắt đầu dùng AI để viết văn, làm thơ, và cũng không ít tác phẩm từ AI sẽ lọt qua khâu duyệt bài, cũng chính từ tiêu chí chọn những tác phẩm dễ đọc, dễ hiểu, dễ tiếp cận. Bên cạnh đó, cũng có một số phần mềm AI kiểm tra sai những tác phẩm vốn hoàn toàn được viết bởi con người. Kết quả là một số tác giả bị đánh đồng rằng sử dụng AI để viết văn, đặc biệt là những tác giả mới, chưa có nhiều tên tuổi. Cho nên trong bối cảnh thật giả lẫn lộn đó, việc viết một tác phẩm chất lượng, tránh những vòng lặp cũ kĩ lại càng quan trọng. Và đạo đức của người viết lại phải càng được giữ vững.

Tóm lại, theo tôi, văn học Việt Nam 50 năm qua đã có nhiều thành tựu góp phần định hình cho thế hệ nối tiếp. Nhưng chúng ta cũng cần phải tự cởi trói ra khỏi những sáo mòn. Chúng ta cần thay đổi trong cách tiếp nhận những tác phẩm mang tính tìm tòi, giao thoa với văn chương thế giới, nhưng vẫn giữ được bản sắc vốn có. Cần thay đổi tiêu chí đăng bài ở các tạp chí, kênh văn học nghệ thuật. Cần có chính sách tạo điều kiện trong việc in ấn, xuất bản, công bố tác phẩm những tác giả mới, chưa có nhiều tên tuổi và lượng người đọc. Tạo nhiều hơn những buổi gặp gỡ, trao đổi để người trẻ được thẳng thắn cất lên quan điểm, tiếng nói. Tư vấn các ngành nghề liên quan đến văn học để bổ trợ việc sáng tác, tạo các buổi tư vấn hướng nghiệp, trung tâm tư vấn. Thúc đẩy văn hoá dịch thuật, xây dựng và mở rộng không gian kết nối, giao lưu cùng các tác giả trẻ trong phạm vi khu vực (Đông Nam Á, Châu Á) và thế giới, mở rộng các cuộc thi viết song ngữ, đa ngữ. Mở rộng không gian trình diễn nghệ thuật với các trưng bày, triển lãm văn học, hay sân khấu hóa các tác phẩm văn học…

Bằng những trải nghiệm và quan sát thực tế, cũng như những ý kiến, quan điểm mà tôi góp nhặt được từ thế hệ người viết cùng trang lứa, tôi xin bày tỏ suy nghĩ của mình như trên. Tôi là một người viết trẻ, lần đầu xuất hiện tại những buổi toạ đàm như thế này, nên rất mong được học hỏi thêm từ thế hệ đi trước, các nhà văn, nhà thơ, cô chú, anh chị tham dự ở đây. Mong mọi người sẽ gỡ được những nút thắt trong chính văn chương của mình, và có được sự tự do thực sự trên trang viết. Xin chân thành cảm ơn!

Trần Văn Thiên/Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm