TIN TỨC

Nguyễn Quang Thiều với ‘Nhật ký người xem đồng hồ’

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-01-28 08:43:17
mail facebook google pos stwis
4292 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA
(Nhân đọc tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ của Nguyễn Quang Thiều, Nxb Hội Nhà văn, 2023)

 

Nhật ký người xem đồng hồ là tập thơ mới nhất của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Tập sách thể hiện rõ nét những đặc trưng và phong cách thơ rất riêng của anh. Điều dễ nhận thấy ở tập thơ này là Nguyễn Quang Thiều đã sử dụng dày đặc hệ thống các biểu tượng trong từng câu thơ, bài thơ; tạo nên những dấu ấn đặc biệt và tiếng thơ ấy cũng chính là tiếng lòng đầy trắc ẩn của một người từng trải như anh. Hệ thống những biểu tượng trong thơ Nguyễn Quang Thiều có sức dung chứa và gợi mở đến vô cùng, đó như là chất liệu nghệ thuật để kiến tạo hiện thực trong nhiều mối quan hệ đa dạng của cuộc sống thực tại và cả ở chiều sâu tâm linh.

Thơ Nguyễn Quang Thiều không phải là loại thơ dễ đọc, dễ hiểu, dễ cảm. Đọc thơ anh phải đọc chậm, vừa đọc vừa ngẫm ngợi và liên tưởng mới có thể nhận ra những ẩn ý sâu xa mà nhà thơ gửi gắm vào đó.

Thơ Nguyễn Quang Thiều mang đậm dấu ấn của thơ hậu hiện đại với trùng điệp các biểu tượng giàu sức gợi và đầy ám ảnh. Bút pháp ảo hóa với những suy tưởng, triết luận về đời, về người, về mọi thứ đã - đang và sẽ xảy ra. Nhà thơ đối thoại với chính mình, độc thoại với bản thân, đối thoại với thế giới xung quanh trong cái nhìn đa chiều. Dường như ở bất cứ khoảng thời gian nào, không gian nào, bất cứ điều gì trong cái nhìn của Nguyễn Quang Thiều cũng đầy ắp những sự kiện, hình ảnh; chúng luôn quẫy đạp và diễn ra đến vô cùng... Bởi đời sống con người thời hiện đại vốn dĩ đã phức tạp, mọi thứ luôn biến chuyển và đổi thay từng giờ, từng phút và nhất là các chuẩn mực về văn hóa, đạo đức dịch biến hỗn tạp, khó lường.

Biểu tượng thời gian: tháng, năm, đêm, ngày, sáng, trưa, chiều, giờ; biểu tượng ánh sáng, bóng tối; biểu tượng giấc mơ...  xuất hiện với tần số cao trong Nhật ký người xem đồng hồ. Trên cơ sở đó giúp nhà thơ mở lối, dò tìm, khai mở những tầng sâu vô thức, phóng chiếu từ hiện thực đến siêu hình, bí ẩn...; tiếp cho thơ sức cuốn hút và sự vẫy gọi đối với bạn đọc.

Từ Bản tin ngày, xảy ra ở bên kia nửa vòng trái đất, cách biệt về không gian địa lý, căn tính dân tộc, Nguyễn Quang Thiều lại có sự liên tưởng và xâu chuỗi liên hoàn, độc đáo để chuyển tải những điều sâu kín, đậm chất nhân văn. Ở đó còn hàm chứa những trăn trở và cả những nỗi bất an thường trực khi nhìn đâu cũng thấy bất trắc; bởi ngay ở  nơi an toàn nhất cũng hiện hữu sự hiểm nguy.

Viên cảnh sát da trắng/ bắn tám viên đạn vào một thanh niên da đen// Bình luận viên đi ăn trưa/ Ở bên kia trái đất/ Và nơi tôi - nửa đêm// Một cảm giác/ Lấn át sọ hãi/ Lất át đau đớn/ Loang ra như máu/ Trên chiếc khăn trải bàn ăn// Bên kia là giữa trưa/ Bên này nửa đêm// Tôi nhìn thấy/ Những con cá bị kẹt trong nước.

Từ bản thể cá nhân, Nguyễn Quang Thiều nhìn ra mọi hướng với cái nhìn biện chứng nhưng cũng lắm lúc ảo diệu, lung linh. Trong bài Mưa gần sáng, nhà thơ viết nhân ngày giỗ mẹ cũng tạo ra được những ám ảnh dư ba. Từ những sự vật, sự việc được nói đến, nhà thơ có sự liên hệ ngầm và kết nối chúng lại với nhau. Bằng những thủ pháp nghệ thuật, các hình ảnh tưởng bình thường lại trở nên độc đáo, sự đan cài giữa cõi mộng - ảo và thực - mộng đã mở ra những liên tưởng bất ngờ, thú vị. Hơi lạnh cơn mưa gần sáng/ Con rắn nước trườn qua tôi/ Giấc mơ còn đọng lại/ Trên chiếc lá ký ức/ Trong khu vườn thời gian// Nhớ mãi giấc mơ xa xôi/ Những ngày mẹ còn sống/ Tuổi thơ hoang hoang cánh đồng/ Cậu bé đứng im lặng/ Thời gian cũng ngừng trôi// Bông cúc vạn thọ lay nhẹ/ Nghĩa địa vọng giọng người xưa/ Mẹ lau nước mắt cho con/ Trên biên giới mùa thu mây trắng// Có một đứa trẻ vừa gọi mẹ vừa lớn/ Chợt già đi trong những cúc thẫm chiều.

Biểu tượng giấc mơ và người mẹ song hành trong bài thơ thể hiện dòng cảm xúc chân thành, da diết về người thân yêu nhất của chính chủ thể trữ tình. Mẹ chính là biểu tượng vĩ đại, là điểm tựa tâm hồn luôn thường trực trong tâm thức đứa con trên mọi nẻo đường đời. Vì thế, dù mẹ đã thành người thiên cổ thì đứa con vẫn “mơ” thấy mẹ dõi theo để an ủi, vỗ về...

Thơ Nguyễn Quang Thiều là tiếng nói của một con người luôn nỗ lực để sáng tạo, một trái tim nhân văn, nhân ái; với những khát vọng luôn muốn được khẳng định, tỏ bày. Khát vọng ấy vừa mạnh mẽ vừa dứt khoát bằng tất cả những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm.

Những người lạc nhau là bài thơ gợi cho tôi nhiều suy ngẫm, bởi nhà thơ đã khéo léo gửi vào đó những khao khát, ước muốn rất nhân bản, vượt trên mọi lẽ thường phàm tục, thanh tẩy những mọn hèn, toan tính, hơn thua... Hướng về một thế giới đầy ắp tình yêu thương, ấm áp trong niềm tin, niềm hy vọng...

Có hai người lạc nhau/ Trên đường nhân gian dằng dặc/ Giờ trở về như mộng/ Gió dâng lên một bản phối diệu kỳ/ Và họ chính là ca từ/ Của bài ca buồn và đẹp// Không có gì đau đớn hơn người lạc người/ Không gì kỳ diệu hơn người tìm thấy người/ Dưới vòm cây tràn nắng/ Những con chim hót đắm say/ Câu chuyện họ bắt đầu lời thứ nhất// Nhưng có một người không bao giờ đi lạc/ Đêm đêm trở về cười trong bóng tối/ Cho những ngôi sao lần lượt hiện lên/ Soi rõ con đường trên đất/ Dẫn những người đi lạc trở về.

Đọc Nhật ký người xem đồng hồ, Nhà phê bình Hoàng Kim Ngọc đã rất có lý khi cho rằng: “Mỗi mốc thời gian trong thơ Nguyễn Quang Thiều lưu giữ một “sự kiện tâm hồn”.

Cảm thức thời gian đã in đậm dấu ấn trong tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ. Thật đặc biệt khi có tới 24 nhan đề bài thơ trực tiếp nhắc đến thời gian như một tín hiệu nghệ thuật. Đó không chỉ là những mốc mặc định như ngày, sáng, trưa, chiều, đêm…(như: “Sáng chủ nhật”, “Giấc mộng trưa”, “Tin nhắn chiều 29.9. 2019”, “Đêm tháng Bảy”…) mà còn là những mốc thời gian cụ thể đến từng giờ từng phút (như: “Lúc 4:11’”, “0 giờ 17 phút”, “10:13’”…); thậm chí chi li đến từng giây (như bài: 10:3’10’’) …

Mỗi dấu mốc thời gian ấy lại có một bài thơ ra đời như những dòng nhật ký của tâm hồn. Ông đã ghi lại được những cảm xúc, suy nghĩ và đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa xã hội từ những cái tưởng như rất bình thường, nhỏ nhặt”.

Nhật ký người xem đồng hồ, Nguyễn Quang Thiều luôn có ý thức tạo dựng hệ thống thi ảnh từ trong chiều sâu của ký ức, của thực tại và cả những dự cảm ở thì tương lai. Từ những điều gần gũi, có thật quanh mình, thi nhân đã mường tượng, liên tưởng đến một khoảng không gian khác, thời gian khác với những phức cảm, sự dồn nén của cảm xúc thông qua hệ thống ngôn ngữ chắt lọc, cô đọng, đa tầng...

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã kết nối giữa quá khứ với hiện tại bằng kiểu tư duy phức hợp trong sự nghiệm suy, tương thông, linh cảm... Thời gian bò đến bậc cửa đêm/ Gien mèo trong máu thức dậy/ Chỉ một cái rùng mình như chợt lạnh/ Tôi đã lướt đi trong bốn chân mình// Tôi nhảy lên bậc cửa sổ/ Ngoái lại căn phòng quen thuộc/ Quần áo, giày tất tôi bỏ lại/ Bỏ lại bản lý lịch cá nhân/ Với một cái dấu đỏ/ Vết chàm trên da thịt tôi (Hóa mèo).

Khác với những tập thơ trước, ở Nhật ký người xem đồng hồ không còn nhiều những bài thơ, câu thơ dài dằng dặc mà thay vào đó có những bài thơ ngắn nhưng sức dung chứa và sự liên tưởng lại miên man đến vô cùng. Đặc biệt trong phần 2 của tập sách “Bản tự khai của một số đồ vật trong phòng viết” gồm 22 bài thơ ngắn, thậm chí có bài chỉ 1 câu thơ, 2 câu thơ, 3 câu thơ. Chẳng hạn: Tôi thơm hộ những người trước mặt (Lư đốt trầm); Chỉ thân xác tôi là sự thật (Television); Tôi đổ dầu vào ký ức một thi sỹ/ Thắp sáng những ngôn từ (Đèn dầu cũ); Tất cả các phím im lặng/ Để soạn thảo ký ức (Máy chữ cũ); Tên tôi là sự nhơ nhớp/ Để làm sạch những nhơ nhớp (Thùng rác); Tôi giúp chủ nhân tôi/ Tìm lại những lưu lạc (Sổ ghi chép cũ); Không phải con tàu Noah/ Nhưng cả thế giới trong đó (Piano); Gió thổi qua những ô cửa/ Lang thang và vô định (Kèn Acmonika); 12 giờ 01 phút./ Tôi treo xác tôi trên tường/ Ra đi (Đồng hồ Odo); Những chùm lá sống lại/ Mở những bàn tay/ Sông bắt đầu chảy (Ấm pha trà); Khi tôi thắp lên bóng tối/ Mọi gương mặt đã chết/ rực sáng (Giá nến)...

Bằng năng khiếu, vốn sống và cả vốn văn hóa Nguyễn Quang Thiều đã tổng hòa nhiều phương thức để xây dựng nên những hình tượng đầy ám gợi trong thơ. Ở đó, nhà thơ tiệp cận các thủ pháp nghệ thuật theo tinh thần hậu hiện đại: nghệ thuật sắp đặt, sáng tạo cấu trúc thơ theo kiểu phân mảnh, đứt đoạn, chảy theo tiềm thức - vô thức... với nhiều những ẩn dụ, liên tưởng bất ngờ, thú vị. Vì thế, thơ Nguyễn Quang Thiều đã tạo được phong cách lạ, độc đáo, riêng biệt trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam đương đại.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trần Mai Hường, hành trình giàu nữ tính
Trần Mai Hường dành cho tôi một bất ngờ. Cố thổ của chị xã Trung Tú (nay là xã Ứng Hòa). Ngày còn học Đại học tôi từng đi xe đạp, theo anh bạn cùng học về xã Hòa Nam (nay là xã Hòa Xá), ngang qua mặt Vân Đình, chỉ chưa về Trung Tú.
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm