TIN TỨC

Người suốt đời nhập cuộc thơ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-27 16:54:41
mail facebook google pos stwis
1673 lượt xem

NGÔ XUÂN HỘI

Các nhà thơ nước ta (và có lẽ cả thế giới) nhiều người lơ ngơ trước cuộc đời, trong số đó nhà thơ Quang Chuyền xứng đáng được xếp vào top đầu. Ông có thơ in báo năm 1964 khi đang là giáo sinh trường Trung cấp Sư phạm Việt Bắc. Năm 1965 tốt nghiệp, anh giáo sinh chưa kịp trở thành giáo viên thì nhà thơ Bàn Tài Đoàn - Hội trưởng Hội Văn Nghệ Khu tự trị Việt Bắc đã nằng nặc xin anh về tạp chí Văn nghệ khu công tác. Quang Chuyền ở Hội Văn Nghệ Việt Bắc ba năm, năm 1968 chích máu viết đơn xin đi bộ đội, ở binh chủng Thông tin cho tới ngày nghỉ hưu.


Nhà thơ Quang Chuyền (2023)

Hơn năm mươi năm kể từ ngày ấy trôi qua, hầu như ở đâu, lúc nào ông cũng làm thơ, in thơ, cũng đau đáu trước những vấn đề cuộc sống đặt ra cho thơ. Hai lần (1971, 1985) dự Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Thơ ông xuất hiện đều trên các báo, tạp chí, các tuyển tập thơ của Hội Nhà văn Việt Nam và các báo khác, nhận nhiều giải thưởng, tên tuổi được nhiều người biết. Vậy mà mãi tới năm 2003, sém sáu mươi tuổi đời, bốn mươi tuổi văn chương ông mới được kết nạp vào Hội. Có sự muộn ấy là do ông “bé cái nhầm”, nghĩ mình cứ viết, đến một lúc nào đấy Hội Nhà văn xem được, sẽ mời vào. Vì thế ông rất lấy làm lạ khi thấy quanh mình nhiều người viết sau, thơ thì cũng thường thường bậc trung mà vào Hội cứ như không, trong khi đó mình dù đã nỗ lực hết mức vẫn không sao lọt được vào con mắt xanh của các nhà tuyển trạch ở Hàn lâm viện 65 Nguyễn Du đáng kính.

Chuyện tình cờ xảy ra, mọi thắc mắc của ông phút chốc sáng tỏ. Năm 2002, Văn nghệ Quân đội kỷ niệm 45 năm ra số đầu tiên. Quang Chuyền được mời dự lễ, bởi ông là cộng tác viên thơ thân thiết của Tạp chí. Đón ông ở sảnh, nhà văn Nguyễn Quốc Trung bảo:

“Anh phải vào Hội đi chứ, cứ ở ngoài mãi thế coi sao tiện?”

“Ờ… vào chứ, vào chứ… nhưng Hội đã mời đâu?” – Quang Chuyền rụt rè.

Nguyễn Quốc Trung ngạc nhiên:

“Lại còn thế nữa. Em nói cho anh biết nhé, Hội Nhà văn Việt Nam thành lập năm 1957, đến nay tròn 45 năm. Trong 45 năm ấy, trừ 25 Hội viên sáng lập ở Đại hội lần thứ nhất là các nhà văn, nhà thơ Nông Quốc Chấn, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Anh Thơ, Mộng Sơn, Cầm Biêu… đến nay mới chỉ có một người là nhà thơ Trần Vàng Sao, tác giả “Bài thơ của một người yêu nước mình” được Hội mời (nhưng không vào), số còn lại ai muốn vào cũng phải đảm bảo tiêu chuẩn đã xuất bản ít nhất hai quyển sách văn học, sau đó viết đơn cam kết hoạt động theo tôn chỉ, quy tắc của Hội gửi Ban Tổ chức Hội viên để Hội xét. Ngay cả ông Tổng Thư ký kính mến của chúng ta hiện nay là Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng vậy. Vì thế, việc vào Hội với anh bây giờ, tác phẩm thì đủ rồi nhưng phải viết đơn. Đơn phải có hai người giới thiệu. Anh viết đơn đi, nếu không để em viết cho”

“Ồ, thế mà tôi cứ tưởng…”

Quang Chuyền chưng hửng.

Trở về, ông viết đơn ngay. Năm sau, 2003 ông được Hội Nhà văn Việt Nam xét, kết nạp. “Vừa tiểu đăng khoa lại đại đăng khoa” (chả là trước đó một tuần, Quang Chuyền được Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh kết nạp vào Hội). Quang Chuyền mừng lắm. Kể tôi nghe chuyện này, hơn mười năm trôi qua nhà thơ vẫn ngạc nhiên không hiểu sao mình lại “ngu lâu” đến thế. Nghe xong tôi cười, băn khoăn nếu không có Nguyễn Quốc Trung tình cờ mách cho, không biết đến bây giờ ông đã vào Hội Nhà văn được chưa?

Với thơ là điều quan thiết hàng ngày mà ông còn lơ ngơ vậy, thì trước muôn nẻo đường đời ông có lơ ngơ cũng là sự thường. Vì thế mới có chuyện thời loạn, tính cuộc vuông tròn bộ đội nhiều người chỉ cần về quê một tuần là đủ hoàn tất quy trình ba công đoạn: Xác định đối tượng - yêu - cưới, mà vẫn sinh con đẻ cái, vẫn chung thủy, đợi chờ nhau cho đến ngày đất nước yên bình. Còn anh lính Trần Quang Chuyền và cô giáo Trần Thị Bích Loan, vợ anh, vờn nhau những tám năm, gần bằng chín năm quân dân ta kháng Pháp, mười năm Lê Lợi đánh quân Minh, một sự lãng phí hết sức về thời gian và cơ hội. Mới có chuyện năm 1988, thiếu tá Trần Quang Chuyền được Bộ Tư lệnh Thông tin bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 596 Viễn thông đóng ở thành phố Hồ Chí Minh. Ông vào, đang chân ướt chân ráo thì chi bộ cơ sở nơi ông công tác tổ chức đại hội nhiệm kỳ. Nghĩ mình đường đường Phó Chủ nhiệm, lại là người của Bộ Tư lệnh điều vào, cơ cấu cấp ủy là chuyện đương nhiên. Nhưng kết quả bầu cử, ông bị gạt… cũng làm ông ngơ ngác. Mới có chuyện đổi đất lấy cơ sở hạ tầng hết sức lãng phí như ông đã làm (mà tôi không tiện kể). 

Ấy thế mà từ nhỏ, ông đã phải vật lộn kiếm sống. Có cái gì mâu thuẫn ở đây, vì những người vào đời sớm thường rất từng trải. Quang Chuyền có từng trải không? Tôi không biết. Nhưng tôi biết ông sinh trong một gia đình nghèo ở vùng đồng trũng tỉnh Vĩnh Phúc, nơi hợp lưu của hai con sông Lô và sông Phó Đáy. Cha ông mất năm 1954, khi mới 36 tuổi. Mẹ ông 32 tuổi, ở vậy nuôi con. Một nách nuôi năm con dại với vài sào ruộng khoán, sự khó khăn không thể nói hết. Mười tuổi, Quang Chuyền vào lớp một, vừa học vừa giúp mẹ làm đồng; đến lớp sáu, một hôm mẹ bảo cậu trưởng:

“Con đã lớn, học thế thôi, ở nhà giúp mẹ cho các em đi học!”

Câu nói ấy, cách đấy không lâu Chuyền đã nghe mẹ nói với chị Hạc, con gái nuôi của bố mẹ anh. Buồn, chị trốn mẹ đi làm công nhân đường sắt trên Yên Bái. Bây giờ đến lượt Quang Chuyền. Không, anh sẽ không trốn nhà ra đi như chị mình, nhưng cũng không thể giữa đường đứt gánh. Một ý nghĩ mới mẻ, táo bạo hình thành trong anh. Anh thưa với mẹ:

“Mẹ cho con lên Tuyên Quang, con sẽ tự kiếm sống, đi học.”

Ấy là anh nghĩ tới ông bà ngoại ở thị xã Tuyên Quang. Dịp nghỉ hè năm ngoái anh được mẹ cho lên Tuyên thăm ông bà, vì thế mà bây giờ Tuyên Quang bỗng trở thành miền đất hứa. Thấy mẹ có vẻ chần chừ, anh dấn thêm:

“Con đi, nhà bớt một miệng ăn, mẹ có thể cho ba em tới trường…”

Cuối cùng mẹ đồng ý. Thế là “Người ra đi đầu luôn ngoảnh lại”(*), hết lớp sáu Quang Chuyền rời nhà, sống tự lập.

Ngày ấy ở thị xã Tuyên Quang, nhà cửa hầu hết được làm bằng tre, nứa. Anh xin với ông bác họ, một chủ thầu xây dựng cho làm thợ phụ, tranh thủ ba tháng hè kiếm ít tiền. Bác đồng ý. Công việc hàng ngày của thợ phụ là vận chuyển tre nứa, đưa rui mè, đòn tay cho thợ chính lợp nhà. Lương thợ chính đồng hai năm xu một ngày công, thợ phụ bằng ½ thợ chính. Dù vậy, với một đứa trẻ choai lần đầu xa nhà, cũng quá tốt. Anh chia tiền nhận được ra làm nhiều khoản: ăn uống, mua quần áo, sách vở cho niên học tới. Ít ngày sau quen việc, thợ phụ Chuyền đã có thể leo lên mái nhà lợp lá cọ, tấm gianh như thợ chính.

Hết hè Quang Chuyền vào học lớp 7E trường cấp II thị xã, vừa tách từ trường Tân Trào ra. Học trò hầu hết là con em Việt kiều ở Tân Đảo về, lớn hơn anh một cái đầu, anh thành người nhỏ nhất lớp.

Thời gian biểu hàng ngày của Chuyền chật kín công việc: sáng lên lớp, chiều làm thợ, buổi tối đi vác thuê tre nứa; chủ nhật thì xách dao vào rừng chặt nứa. Mỗi ngày một trăm cây nứa bảy, to bằng cổ tay, dài 4m. Tập kết nứa ra bờ sông xong, Chuyền bó lại thành bó, mỗi bó hai mươi cây, ghép làm bè mảng. Trên mảng để thêm vài bó củi, rồi thả trôi theo sông về thị xã.

 “Sông Lô sông ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u… Sông Lô, sóng ngàn kháng chiến cháy bờ lau thưa đã tàn thôn trang. Ai qua bến nắng hồng lặng nhìn màu nước sông Lô xưa…”. Không, khi đó cậu trưởng Chuyền chẳng biết gì về một sông Lô hùng tráng trong âm nhạc Văn Cao, hát về những sự kiện trong cuộc kháng chiến chống Pháp xảy ra trên sông cách đấy không lâu. Nhưng nhẩm tính số tiền sẽ thu được, trong lòng cậu có một cái gì đấy cứ muốn ngân lên thành lời. Chịu thương chịu khó, một ngày chủ nhật cậu kiếm đủ tiền chi dùng cho cả tuần. Bây giờ mỗi khi nhớ lại, anh vẫn không hình dung nổi làm sao trong hoàn cảnh ấy anh vẫn thuộc bài, làm bài đầy đủ, vẫn là một học sinh trong top đầu của lớp.

Hết lớp 7, tức là hết cấp II Quang Chuyền thi và đỗ vào trường Sư phạm Việt Bắc. Đây là một vinh dự lớn của đời anh, bởi ngày ấy cả khu tự trị 6 tỉnh chỉ có một trường Sư phạm cấp hai này. Từ đây anh được Nhà nước nuôi ăn học, không còn phải vất vả kiếm sống. Căn cứ kết quả thi, nhà trường xếp Quang Chuyền vào học khối Tự nhiên. Khi các giáo sinh bước vào huấn luyện quân sự, để tạo không khí học đường, Ban Giám hiệu trường phát động một cuộc thi thơ. Với hơn 2.000 tân sinh viên, cuộc thi bề thế lắm. Kết thúc chấm giải, bài thơ “Buổi diễn tập đầu tiên trên thao trường” của anh giáo sinh khối Khoa học Tự nhiên Trần Quang Chuyền được trao giải Nhất. Nhà trường bèn chuyển anh sang học khối Xã hội. Quang Chuyền như cá gặp nước, học hành ngày một tấn tới. Năm học thứ hai được kết nạp Đảng, được báo cáo kinh nghiệm học tập và phấn vào Đảng khắp toàn trường. Tốt nghiệp đỗ Thủ khoa ngành Khoa học Xã hội, trở thành một “hot boy” trong mắt các giáo sinh nữ.

Tất cả những sự ấy được Quang Chuyền ghi lại trong thơ: “Chiều thành Tuyên/ Nắng khép dần cửa sổ/ Đáy sông Lô nở chùm hoa lửa/ Chim về sải cánh qua soi/ Sông thở bồi hồi/ Giục phà sang Nông Tiến…” Những câu thơ không chỉ được viết từ sự quan sát bình thường, mà bằng sự cảm thấu của một tâm hồn đã gắn bó với vùng đất yêu thương qua nhiều năm tháng.

Đọc thơ Quang Chuyền, muốn lĩnh hội đầy đủ những dở hay, đạt và chưa đạt, ta phải đặt trong văn cảnh chung của nền thơ chống Mỹ. Một nền thơ lấy thành công của cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện của dân tộc làm mục đích sáng tạo. Mọi chất liệu cảm xúc, đề tài, chủ đề đều từ đó mà ra. Với hoàn cảnh xuất thân, kiến thức được trang bị, thời điểm xuất hiện, Quang Chuyền là một ca tiêu biểu của lớp nhà thơ chống Mỹ. Ông nhập cuộc thơ, nhập cuộc kháng chiến ngay từ buổi đầu. Năm 1964, khi Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh ra miền Bắc, cũng là lúc Quang Chuyền công bố những bài thơ đầu tiên. Thơ ông viết trong thời kỳ này chủ yếu khai thác vào khía cạnh thơ mộng, rất học trò, thấm đẫm hương kỷ niệm của tuổi thơ thân thuộc: “…Tao với mày cùng làng Gốm sinh ra/ Cái làng nhỏ quanh năm hạn úng/ Bởi vì thế khi hai thằng cầm súng/ Có bệ tì là nỗi khổ xa xưa…” (Gửi bạn nơi xa). Hoặc: “Hát về mảnh đất yêu thương/ Bến sông trải nắng, con đường xanh cây/ Hát về cánh trắng cò bay/ Lô xô đồi đất, vơi đầy đồng chiêm/ Từ trong câu hát lớn lên/ Đời tôi tha thiết một miền quê hương…” (Đất ơi).

Mỹ leo thang chiến tranh, bom đạn lan rộng dần. Đổ nát, thương vong đã vào nhiều đô thị, vào cả Hà Nội. Trên đất nước chẳng còn nơi nào bình yên. Anh bộ đội Quang Chuyền vượt Trường Sơn vô chiến trường. Một lần tới ngã ba làng Nút, phía Tây Quảng Trị. Do lỡ đường, trời tối, anh phải ngủ lại trong một lòng cống đặt ngang dưới đường xe tăng đi. Suốt đêm ấy anh và mấy người đồng đội nằm trong sự đu đưa đánh võng của đạn pháo địch. Tai ù đặc vì tiếng nổ. Sáng ra cửa cống bị đất đá lấp gần hết. Giày, dép, ba lô, vật dùng bị đất cát vùi chôn. Cùng lúc ấy cách cống các anh nằm chừng năm chục mét, mấy đồng đội khác đang gọi nhau, đào bới, thu nhặt xác của ba đồng đội đêm qua bị đạn pháo nổ trúng hầm. Từng chút xương, chút thịt vương vãi trong máu, trong đất, trong cát được thu nhặt lại, đặt vào các tấm tăng. Xong, mọi người moi đất bên cạnh, đặt các bó tăng xuống, lấp đất chôn cất liệt sĩ. Mộ chí là những mảnh cây khắc họ, tên từng người: “Cây trẻ rừng già/ Tôi qua năm ấy/ Vết khắc đoạn cây/ Vết gãy/ Ngang câu thơ mình/ Chấm mỗi dấu than/ Lại thấy/ Hiện về gương mặt các anh!...”. Sự kiện trên được Quang Chuyền ghi thành thơ như những dòng nhật ký.

Tiêu biểu cho việc đưa hiện thực chiến trường vào thơ trong giai đoạn này của Quang Chuyền, theo tôi, là bài Qua khu rừng trắng, viết ở Quảng Đà năm 1974:

Từng đi qua bao nhiêu rừng xanh

Mới thấm hết nỗi đau trước vùng rừng trắng

Mênh mông im lặng

Cơn gió lùa buốt tim

 

Nhức nhối mắt nhìn

Triền miên màu trắng

Cây thấp, cây cao, cay cong, cây thẳng

Cùng chung dáng hình

Những thân cây đầy vết đạn, giơ cành

Trần trụi lá nên không thành cây nữa

 

Đâu rồi vị chua lá bứa

Đâu rồi màu lửa hoa chuối đỏ bừng

Đâu rồi tiếng chim say lòng rưng rưng

Đâu dòng suối bâng khuâng cánh bướm?

 

Chỉ còn đây màu trắng

màu trắng còn lại đây

Dáng hình của cây

Tạc lên nền trời

tạc vào mặt đất

Tạc trong lòng người

Là dấu hỏi treo ngang tầm mắt

 

Đi qua rừng trắng bao nhiêu con người

Nhấp nhô ba lô, nòng súng

Thậm thịch bàn chân bước trong tim lặng

Nhìn đồng đội đi tôi chợt hiểu điều này

Áo quần chúng tôi xanh đậm màu cây”.

Bài thơ mở đầu như một bài ký (khổ 1, 2), nhưng chất liệu ký trong đó được tác giả sử dụng như là phương tiện cho sự phát triển của tứ thơ, và ngay ở cả những câu thơ - ký sự này, mỗi câu đều được viết với một sự kìm nén lớn tạo nên một cảm xúc thẩm mỹ cao trong lòng người đọc. Câu thơ hay nhất bài: “Trần trụi lá nên không thành cây nữa” là sự bật thốt của cảm xúc, làm rung chuyển chúng ta và chúng ta cảm thấy hết cái sức nặng của chiến tranh, của những mất mát, hy sinh mà chúng ta phải gánh chịu. Không sa vào kể lể, những liên tưởng tiếp theo (khổ 3, 4) tiếp tục đào sâu cảm xúc, làm thành một mạch ngầm mãnh liệt, tương ứng với hiện thực trần trụi bên ngoài. (Khổ 5) kết thúc bật lên bất ngờ, đem lại cho ta một niềm tin, một hy vọng về chính nghĩa của chúng ta, về sự sống sẽ được chúng ta bảo vệ…

Quang Chuyền làm thơ nhiều thể loại, nhưng sở trường thể lục bát. Lục bát chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp thơ anh. Lật mở mười bảy tập thơ nhà thơ đã xuất bản, tập nào thơ lục bát cũng chiếm số lượng lớn. Hơn thế, anh còn dành hẳn một tập chuyên về lục bát (Bốn câu lục bát, nxb VHVNTP Hồ Chí Minh, 2014).Vẫn là hai câu 6 – 8, vẫn B-T-B/ T-T-B ở câu lục. B-T-B-B/ T-B-T-B ở câu bát, lục bát Quang Chuyền mang dấu ấn riêng của hồn thơ anh, không lẫn với những nhà thơ lính khác: một mối tình dang dở, một bến nước thân quen, một con phố nhỏ nơi sơ tán, những người thân, bạn  bè cũ… những gì níu giữ anh với quê nhà, đúng như anh tuyên ngôn: “…Nổi nênh đắng đót ngọt ngào/ Mượn hồn tục ngữ ca dao đi về…”

Đọc lục bát Quang Chuyền, thấy anh không cố ý làm mới thể thơ cũ của cha ông bằng những ngắt nhịp, bẻ từng tiết một rồi viết xuống dòng như  thơ tự do. Tức là anh không cố ý làm mới lục bát về hình thức, mà chủ yếu bằng nội dung, bằng sự tinh tế, hóm hỉnh  trong nhìn nhận sự việc, luyện đạt nhân tình. Bằng cách ấy, anh đã ghi được dấu ấn của mình trong lòng người đọc đối với thể thơ truyền thống của dân tộc. Bên cạnh Nguyễn Duy, Lê Đình Cánh… những nhà thơ cùng trang lứa có nhiều thành công về lục bát, người đọc không thể không nhắc tới Quang Chuyền. Không như  anh tự vịnh: “Tôi từ ít nhớ nhiều quên/ Sân ga lẻ bóng mình lên một tàu…”

* Thơ Nguyễn Đình Thi: “…Người ra đi đầu không ngoảnh lại…”

 4 – 2017

Nguồn: Tuần báo Văn nghệ số 27 (2994) ra ngày 8-7-2017

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm