TIN TỨC

Đọc thơ Nguyên Hùng qua 100 ca khúc

Người đăng : vanchuong
Ngày đăng: 2024-09-01 21:22:57
mail facebook google pos stwis
2372 lượt xem

HUỆ HƯƠNG HOÀNG

Trăm khúc hát một chữ duyên” là tuyển tập những bài thơ của Nguyên Hùng được phổ thành ca khúc. Cầm cuốn sách anh gửi tặng trên tay, tôi mỉm cười: ngày xưa mà có được cuốn sách như này là quý lắm đây. Vì ngày đó đi dạy, cứ mỗi lần nhà trường tổ chức hội diễn văn nghệ, là cô trò lại đi tìm một cuốn sách nhạc để tìm bài hát, rồi tập luyện cả tháng. Hài hước là sách nhạc ngày xưa, chỉ in lời bài hát mà không có bản nhạc (phù hợp với thế hệ chúng tôi, những người yêu nhạc nhưng không được học lý thuyết về nhạc, nên có bản nhạc cũng chả đọc được. Các bài hát chủ yếu là truyền miệng). 

Còn cuốn sách của Nguyên Hùng, với 81 bản nhạc (chọn lọc từ hơn 110 ca khúc phổ thơ), được in ngay ngắn bên cạnh những bài thơ, xinh xắn nhẹ nhàng, dễ thương. Tôi chợt nghĩ, đời sống thời hiện đại cũng sung sướng thật, đời sống vật chất, tinh thần đều đầy đủ. 

Nhà thơ Nguyên Hùng gọi trăm khúc hát từ thơ mình là duyên. Đúng thật. Là cái duyên đằm thắm của anh với thơ, với ca, với bạn bè văn nghệ sĩ, và với cuộc đời. Tôi cũng quen anh bởi cái duyên với ca khúc của anh, khi tôi nghe bài hát “Bến xưa”, là ca khúc của Lê An Tuyên phổ nhạc từ thơ anh. Một tình yêu quê, yêu con sông quê hương, yêu đời, yêu người dào dạt dâng lên trong lòng tôi khi nghe ca khúc ấy. Từ đó biết anh, và biết nữ nhạc sĩ Lê An Tuyên, rồi kết gắn, thành bạn bè thân thiết.

Sự giản dị và giàu tính nhạc

Thơ Nguyên Hùng giản dị và giàu nhạc tính. Và bởi vậy, khi những câu từ bay lên cùng nốt nhạc, ta mới thấy hết cái đẹp của nó: sự trong sáng của những cảm xúc và suy tư, lấp lánh như dưới ánh mặt trời: 

Ta sinh ra từ một dòng sông/ Sông dài rộng con đò ngang thì bé/ Đạn rít bom gầm cày nát thời thơ trẻ/ Khói lửa vừa tan mỗi đứa một phương trời/…/Ơi dòng sông ngọt lịm điệu đò đưa/ Ơi dòng sông mặn mòi câu ví giặm/ Giá mỗi chiều được về quê ngụp lặn/ ” (trích “Gửi dòng sông câu ví”). 

Bài thơ này được nhạc sĩ Hữu Xuân phổ nhạc với tên ca khúc là “Gửi dòng sông”, hầu như để nguyên lời thơ, nghe thật đằm thắm da diết. Với nhạc sĩ Võ Xuân Hùng lại gợi một cảm xúc mênh mang, mênh mang dòng sông, mênh mang tình người. Nhưng phải nói, qua âm nhạc của Lê An Tuyên, với âm hưởng ví giặm và lời thơ đã được thay đổi ít nhiều, tạo nên trong lòng người nghe một xúc cảm bùi ngùi khó tả, một nỗi nhớ thăm thẳm không nguôi: “À ơi, chiều xưa trên bến dưới thuyền. Ai đợi ai lúc trăng soi mạn thuyền. Trăng soi đôi bờ dòng sông xanh. Dòng sông ấy, tuổi thơ ấy còn đây trong giấc mơ em. Hỡi dòng sông quê giữ bao kỷ niệm buồn vui”. Vì thế, khi nghe bài hát lần đầu, tôi đã phải gọi điện cho chị bạn trong Nha Trang, hỏi cho ra ai là tác giả của tuyệt phẩm này.       


Bìa sách “Trăm khúc hát một chữ duyên” của Nguyên Hùng

Thơ Nguyên Hùng có duyên với nhiều nhạc sĩ. Chẳng thế mà có hơn trăm bài thơ của anh được phổ nhạc, trong đó có những bài được nhiều nhạc sĩ cùng phổ. Nhưng có lẽ Lê An Tuyên là người phổ nhạc thơ anh thành công nhất. Có lẽ nhờ cái duyên đồng hương, đồng ly quê nên đồng cảm. Vả lại, với trường cảm xúc phong phú nữ tính, âm nhạc Lê An Tuyên bổ sung cho cái chất nam tính hơi khô cứng của Nguyên Hùng. Một trong số đó là cặp bài thơ “Biển và em” và “Cửa Hội” được Lê An Tuyên phổ thành ca khúc “Sóng không từ biển”, với phong cách âm nhạc hiện đại, được rất nhiều ca sĩ nổi tiếng hát.   

“Tuổi thơ anh trên sóng/ Nên say hoài biển xanh/ Biến đưa ngàn cánh võng/ Ru bồng bềnh, bồng bềnh tuổi thơ”.       

Tôi cho rằng đây là một trong những ca khúc về biển hay nhất, nó gợi cái mênh mang và dạt dào của biển, mênh mang và dạt dào của tình yêu tuổi trẻ. 

Nguyên Hùng thường “vẽ” bạn bè văn chương bằng những bài thơ chứa chan tình yêu mến. Một số trong đó được các nhạc sĩ phổ thành những ca khúc. “Trôi giữa cõi thiền” là bài thơ viết tặng nhà thơ Nguyễn Lê Trung, mà nét họa chính là những tác phẩm của nhà thơ được nhắc tên, làm nên một bức chân dung rất đỗi gây xúc động, nhất là với những ai đã từng quen biết ông: 

“Giá như ngày ấy đừng gàn/ Giờ đâu phải tiếc giọt thầm tuổi hoa/ Lớn lên thiếu vắng tình cha/ Hồn sông trầm tích hồn thơ lắng đằm/ Mẹ đi… chấp chới sông Lam/ Cánh cò một thủa xa xăm cuối trời…” 

Với bài thơ này, nhạc sĩ Đỗ Tiến Lập đã phổ thành ca khúc mang âm hưởng của ca trù và đậm chất thiền. Qua giọng ca của ca sĩ Quế Thương, người nghe cảm thấy như những thanh âm cứ xoáy sâu vào tâm hồn mình, gợi liên tưởng về một nhân vật mang nặng nỗi đau thời cuộc và số phận, cũng mang nét tính cách quật cường như dòng sông dữ dội của quê hương.

Nhạc sĩ Đỗ Tiến Lập cũng là người phổ nhạc nhiều cho thơ Nguyên Hùng, và tôi cho rằng hầu hết những ca khúc đó đều thành công, nâng được hồn cốt của thơ Nguyên Hùng lên một tầng nấc của thăng hoa. 

Lòng trắc ẩn và tình yêu quê hương

Nguyên Hùng viết nhiều về quê hương. Những bài thơ đầy ắp nỗi nhớ, tình yêu đối với chốn quê, nơi cửa sông mênh mang nước và trời gặp gỡ, nơi ký ức về cha về mẹ lam lũ tần tảo trên bến sông, và tuổi thơ như những con còng gió nghịch ngợm bé nhỏ trước cuộc đời. Và tình yêu đó đã chạm đến rất nhiều trái tim của các nhạc sĩ, để họ đồng cảm và viết nên những cánh diều thanh âm chuyên chở câu chữ của anh. Tôi đã nghe một loạt những ca khúc trong đây, thấy hầu hết đều đã được các ca sĩ hát lên, và hầu hết đều rất “đi vào lòng người”. 

“Cha là con của biển khơi/ Thay ông mất sớm, một đời nắng mưa/ … / Thương cha đi sớm về khuya/ Qua bom qua bão mang về mừng vui…” (trích “Nhớ cha”)

“Chiều Cửa Lò chúng mình bên nhau/ Bồng bềnh ẩn hiện đảo Lan Châu/ Thuyền ai nhè nhẹ duềnh con sóng/ Trăng cũng dần nghiêng phía dốc cầu/ Cửa Lò chiều chúng mình trôi đâu?” (trích “Chiều nghiêng Cửa Lò”). 

Chiến tranh cũng thường có mặt trong thơ của Nguyên Hùng, không chỉ là ký ức về một thời đạn bom. Có câu chuyện thú vị mà Nguyên Hùng kể với tôi. Đó là khi anh viết bài thơ “Chờ bố về”: 

“Bố đã bay rất xa/ Không hẹn ngày trở lại/ Mẹ chờ trong lệ nhòa/ … / Đợi bố về cùng ăn/ Mong bố về mua sữa” để tặng cho em bé con liệt sĩ phi công Trần Quang Khải, đã hy sinh trong một cuộc bay huấn luyện trên biển Cửa Lò. Nguyễn Ngọc Tiến, một nhạc sĩ của nhà thờ Thiên Chúa giáo, sống ở Mỹ đã phổ nhạc cho ca khúc này thành bài hát “Chờ cha về”. 

Ca khúc thực sự lay động lòng người vì nó mang âm hưởng của Âm nhạc Kitô giáo – thanh thoát và từ bi, nó cũng nhắc nhở cho người nghe về mối hiểm nguy: đừng tưởng chiến tranh đã xa rồi. Nó vẫn lẩn quất đâu đây quanh cuộc sống của con người, chực chờ gieo rắc thương đau cho chúng ta, cho thế hệ tương lai của chúng ta. Như câu thơ của Nhà thơ Võ Hải: “Chiến tranh chưa khép mắt bao giờ”.     

Nhiều khi, Nguyên Hùng cũng viết lời cho ca khúc được đặt hàng. Như viết cho bệnh viện AF, một bệnh viện chuyên về chữa trị Nam – hiếm muộn, và được Lê An Tuyên phổ nhạc. Hay đến bất ngờ. Trữ tình và thơ mộng, khiến tôi nghe mà không khỏi bật cười. Hay ca khúc “Khát vọng Bảo Lộc” được Đỗ Tiến Lập phổ nhạc: 

“Bảo Lộc đây thơm hương cà phê/ Bảo Lộc xanh Tâm Châu sắc trà/ Bảo Lộc mềm như lụa như tơ/ Mây giăng giăng mênh mang nỗi nhớ…”      

Rất phóng khoáng và rất hào hùng.

Chủ đề của thơ và ca khúc cũng rất phong phú. Chúng ta có thể thấy ở đây, những bài thơ – ca khúc cách mạng (viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, viết về Côn Đảo, chị Võ Thị Sáu, hay viết về những anh hùng thời nay). Nguyên Hùng cũng viết nhiều về nghề tư vấn thiết kế công trình, nơi anh gắn bó gần suốt cuộc đời với đầy cảm xúc ân tình. 

Một đời theo đuổi những áng thơ, Nguyên Hùng đã để lại cho đời hơn trăm ca khúc, bằng cái duyên rất đằm thắm của mình với bạn bè văn nghệ, mà đặc biệt là các nhạc sĩ. Để mỗi khi tiếng nhạc vang lên, những câu thơ của anh cũng lấp lánh cất cánh. Không như thơ của nhà thơ tôi, tâm đắc lắm cũng chỉ để cất vào tủ. Duyên lắm chứ!

Nguồn:     


Mời nghe chùm ca khúc Nguyên Hùng - Lê An Tuyên:

  1. Lời hẹn tình quê: NSƯT Phạm Phương Thảo
  2. Lặng thầm hoa quê: Hoàng Viết Danh
  3. Hoa muống biển: Thanh Tài
  4. Em và biển: Bích Hồng
  5. Bến xưa: Đinh Trang
  6. Sóng không từ biển: NSƯT Vũ Tiến Lâm
  7. Lời yêu Xuân về: Phan Quỳnh Anh
  8. Nghe em hát: Ngọc Linh
  9. Cánh buồm đỏ (Giáng Vân - Nguyên Hùng): Quế Thương
  10. Bảo Lộc khúc tình ca: Minh Sơn & Việt Hòa
  11. Em và biển: NSƯT Vũ Tiến Lâm.
     

Mời đọc:

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm