TIN TỨC

Người suốt đời nhập cuộc thơ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-27 16:54:41
mail facebook google pos stwis
1355 lượt xem

NGÔ XUÂN HỘI

Các nhà thơ nước ta (và có lẽ cả thế giới) nhiều người lơ ngơ trước cuộc đời, trong số đó nhà thơ Quang Chuyền xứng đáng được xếp vào top đầu. Ông có thơ in báo năm 1964 khi đang là giáo sinh trường Trung cấp Sư phạm Việt Bắc. Năm 1965 tốt nghiệp, anh giáo sinh chưa kịp trở thành giáo viên thì nhà thơ Bàn Tài Đoàn - Hội trưởng Hội Văn Nghệ Khu tự trị Việt Bắc đã nằng nặc xin anh về tạp chí Văn nghệ khu công tác. Quang Chuyền ở Hội Văn Nghệ Việt Bắc ba năm, năm 1968 chích máu viết đơn xin đi bộ đội, ở binh chủng Thông tin cho tới ngày nghỉ hưu.


Nhà thơ Quang Chuyền (2023)

Hơn năm mươi năm kể từ ngày ấy trôi qua, hầu như ở đâu, lúc nào ông cũng làm thơ, in thơ, cũng đau đáu trước những vấn đề cuộc sống đặt ra cho thơ. Hai lần (1971, 1985) dự Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Thơ ông xuất hiện đều trên các báo, tạp chí, các tuyển tập thơ của Hội Nhà văn Việt Nam và các báo khác, nhận nhiều giải thưởng, tên tuổi được nhiều người biết. Vậy mà mãi tới năm 2003, sém sáu mươi tuổi đời, bốn mươi tuổi văn chương ông mới được kết nạp vào Hội. Có sự muộn ấy là do ông “bé cái nhầm”, nghĩ mình cứ viết, đến một lúc nào đấy Hội Nhà văn xem được, sẽ mời vào. Vì thế ông rất lấy làm lạ khi thấy quanh mình nhiều người viết sau, thơ thì cũng thường thường bậc trung mà vào Hội cứ như không, trong khi đó mình dù đã nỗ lực hết mức vẫn không sao lọt được vào con mắt xanh của các nhà tuyển trạch ở Hàn lâm viện 65 Nguyễn Du đáng kính.

Chuyện tình cờ xảy ra, mọi thắc mắc của ông phút chốc sáng tỏ. Năm 2002, Văn nghệ Quân đội kỷ niệm 45 năm ra số đầu tiên. Quang Chuyền được mời dự lễ, bởi ông là cộng tác viên thơ thân thiết của Tạp chí. Đón ông ở sảnh, nhà văn Nguyễn Quốc Trung bảo:

“Anh phải vào Hội đi chứ, cứ ở ngoài mãi thế coi sao tiện?”

“Ờ… vào chứ, vào chứ… nhưng Hội đã mời đâu?” – Quang Chuyền rụt rè.

Nguyễn Quốc Trung ngạc nhiên:

“Lại còn thế nữa. Em nói cho anh biết nhé, Hội Nhà văn Việt Nam thành lập năm 1957, đến nay tròn 45 năm. Trong 45 năm ấy, trừ 25 Hội viên sáng lập ở Đại hội lần thứ nhất là các nhà văn, nhà thơ Nông Quốc Chấn, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Anh Thơ, Mộng Sơn, Cầm Biêu… đến nay mới chỉ có một người là nhà thơ Trần Vàng Sao, tác giả “Bài thơ của một người yêu nước mình” được Hội mời (nhưng không vào), số còn lại ai muốn vào cũng phải đảm bảo tiêu chuẩn đã xuất bản ít nhất hai quyển sách văn học, sau đó viết đơn cam kết hoạt động theo tôn chỉ, quy tắc của Hội gửi Ban Tổ chức Hội viên để Hội xét. Ngay cả ông Tổng Thư ký kính mến của chúng ta hiện nay là Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng vậy. Vì thế, việc vào Hội với anh bây giờ, tác phẩm thì đủ rồi nhưng phải viết đơn. Đơn phải có hai người giới thiệu. Anh viết đơn đi, nếu không để em viết cho”

“Ồ, thế mà tôi cứ tưởng…”

Quang Chuyền chưng hửng.

Trở về, ông viết đơn ngay. Năm sau, 2003 ông được Hội Nhà văn Việt Nam xét, kết nạp. “Vừa tiểu đăng khoa lại đại đăng khoa” (chả là trước đó một tuần, Quang Chuyền được Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh kết nạp vào Hội). Quang Chuyền mừng lắm. Kể tôi nghe chuyện này, hơn mười năm trôi qua nhà thơ vẫn ngạc nhiên không hiểu sao mình lại “ngu lâu” đến thế. Nghe xong tôi cười, băn khoăn nếu không có Nguyễn Quốc Trung tình cờ mách cho, không biết đến bây giờ ông đã vào Hội Nhà văn được chưa?

Với thơ là điều quan thiết hàng ngày mà ông còn lơ ngơ vậy, thì trước muôn nẻo đường đời ông có lơ ngơ cũng là sự thường. Vì thế mới có chuyện thời loạn, tính cuộc vuông tròn bộ đội nhiều người chỉ cần về quê một tuần là đủ hoàn tất quy trình ba công đoạn: Xác định đối tượng - yêu - cưới, mà vẫn sinh con đẻ cái, vẫn chung thủy, đợi chờ nhau cho đến ngày đất nước yên bình. Còn anh lính Trần Quang Chuyền và cô giáo Trần Thị Bích Loan, vợ anh, vờn nhau những tám năm, gần bằng chín năm quân dân ta kháng Pháp, mười năm Lê Lợi đánh quân Minh, một sự lãng phí hết sức về thời gian và cơ hội. Mới có chuyện năm 1988, thiếu tá Trần Quang Chuyền được Bộ Tư lệnh Thông tin bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 596 Viễn thông đóng ở thành phố Hồ Chí Minh. Ông vào, đang chân ướt chân ráo thì chi bộ cơ sở nơi ông công tác tổ chức đại hội nhiệm kỳ. Nghĩ mình đường đường Phó Chủ nhiệm, lại là người của Bộ Tư lệnh điều vào, cơ cấu cấp ủy là chuyện đương nhiên. Nhưng kết quả bầu cử, ông bị gạt… cũng làm ông ngơ ngác. Mới có chuyện đổi đất lấy cơ sở hạ tầng hết sức lãng phí như ông đã làm (mà tôi không tiện kể). 

Ấy thế mà từ nhỏ, ông đã phải vật lộn kiếm sống. Có cái gì mâu thuẫn ở đây, vì những người vào đời sớm thường rất từng trải. Quang Chuyền có từng trải không? Tôi không biết. Nhưng tôi biết ông sinh trong một gia đình nghèo ở vùng đồng trũng tỉnh Vĩnh Phúc, nơi hợp lưu của hai con sông Lô và sông Phó Đáy. Cha ông mất năm 1954, khi mới 36 tuổi. Mẹ ông 32 tuổi, ở vậy nuôi con. Một nách nuôi năm con dại với vài sào ruộng khoán, sự khó khăn không thể nói hết. Mười tuổi, Quang Chuyền vào lớp một, vừa học vừa giúp mẹ làm đồng; đến lớp sáu, một hôm mẹ bảo cậu trưởng:

“Con đã lớn, học thế thôi, ở nhà giúp mẹ cho các em đi học!”

Câu nói ấy, cách đấy không lâu Chuyền đã nghe mẹ nói với chị Hạc, con gái nuôi của bố mẹ anh. Buồn, chị trốn mẹ đi làm công nhân đường sắt trên Yên Bái. Bây giờ đến lượt Quang Chuyền. Không, anh sẽ không trốn nhà ra đi như chị mình, nhưng cũng không thể giữa đường đứt gánh. Một ý nghĩ mới mẻ, táo bạo hình thành trong anh. Anh thưa với mẹ:

“Mẹ cho con lên Tuyên Quang, con sẽ tự kiếm sống, đi học.”

Ấy là anh nghĩ tới ông bà ngoại ở thị xã Tuyên Quang. Dịp nghỉ hè năm ngoái anh được mẹ cho lên Tuyên thăm ông bà, vì thế mà bây giờ Tuyên Quang bỗng trở thành miền đất hứa. Thấy mẹ có vẻ chần chừ, anh dấn thêm:

“Con đi, nhà bớt một miệng ăn, mẹ có thể cho ba em tới trường…”

Cuối cùng mẹ đồng ý. Thế là “Người ra đi đầu luôn ngoảnh lại”(*), hết lớp sáu Quang Chuyền rời nhà, sống tự lập.

Ngày ấy ở thị xã Tuyên Quang, nhà cửa hầu hết được làm bằng tre, nứa. Anh xin với ông bác họ, một chủ thầu xây dựng cho làm thợ phụ, tranh thủ ba tháng hè kiếm ít tiền. Bác đồng ý. Công việc hàng ngày của thợ phụ là vận chuyển tre nứa, đưa rui mè, đòn tay cho thợ chính lợp nhà. Lương thợ chính đồng hai năm xu một ngày công, thợ phụ bằng ½ thợ chính. Dù vậy, với một đứa trẻ choai lần đầu xa nhà, cũng quá tốt. Anh chia tiền nhận được ra làm nhiều khoản: ăn uống, mua quần áo, sách vở cho niên học tới. Ít ngày sau quen việc, thợ phụ Chuyền đã có thể leo lên mái nhà lợp lá cọ, tấm gianh như thợ chính.

Hết hè Quang Chuyền vào học lớp 7E trường cấp II thị xã, vừa tách từ trường Tân Trào ra. Học trò hầu hết là con em Việt kiều ở Tân Đảo về, lớn hơn anh một cái đầu, anh thành người nhỏ nhất lớp.

Thời gian biểu hàng ngày của Chuyền chật kín công việc: sáng lên lớp, chiều làm thợ, buổi tối đi vác thuê tre nứa; chủ nhật thì xách dao vào rừng chặt nứa. Mỗi ngày một trăm cây nứa bảy, to bằng cổ tay, dài 4m. Tập kết nứa ra bờ sông xong, Chuyền bó lại thành bó, mỗi bó hai mươi cây, ghép làm bè mảng. Trên mảng để thêm vài bó củi, rồi thả trôi theo sông về thị xã.

 “Sông Lô sông ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u… Sông Lô, sóng ngàn kháng chiến cháy bờ lau thưa đã tàn thôn trang. Ai qua bến nắng hồng lặng nhìn màu nước sông Lô xưa…”. Không, khi đó cậu trưởng Chuyền chẳng biết gì về một sông Lô hùng tráng trong âm nhạc Văn Cao, hát về những sự kiện trong cuộc kháng chiến chống Pháp xảy ra trên sông cách đấy không lâu. Nhưng nhẩm tính số tiền sẽ thu được, trong lòng cậu có một cái gì đấy cứ muốn ngân lên thành lời. Chịu thương chịu khó, một ngày chủ nhật cậu kiếm đủ tiền chi dùng cho cả tuần. Bây giờ mỗi khi nhớ lại, anh vẫn không hình dung nổi làm sao trong hoàn cảnh ấy anh vẫn thuộc bài, làm bài đầy đủ, vẫn là một học sinh trong top đầu của lớp.

Hết lớp 7, tức là hết cấp II Quang Chuyền thi và đỗ vào trường Sư phạm Việt Bắc. Đây là một vinh dự lớn của đời anh, bởi ngày ấy cả khu tự trị 6 tỉnh chỉ có một trường Sư phạm cấp hai này. Từ đây anh được Nhà nước nuôi ăn học, không còn phải vất vả kiếm sống. Căn cứ kết quả thi, nhà trường xếp Quang Chuyền vào học khối Tự nhiên. Khi các giáo sinh bước vào huấn luyện quân sự, để tạo không khí học đường, Ban Giám hiệu trường phát động một cuộc thi thơ. Với hơn 2.000 tân sinh viên, cuộc thi bề thế lắm. Kết thúc chấm giải, bài thơ “Buổi diễn tập đầu tiên trên thao trường” của anh giáo sinh khối Khoa học Tự nhiên Trần Quang Chuyền được trao giải Nhất. Nhà trường bèn chuyển anh sang học khối Xã hội. Quang Chuyền như cá gặp nước, học hành ngày một tấn tới. Năm học thứ hai được kết nạp Đảng, được báo cáo kinh nghiệm học tập và phấn vào Đảng khắp toàn trường. Tốt nghiệp đỗ Thủ khoa ngành Khoa học Xã hội, trở thành một “hot boy” trong mắt các giáo sinh nữ.

Tất cả những sự ấy được Quang Chuyền ghi lại trong thơ: “Chiều thành Tuyên/ Nắng khép dần cửa sổ/ Đáy sông Lô nở chùm hoa lửa/ Chim về sải cánh qua soi/ Sông thở bồi hồi/ Giục phà sang Nông Tiến…” Những câu thơ không chỉ được viết từ sự quan sát bình thường, mà bằng sự cảm thấu của một tâm hồn đã gắn bó với vùng đất yêu thương qua nhiều năm tháng.

Đọc thơ Quang Chuyền, muốn lĩnh hội đầy đủ những dở hay, đạt và chưa đạt, ta phải đặt trong văn cảnh chung của nền thơ chống Mỹ. Một nền thơ lấy thành công của cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện của dân tộc làm mục đích sáng tạo. Mọi chất liệu cảm xúc, đề tài, chủ đề đều từ đó mà ra. Với hoàn cảnh xuất thân, kiến thức được trang bị, thời điểm xuất hiện, Quang Chuyền là một ca tiêu biểu của lớp nhà thơ chống Mỹ. Ông nhập cuộc thơ, nhập cuộc kháng chiến ngay từ buổi đầu. Năm 1964, khi Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh ra miền Bắc, cũng là lúc Quang Chuyền công bố những bài thơ đầu tiên. Thơ ông viết trong thời kỳ này chủ yếu khai thác vào khía cạnh thơ mộng, rất học trò, thấm đẫm hương kỷ niệm của tuổi thơ thân thuộc: “…Tao với mày cùng làng Gốm sinh ra/ Cái làng nhỏ quanh năm hạn úng/ Bởi vì thế khi hai thằng cầm súng/ Có bệ tì là nỗi khổ xa xưa…” (Gửi bạn nơi xa). Hoặc: “Hát về mảnh đất yêu thương/ Bến sông trải nắng, con đường xanh cây/ Hát về cánh trắng cò bay/ Lô xô đồi đất, vơi đầy đồng chiêm/ Từ trong câu hát lớn lên/ Đời tôi tha thiết một miền quê hương…” (Đất ơi).

Mỹ leo thang chiến tranh, bom đạn lan rộng dần. Đổ nát, thương vong đã vào nhiều đô thị, vào cả Hà Nội. Trên đất nước chẳng còn nơi nào bình yên. Anh bộ đội Quang Chuyền vượt Trường Sơn vô chiến trường. Một lần tới ngã ba làng Nút, phía Tây Quảng Trị. Do lỡ đường, trời tối, anh phải ngủ lại trong một lòng cống đặt ngang dưới đường xe tăng đi. Suốt đêm ấy anh và mấy người đồng đội nằm trong sự đu đưa đánh võng của đạn pháo địch. Tai ù đặc vì tiếng nổ. Sáng ra cửa cống bị đất đá lấp gần hết. Giày, dép, ba lô, vật dùng bị đất cát vùi chôn. Cùng lúc ấy cách cống các anh nằm chừng năm chục mét, mấy đồng đội khác đang gọi nhau, đào bới, thu nhặt xác của ba đồng đội đêm qua bị đạn pháo nổ trúng hầm. Từng chút xương, chút thịt vương vãi trong máu, trong đất, trong cát được thu nhặt lại, đặt vào các tấm tăng. Xong, mọi người moi đất bên cạnh, đặt các bó tăng xuống, lấp đất chôn cất liệt sĩ. Mộ chí là những mảnh cây khắc họ, tên từng người: “Cây trẻ rừng già/ Tôi qua năm ấy/ Vết khắc đoạn cây/ Vết gãy/ Ngang câu thơ mình/ Chấm mỗi dấu than/ Lại thấy/ Hiện về gương mặt các anh!...”. Sự kiện trên được Quang Chuyền ghi thành thơ như những dòng nhật ký.

Tiêu biểu cho việc đưa hiện thực chiến trường vào thơ trong giai đoạn này của Quang Chuyền, theo tôi, là bài Qua khu rừng trắng, viết ở Quảng Đà năm 1974:

Từng đi qua bao nhiêu rừng xanh

Mới thấm hết nỗi đau trước vùng rừng trắng

Mênh mông im lặng

Cơn gió lùa buốt tim

 

Nhức nhối mắt nhìn

Triền miên màu trắng

Cây thấp, cây cao, cay cong, cây thẳng

Cùng chung dáng hình

Những thân cây đầy vết đạn, giơ cành

Trần trụi lá nên không thành cây nữa

 

Đâu rồi vị chua lá bứa

Đâu rồi màu lửa hoa chuối đỏ bừng

Đâu rồi tiếng chim say lòng rưng rưng

Đâu dòng suối bâng khuâng cánh bướm?

 

Chỉ còn đây màu trắng

màu trắng còn lại đây

Dáng hình của cây

Tạc lên nền trời

tạc vào mặt đất

Tạc trong lòng người

Là dấu hỏi treo ngang tầm mắt

 

Đi qua rừng trắng bao nhiêu con người

Nhấp nhô ba lô, nòng súng

Thậm thịch bàn chân bước trong tim lặng

Nhìn đồng đội đi tôi chợt hiểu điều này

Áo quần chúng tôi xanh đậm màu cây”.

Bài thơ mở đầu như một bài ký (khổ 1, 2), nhưng chất liệu ký trong đó được tác giả sử dụng như là phương tiện cho sự phát triển của tứ thơ, và ngay ở cả những câu thơ - ký sự này, mỗi câu đều được viết với một sự kìm nén lớn tạo nên một cảm xúc thẩm mỹ cao trong lòng người đọc. Câu thơ hay nhất bài: “Trần trụi lá nên không thành cây nữa” là sự bật thốt của cảm xúc, làm rung chuyển chúng ta và chúng ta cảm thấy hết cái sức nặng của chiến tranh, của những mất mát, hy sinh mà chúng ta phải gánh chịu. Không sa vào kể lể, những liên tưởng tiếp theo (khổ 3, 4) tiếp tục đào sâu cảm xúc, làm thành một mạch ngầm mãnh liệt, tương ứng với hiện thực trần trụi bên ngoài. (Khổ 5) kết thúc bật lên bất ngờ, đem lại cho ta một niềm tin, một hy vọng về chính nghĩa của chúng ta, về sự sống sẽ được chúng ta bảo vệ…

Quang Chuyền làm thơ nhiều thể loại, nhưng sở trường thể lục bát. Lục bát chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp thơ anh. Lật mở mười bảy tập thơ nhà thơ đã xuất bản, tập nào thơ lục bát cũng chiếm số lượng lớn. Hơn thế, anh còn dành hẳn một tập chuyên về lục bát (Bốn câu lục bát, nxb VHVNTP Hồ Chí Minh, 2014).Vẫn là hai câu 6 – 8, vẫn B-T-B/ T-T-B ở câu lục. B-T-B-B/ T-B-T-B ở câu bát, lục bát Quang Chuyền mang dấu ấn riêng của hồn thơ anh, không lẫn với những nhà thơ lính khác: một mối tình dang dở, một bến nước thân quen, một con phố nhỏ nơi sơ tán, những người thân, bạn  bè cũ… những gì níu giữ anh với quê nhà, đúng như anh tuyên ngôn: “…Nổi nênh đắng đót ngọt ngào/ Mượn hồn tục ngữ ca dao đi về…”

Đọc lục bát Quang Chuyền, thấy anh không cố ý làm mới thể thơ cũ của cha ông bằng những ngắt nhịp, bẻ từng tiết một rồi viết xuống dòng như  thơ tự do. Tức là anh không cố ý làm mới lục bát về hình thức, mà chủ yếu bằng nội dung, bằng sự tinh tế, hóm hỉnh  trong nhìn nhận sự việc, luyện đạt nhân tình. Bằng cách ấy, anh đã ghi được dấu ấn của mình trong lòng người đọc đối với thể thơ truyền thống của dân tộc. Bên cạnh Nguyễn Duy, Lê Đình Cánh… những nhà thơ cùng trang lứa có nhiều thành công về lục bát, người đọc không thể không nhắc tới Quang Chuyền. Không như  anh tự vịnh: “Tôi từ ít nhớ nhiều quên/ Sân ga lẻ bóng mình lên một tàu…”

* Thơ Nguyễn Đình Thi: “…Người ra đi đầu không ngoảnh lại…”

 4 – 2017

Nguồn: Tuần báo Văn nghệ số 27 (2994) ra ngày 8-7-2017

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm