TIN TỨC

Đọc thơ Trần Mai Hường

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-08-15 09:00:47
mail facebook google pos stwis
1570 lượt xem

TUẤN TRẦN

Trước hết thơ Trần Mai Hường toát lên tính nữ: tính nữ trung hòa, trữ tình, da diết và đầy khát vọng giao cảm. Dẫu thao thức bồn chồn, dẫu vẫn rạo rực vô tư. Song nó luôn luôn nằm lại ở nữ tính, không phải nữ quyền. Thơ chị luôn nằm trong bổn phận, bổn phận của người nữ kiểu “em chỉ là em thôi!...”.


Nhà thơ Trần Mai Hường

Hệ hình ẩn dụ trong thơ Trần Mai Hường giăng mắc dày đặc nhưng rất tỉnh táo. Có thể nói sau cái “ngồn ngộn” cảm xúc dâng lên, giáng xuống đó là một tấm lòng người nữ bao dung, luôn đứng đó ở đường biên, để dễ dàng trở về nguyên vẹn nhịp đập đời thường. Thơ Trần Mai Hường luôn xanh, xanh lưu cửu (chẳng chín bao giờ). Cái xanh từ thưở mười ba cho đến năm hai mươi mấy, ba mươi vừa đủ đằm thắm, ngọt ngào trong phôi pha. Thơ Trần Mai Hường ít khi buồn, tình trong thơ không cảm- tưởng về sự ôm sầu ấp thảm như những giọng nữ trong thơ thường thấy mà luôn ngợi ca “em”, ngợi ca “anh”, ngợi ca đời với sự nâng niu, thưởng thức. Nữ sĩ luôn ở trạng thái tha thứ, tha cho “anh” cho tình yêu và cả cho “em”- chủ thể trữ tình trong thơ nữa. Chỉ cần là anh thì em sẽ “ừ!”, gật đầu cho mọi sự thể bao dung. Tất nhiên Trần Mai Hường là một thi dân giàu có, phong phú những giọng thơ, viết về tình về anh về hiếu hạnh, về những con đường, những tuổi thần tiên, về mùa thi và phượng vĩ. Nhưng khi tiếp nhận thơ chị tôi nằm lại ở đó, trên bờ cỏ dày nguyên sinh ủ muôn dấu “tiếng đàn bà”, sợi tình tơ nghĩa trải giăng theo số phận của những mùa em:

“Có một ngày đá bỗng biết nhớ nhung, nỗi nhớ vu vơ từ nơi nào xa lắm, mây như mướt hơn khoe trời ngọt nắng, ngọn gió mềm lay khẽ phím non tơ.

Ngỡ qua rồi những run rẩy xa xưa, thời phấn trắng bảng đen tươi nguyên màu áo, tình yêu ngàn đời vẫn trái tim mách bảo, thuở tinh khôi lại chập chững tìm về.

Em rưng rưng đón nhận đam mê, khẽ lùa tay chặn tim mình lỗi nhịp, có phải anh thực hư hư thực, dan díu nào mặc định sóng đa đoan.

Đêm trống đêm em hờn giận thời gian mà thời gian thích đùa dai đến lạ, em như chấm buồm nhỏ nhoi giữa trùng trùng biển cả, nào biết dưới biếc xanh kia ẩn chứa những gì.

Chợt bàng hoàng khép nhẹ hàng mi, ẩn hiện bóng hình người em mong gặp, biết đâu... biết đâu... ở một nơi xa lắm, anh cũng như mình...lặng lẽ...biết đâu...”

                                                                      (Thơ cho người mong gặp)

“Đá”- tính cứng đơn thuần nhưng lõi cốt là mềm mại, cô đơn. Chính vì thế đá cũng biết nhớ nhung. Em dẫu đã “không còn tuổi nào” vẫn một lòng tha thiết gọi dậy giấc mơ thời thiếu nữ. Trong sự “đá” tưởng đã chai lỳ bổn phận, nội tâm thi nhân bỗng sôi nổi, mãnh liệt để tuôn đổ ngàn lời và ngàn lần nữa yêu thương phơi trải giữa trời nước mênh mông, diệu vợi. Trên non cao và cả trong vô thường.

Trong khoảnh khắc, “khép nhẹ hàng mi” (khép hờ chưa hẳn) ấy, em đã bước vào “thực tại mộng mị”. Bắt đầu là những câu hỏi lộ bày tính nữ, những câu hỏi không có câu trả lời, hoặc chẳng cần có. Cái nữ tính trong thơ, trước hết ở những câu hỏi tu từ, câu hỏi không đáp, không định, đóng kết tứ thơ giữa bời bời cảm xúc miên viễn, xa xôi mà nặng trĩu một nỗi tự phô bày. Em lần mò nội tâm về anh và thò bàn tay từ tâm thức ra ngoại giới để tìm anh trong trạng thái mơ hồ thế nhưng bố cục thơ lại được khung khổ ở một trật tự tuyến tính. Nét độc đáo trong các thiết lập hình thức văn bản thơ cách tân, hiện đại. Điều đó cho thấy Trần Mai Hường là nhà thơ sắc sảo và lý trí, dùng lý trí để dẫn đường cho cảm xúc và trực cảm. Để thơ chị luôn hàm chứa những hạt nhân của niềm tin, sự “buông” dẫu tình yêu là tín ngưỡng đẹp nhất trong lòng:

Có một ngày đá bỗng biết nhớ nhung- mở đầu mệnh đề, một luận đề có chất triết thuyết, được diễn đạt đầy thi hứng, thi cảm, một sự nhớ đổ ập bất ngờ…

Ngỡ qua rồi những run rẩy xa xưa- trước cơn thương em bắt đầu chuyển động tìm yêu, miết dấu thời gian mà trở về tinh khôi.

Em rưng rưng đón nhận đam mê- em không khước từ những đau thương chạm đáy, em sẵn lòng cho những đối mặt hôm nay, em lần nữa gian díu giải trình anh.

Đêm trống đêm em hờn giận thời gian- em trào dâng nỗi oán hờn đa đoan, thời gian thách thức em tìm anh trong mọi chiều kích thời/ không rộng lớn thực, mơ hỗn trộn.

Chợt bàng hoàng khép nhẹ hàng mi- em biến thực tại thành hư tưởng, trong mộng mị để được gặp anh.

Mở đầu bất chợt và kết thúc bàng hoàng. Nhưng hàng mi em nhẹ khép nghĩa là em không còn chấp sự. Em sẽ để ra đó những “…”, khoảng trống như để mãi chực trào trong mơ. Khoảng trống đó em bỏ ngỏ, nghĩa là em bao dung không phán xét nửa lời. Em nhói đau âm thầm, chịu đựng, để thứ tha cho anh, cho em và cho tình yêu luôn ở thì hiện tại tiếp diễn.

Đến với bài thơ “Thơ viết lúc buồn” là sự pha trộn giữa kí ức và thực tại. Mơ và thực. Nỗi đau, sự trớ trêu cùng cái tỉnh thức. Thủ pháp gối tựa trùng điệp, tối đa tính từ biểu cảm, cùng những khoảng trắng gián cách, gạch nối tạo nên cái buông- neo nơi cảm xúc. Sự đan bện giữa các xúc cảm có nối tiếc, trách móc, chua xót, ngậm ngùi, dồn nén và thở dài trong nỗi trớ trêu.

Cảnh tượng được mô tả tỉ mẩn, theo những diễn biến cảm xúc với giọng điệu trữ tình trung tính, gần như vô âm sắc thi thoảng những hư từ “Ừ”, “Ú òa” như tiếng lòng được thả ra giữa tuyệt vọng, vô lực, sự chấp nhận trong những nhói đau. Chấp nhận cái mênh mông, hư ảo của tình và đời đã xa mặt- cách lòng- trật nhịp. Không cao giọng mà đầy những mang móc thực tại, quá khứ, tương lai, sự trơ ra đó giữa những khát vọng yêu thương, những muốn tỏ bày chưa kịp nói ra. Trong chăn đơn gối chiếc em quay cuồng trong sự vụ tìm anh:

“Thế là ta lại quay vào ô mất lượt

Thương yêu ơi - đã lạc tận phương tìm

Ừ cứ nghĩ lòng mình trong như nắng

Vách đá cuối đường có trổ nhánh an nhiên

Hình ảnh “Quay vào ô mất lượt” đi trước là phó từ “lại” nghĩa là lần mất lượt này đã tái diễn, nhiều hơn một lần và có thể là vô lần chẳng đếm đong được. Tình yêu vốn dĩ là một bí mật, hàm số vô ẩn hoặc vô số ẩn số không thể nào cắt nghĩa, lý giải. Thi nhân đã hữu hình hóa cái vô hình của tình yêu giống như một trò chơi. Thật là, không ai thiết kế trò chơi hay bằng tạo hóa. Và không ai giải trình trò chơi đó hay bằng “em”. Lạc mất rồi thì em lòng như hóa nắng, dọi thêm những chói chang cho tình đời, tình người đẹp thêm chút đỉnh! Em sẽ về với an nhiên, ôm cả sầu thương lẫn đoạn trường và đã chơi được em sẽ chịu được. Sẽ cười như xé cả màn đêm, cho khoảnh khắc tình mãi lên ngôi:

Tự gom hết bao khúc quanh nghiệt ngã

Hun hút đêm dài sương ghé tóc kết hoa

Ngơ ngác soi gương tập cười vang như thể

Cuộc trần gian chơi giỡn ú òa

 

Ừ xa lắm quê nhà lăng lắc gió

Những đận đời chèo chống ngược dòng đau

Thêu thùa lại những sắc màu. Tự dỗ...

Lại dặn lòng ừ nhỉ có gì đâu

Tình như tấm vải thô sơ, anh trao tay và em thêu thùa bằng những đắng đót, khúc quanh, bằng những tự chống chèo trong trống trải, đơn côi. Em tự dỗ, tự ru, tự rồ dại rồi tự lau ráo lệ. Trên từng đường kim mũi chỉ, thế giới hiện ra bảy màu phổ quang: Đỏ, cam, vàng, da cam, chàm, tím. Sắc nền đem đúa như hun hút đêm dài anh để em một mình.

Lửa biểu tượng sự thiêu đốt. Lửa thảng thốt đêm nay là nhân quả của lửa thề nguyền xưa kia. Khi tình yêu đến những nóng bỏng trực trào, khi tình tan mộng vỡ những bàng hoàng trong giao thức xuất lộ. Lửa lại đến xoáy khoét thêm nỗi đau. Giữa mùng đêm em xòe bàn tay, để lửa cháy rực những cuồng quyến thân thuộc. Những xanh tươi của ngày đôi mươi ùa về, phủ xanh những chứa chan. Nhưng rồi em trở về với nhịp đập đời thường, tỉnh mộng và giàn dụa những nước mắt. Em mơ màng rồi em đối diện, em sống lại một thời con gái. “Ô mất lượt” đã mở ra cả khung trời kỉ niệm và “Ô mất lượt” cũng đóng gói  một vòng tròn những đam mê. Em buồn, em khóc đó, nhưng em vẫn là con người của thực tại hôm nay. Nhận diện rõ trò chơi, trò đời: và em chơi và em quay và đã “mất lượt nữa rồi”.

Xòe bàn tay - lửa rần rần thảng thốt

Trong mơ xanh ta ước nắng xanh dìu

Chợt tỉnh giấc

Mình và ô mất lượt

Cứ xoay tròn

Giàn giụa những trớ trêu.”

                    (Thơ viết lúc buồn)

Giọng thơ của bài Dối mình ôn tồn âu yếm, nhẹ nhõm duyên dáng, lúc đau đớn nghẹn ngào, khi tỉnh táo rành rẽ, lúc phân vân, xao xuyến ngập ngừng…Nhưng ngay cả khi nói đến rất nhiều sự thoáng qua mất mát, giọng thơ chưa bao giờ ngả màu bi lụy, ngược lại, luôn can đảm và căng tràn nhựa sống. Những dòng hồi cảm luôn mang tinh thần hướng về hiện tại. Ấy là thơ của một người dường như đã sống trải qua mấy kiếp đời nhưng vẫn giữ vẹn nguyên linh hồn của một thiếu nữ thổn thức trong thơ:

Chiều thắt màu nơ tím

Trái tim rưng nốt chờ

Thương mới vừa hé nụ

Nhớ đã mùa ngẩn ngơ

Hình ảnh thơ rất con gái: nơ tím, nụ và mùa. Nhịp đập rưng rưng của con tim và cái cảm thức thời gian vội vả, gấp gáp đã làm cho câu thơ đọc lên dễ thương vô ngần, mà sâu lắng vô cùng trong cái ngẩn ngơ trước chiều và dòng chảy thời/ không.

Buồn như tờ giấy nháp

Lật từng trang đọc mình

Chữ vẫn còn mê ngủ

Đan vách đời lặng thinh

 

Thả dài theo mắt gió

Nhặt mong manh tiếng cười

Sao chép vào ngăn nhớ

Mùi yêu kết cườm môi...

Cảm xúc được thả nhẹ nhàng vào thinh không, rồi lại được cài quấn, góp nhặt, sao chép, bôi xóa. Cách gieo vần, ngắt nhịp và cấu tứ ngũ ngôn hiện đại đã làm cho nhịp điệu trữ tình trong thơ thêm phần ngọt ngào, vẫy gọi và luôn trong trạng thái lấp lánh những sắc màu.

Như người đang mất trí

Giải trình một cuộc quên

Đành xé rào ký ức

Tự dối mình là em

 

Thấy mình nhòe mực tím

Thấy anh kính trắng... Và...

Nữ sĩ đổ ra giấy những bận bịu cõi lòng, những dòng mực bén đượm hương hồn kí ức tình người, tình đời đẹp đẽ. Trong nhớ nhớ, quên quên, trong nhòe mờ quá khứ vẫn cự quậy, nhung nhúc sợi tình tơ nghĩa đang động mình thắm lại. Vẫn là những “…”, những khoảng trống buông lơi, những hiện diện vắng mặt. Tác giả đã kết thúc niềm cảm hiểu lòng riêng bằng cái lập lờ bởi còn đó những ấp iu nồng đượm, những chưa thỏa lòng, là tình, là yêu, là hận, tất cả đều không rõ ràng.

Ba bài tình thơ như ba bức thư tình viết trong hoang, trong đêm, trong những nổi- chìm bể dâu. Nhưng cũng chỉ đến thế thôi, “em chỉ là con gái” buồn khóc, vui cười. Cái yêu của em dừng lại nơi thì con gái không có bổn phận trưng ra một luận đề triết học trong thơ. Sứ mệnh em bọc trong má hồng, nhưng trong cái yêu anh không oằn oại đớn đau, không róng riết kêu đòi, không hận sầu bi thương, không kiêu hãnh, hẹp hòi. Chỉ yêu mềm mại, yêu tha thứ và luôn nỗ lực quên đi những điều không nên nhớ, và nhớ lấy những điều không được quên. So với nữ sĩ Xuân Quỳnh ở phương diện thơ tình và tính nữ, Trần Mai Hường như một sự thừa hưởng, nối kết. Bởi trong thơ Xuân Quỳnh và thơ chị luôn có sự nhìn nhận chính mình, trách mình như cách độ tha của một người phụ nữ luôn biết hi sinh.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm