TIN TỨC

Nguyễn Quang Thiều với ‘Nhật ký người xem đồng hồ’

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-01-28 08:43:17
mail facebook google pos stwis
4663 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA
(Nhân đọc tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ của Nguyễn Quang Thiều, Nxb Hội Nhà văn, 2023)

 

Nhật ký người xem đồng hồ là tập thơ mới nhất của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Tập sách thể hiện rõ nét những đặc trưng và phong cách thơ rất riêng của anh. Điều dễ nhận thấy ở tập thơ này là Nguyễn Quang Thiều đã sử dụng dày đặc hệ thống các biểu tượng trong từng câu thơ, bài thơ; tạo nên những dấu ấn đặc biệt và tiếng thơ ấy cũng chính là tiếng lòng đầy trắc ẩn của một người từng trải như anh. Hệ thống những biểu tượng trong thơ Nguyễn Quang Thiều có sức dung chứa và gợi mở đến vô cùng, đó như là chất liệu nghệ thuật để kiến tạo hiện thực trong nhiều mối quan hệ đa dạng của cuộc sống thực tại và cả ở chiều sâu tâm linh.

Thơ Nguyễn Quang Thiều không phải là loại thơ dễ đọc, dễ hiểu, dễ cảm. Đọc thơ anh phải đọc chậm, vừa đọc vừa ngẫm ngợi và liên tưởng mới có thể nhận ra những ẩn ý sâu xa mà nhà thơ gửi gắm vào đó.

Thơ Nguyễn Quang Thiều mang đậm dấu ấn của thơ hậu hiện đại với trùng điệp các biểu tượng giàu sức gợi và đầy ám ảnh. Bút pháp ảo hóa với những suy tưởng, triết luận về đời, về người, về mọi thứ đã - đang và sẽ xảy ra. Nhà thơ đối thoại với chính mình, độc thoại với bản thân, đối thoại với thế giới xung quanh trong cái nhìn đa chiều. Dường như ở bất cứ khoảng thời gian nào, không gian nào, bất cứ điều gì trong cái nhìn của Nguyễn Quang Thiều cũng đầy ắp những sự kiện, hình ảnh; chúng luôn quẫy đạp và diễn ra đến vô cùng... Bởi đời sống con người thời hiện đại vốn dĩ đã phức tạp, mọi thứ luôn biến chuyển và đổi thay từng giờ, từng phút và nhất là các chuẩn mực về văn hóa, đạo đức dịch biến hỗn tạp, khó lường.

Biểu tượng thời gian: tháng, năm, đêm, ngày, sáng, trưa, chiều, giờ; biểu tượng ánh sáng, bóng tối; biểu tượng giấc mơ...  xuất hiện với tần số cao trong Nhật ký người xem đồng hồ. Trên cơ sở đó giúp nhà thơ mở lối, dò tìm, khai mở những tầng sâu vô thức, phóng chiếu từ hiện thực đến siêu hình, bí ẩn...; tiếp cho thơ sức cuốn hút và sự vẫy gọi đối với bạn đọc.

Từ Bản tin ngày, xảy ra ở bên kia nửa vòng trái đất, cách biệt về không gian địa lý, căn tính dân tộc, Nguyễn Quang Thiều lại có sự liên tưởng và xâu chuỗi liên hoàn, độc đáo để chuyển tải những điều sâu kín, đậm chất nhân văn. Ở đó còn hàm chứa những trăn trở và cả những nỗi bất an thường trực khi nhìn đâu cũng thấy bất trắc; bởi ngay ở  nơi an toàn nhất cũng hiện hữu sự hiểm nguy.

Viên cảnh sát da trắng/ bắn tám viên đạn vào một thanh niên da đen// Bình luận viên đi ăn trưa/ Ở bên kia trái đất/ Và nơi tôi - nửa đêm// Một cảm giác/ Lấn át sọ hãi/ Lất át đau đớn/ Loang ra như máu/ Trên chiếc khăn trải bàn ăn// Bên kia là giữa trưa/ Bên này nửa đêm// Tôi nhìn thấy/ Những con cá bị kẹt trong nước.

Từ bản thể cá nhân, Nguyễn Quang Thiều nhìn ra mọi hướng với cái nhìn biện chứng nhưng cũng lắm lúc ảo diệu, lung linh. Trong bài Mưa gần sáng, nhà thơ viết nhân ngày giỗ mẹ cũng tạo ra được những ám ảnh dư ba. Từ những sự vật, sự việc được nói đến, nhà thơ có sự liên hệ ngầm và kết nối chúng lại với nhau. Bằng những thủ pháp nghệ thuật, các hình ảnh tưởng bình thường lại trở nên độc đáo, sự đan cài giữa cõi mộng - ảo và thực - mộng đã mở ra những liên tưởng bất ngờ, thú vị. Hơi lạnh cơn mưa gần sáng/ Con rắn nước trườn qua tôi/ Giấc mơ còn đọng lại/ Trên chiếc lá ký ức/ Trong khu vườn thời gian// Nhớ mãi giấc mơ xa xôi/ Những ngày mẹ còn sống/ Tuổi thơ hoang hoang cánh đồng/ Cậu bé đứng im lặng/ Thời gian cũng ngừng trôi// Bông cúc vạn thọ lay nhẹ/ Nghĩa địa vọng giọng người xưa/ Mẹ lau nước mắt cho con/ Trên biên giới mùa thu mây trắng// Có một đứa trẻ vừa gọi mẹ vừa lớn/ Chợt già đi trong những cúc thẫm chiều.

Biểu tượng giấc mơ và người mẹ song hành trong bài thơ thể hiện dòng cảm xúc chân thành, da diết về người thân yêu nhất của chính chủ thể trữ tình. Mẹ chính là biểu tượng vĩ đại, là điểm tựa tâm hồn luôn thường trực trong tâm thức đứa con trên mọi nẻo đường đời. Vì thế, dù mẹ đã thành người thiên cổ thì đứa con vẫn “mơ” thấy mẹ dõi theo để an ủi, vỗ về...

Thơ Nguyễn Quang Thiều là tiếng nói của một con người luôn nỗ lực để sáng tạo, một trái tim nhân văn, nhân ái; với những khát vọng luôn muốn được khẳng định, tỏ bày. Khát vọng ấy vừa mạnh mẽ vừa dứt khoát bằng tất cả những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm.

Những người lạc nhau là bài thơ gợi cho tôi nhiều suy ngẫm, bởi nhà thơ đã khéo léo gửi vào đó những khao khát, ước muốn rất nhân bản, vượt trên mọi lẽ thường phàm tục, thanh tẩy những mọn hèn, toan tính, hơn thua... Hướng về một thế giới đầy ắp tình yêu thương, ấm áp trong niềm tin, niềm hy vọng...

Có hai người lạc nhau/ Trên đường nhân gian dằng dặc/ Giờ trở về như mộng/ Gió dâng lên một bản phối diệu kỳ/ Và họ chính là ca từ/ Của bài ca buồn và đẹp// Không có gì đau đớn hơn người lạc người/ Không gì kỳ diệu hơn người tìm thấy người/ Dưới vòm cây tràn nắng/ Những con chim hót đắm say/ Câu chuyện họ bắt đầu lời thứ nhất// Nhưng có một người không bao giờ đi lạc/ Đêm đêm trở về cười trong bóng tối/ Cho những ngôi sao lần lượt hiện lên/ Soi rõ con đường trên đất/ Dẫn những người đi lạc trở về.

Đọc Nhật ký người xem đồng hồ, Nhà phê bình Hoàng Kim Ngọc đã rất có lý khi cho rằng: “Mỗi mốc thời gian trong thơ Nguyễn Quang Thiều lưu giữ một “sự kiện tâm hồn”.

Cảm thức thời gian đã in đậm dấu ấn trong tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ. Thật đặc biệt khi có tới 24 nhan đề bài thơ trực tiếp nhắc đến thời gian như một tín hiệu nghệ thuật. Đó không chỉ là những mốc mặc định như ngày, sáng, trưa, chiều, đêm…(như: “Sáng chủ nhật”, “Giấc mộng trưa”, “Tin nhắn chiều 29.9. 2019”, “Đêm tháng Bảy”…) mà còn là những mốc thời gian cụ thể đến từng giờ từng phút (như: “Lúc 4:11’”, “0 giờ 17 phút”, “10:13’”…); thậm chí chi li đến từng giây (như bài: 10:3’10’’) …

Mỗi dấu mốc thời gian ấy lại có một bài thơ ra đời như những dòng nhật ký của tâm hồn. Ông đã ghi lại được những cảm xúc, suy nghĩ và đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa xã hội từ những cái tưởng như rất bình thường, nhỏ nhặt”.

Nhật ký người xem đồng hồ, Nguyễn Quang Thiều luôn có ý thức tạo dựng hệ thống thi ảnh từ trong chiều sâu của ký ức, của thực tại và cả những dự cảm ở thì tương lai. Từ những điều gần gũi, có thật quanh mình, thi nhân đã mường tượng, liên tưởng đến một khoảng không gian khác, thời gian khác với những phức cảm, sự dồn nén của cảm xúc thông qua hệ thống ngôn ngữ chắt lọc, cô đọng, đa tầng...

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã kết nối giữa quá khứ với hiện tại bằng kiểu tư duy phức hợp trong sự nghiệm suy, tương thông, linh cảm... Thời gian bò đến bậc cửa đêm/ Gien mèo trong máu thức dậy/ Chỉ một cái rùng mình như chợt lạnh/ Tôi đã lướt đi trong bốn chân mình// Tôi nhảy lên bậc cửa sổ/ Ngoái lại căn phòng quen thuộc/ Quần áo, giày tất tôi bỏ lại/ Bỏ lại bản lý lịch cá nhân/ Với một cái dấu đỏ/ Vết chàm trên da thịt tôi (Hóa mèo).

Khác với những tập thơ trước, ở Nhật ký người xem đồng hồ không còn nhiều những bài thơ, câu thơ dài dằng dặc mà thay vào đó có những bài thơ ngắn nhưng sức dung chứa và sự liên tưởng lại miên man đến vô cùng. Đặc biệt trong phần 2 của tập sách “Bản tự khai của một số đồ vật trong phòng viết” gồm 22 bài thơ ngắn, thậm chí có bài chỉ 1 câu thơ, 2 câu thơ, 3 câu thơ. Chẳng hạn: Tôi thơm hộ những người trước mặt (Lư đốt trầm); Chỉ thân xác tôi là sự thật (Television); Tôi đổ dầu vào ký ức một thi sỹ/ Thắp sáng những ngôn từ (Đèn dầu cũ); Tất cả các phím im lặng/ Để soạn thảo ký ức (Máy chữ cũ); Tên tôi là sự nhơ nhớp/ Để làm sạch những nhơ nhớp (Thùng rác); Tôi giúp chủ nhân tôi/ Tìm lại những lưu lạc (Sổ ghi chép cũ); Không phải con tàu Noah/ Nhưng cả thế giới trong đó (Piano); Gió thổi qua những ô cửa/ Lang thang và vô định (Kèn Acmonika); 12 giờ 01 phút./ Tôi treo xác tôi trên tường/ Ra đi (Đồng hồ Odo); Những chùm lá sống lại/ Mở những bàn tay/ Sông bắt đầu chảy (Ấm pha trà); Khi tôi thắp lên bóng tối/ Mọi gương mặt đã chết/ rực sáng (Giá nến)...

Bằng năng khiếu, vốn sống và cả vốn văn hóa Nguyễn Quang Thiều đã tổng hòa nhiều phương thức để xây dựng nên những hình tượng đầy ám gợi trong thơ. Ở đó, nhà thơ tiệp cận các thủ pháp nghệ thuật theo tinh thần hậu hiện đại: nghệ thuật sắp đặt, sáng tạo cấu trúc thơ theo kiểu phân mảnh, đứt đoạn, chảy theo tiềm thức - vô thức... với nhiều những ẩn dụ, liên tưởng bất ngờ, thú vị. Vì thế, thơ Nguyễn Quang Thiều đã tạo được phong cách lạ, độc đáo, riêng biệt trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam đương đại.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm