TIN TỨC

Góp mình làm ánh sáng ban mai

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-26 10:39:36
mail facebook google pos stwis
2086 lượt xem

Kỷ niệm 67 năm ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 - 27/2/2022)

NGUYỄN MINH NGỌC

Nhiều năm nay, tôi từng nghe nhiều thầy thuốc từng lăn lộn trong chiến tranh nhắc đến bác sĩ Hàng Nhựt Tâm, đặc biệt là bác sĩ Huỳnh Hòa Thanh (Ba Bé, quê ở Cao Lãnh, Đồng Tháp) cựu chiến sĩ Tiểu đoàn 307 anh hùng. Tập kết ra Bắc, ông học Trường Đại học Y dược khoa Hà Nội (nay là Đại học Y Hà Nội) niên khóa 1960-1965. Tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa ngoại, vừa cưới vợ xong, cuối năm 1965, ông trở lại chiến trường miền Nam và là người có nhiều năm gắn bó với cánh rừng U Minh hạ trong thời kỳ ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Về sau, bác sĩ Thanh là Trung tá, Phó giám đốc Bệnh viện Quân y 121 (1981-1984) Quân khu 9. Cư ngụ tại 387A Nguyễn Trãi (phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1), bác sĩ Huỳnh Hòa Thanh là tác giả cuốn Hồi ký “Một cuộc đời làm nghề thầy thuốc”, Nhà xuất bản QĐND ấn hành năm 2013, tái bản 2014. Đã ngoại bát tuần, từng trải, với bản tính cương trực, thẳng thắn của một người lính, ông nhiều lần khẳng định: “Lịch sử ngành Y tế Việt Nam chưa có một bác sĩ - chiến sĩ nào trên chiến trường hành động anh hùng như Hàng Nhựt Tâm!”.

Đồng niên với bác sĩ Ba Bé, Hàng Nhựt Tâm sinh năm 1937, tại xã Điều Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước, có cha và các anh chị em đều tham gia kháng chiến, lên 13 tuổi, anh học trường tiểu học kháng chiến Đồng Tháp Mười cùng Lê Minh Trí (sau là Phó giám đốc Sở Y tế tỉnh Tiền Giang). Từ cuối năm 1954, Tâm và bạn Trí là học sinh miền Nam ở trường Thống Nhất I, Thanh Hóa. Tại đây, anh được kết nạp Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam. Năm 1961, anh vào Đại học Y dược khoa Hà Nội, trường học lâu đời nhất do bác sĩ A. Yersin (1863-1943) sáng lập và làm Hiệu trưởng đầu tiên. Một ngôi trường danh tiếng bậc nhất trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam. Trường tọa lạc tại số 13 Lê Thánh Tông, Hà Nội. Bấy giờ, Hàng Nhựt Tâm là bạn cùng lớp với Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Việt Tuyết… Họ được thọ giáo bởi những bậc thầy nổi tiếng, đó là các Giáo sư: Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Trần Hữu Tước…

Năm 1964, trước tình hình và nhiệm vụ mới, Bộ Y tế và Trường Đại học Y khoa Hà Nội đã chọn khoảng 40 sinh viên khóa 1961-1966, tách riêng thành một lớp riêng, không nghỉ hè, nghỉ Tết, tập trung đào tạo một số chuyên khoa sâu theo yêu cầu của chiến trường miền Nam. Tiêu chí tuyển chọn vào lớp “đặc biệt” là những sinh viên quê miền Nam, có sức khỏe, nhiệt tình trở lại chiến trường công tác, tuyệt đối trung thành với cách mạng… Hàng Nhựt Tâm được chọn vào lớp này.

Tốt nghiệp bác sĩ ngoại khoa, Hàng Nhựt Tâm được cử sang Liên Xô tiếp tục con đường học vấn. Thời kỳ này, sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968) ồ ạt đưa quân viễn chinh sang trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, đồng thời liều lĩnh mở rộng chiến tranh phá hoại, đưa không quân đánh phá miền Bắc. Như nhiều bạn bè khác, sống trong cảnh “ngày Bắc, đêm Nam”, bác sĩ Tâm thực sự không còn lòng dạ nào để nghĩ việc học lên nữa. Thêm vào đó, bấy giờ, phong trào “Ba sẵn sàng” đang phát triển sâu rộng ở miền Bắc và được tuổi trẻ, nhất là trí thức và học sinh, sinh viên nhiệt tình hưởng ứng. Điều đó đã khiến anh quyết định không ra nước ngoài mà chọn trở về quê hương đặng góp sức mình, sát cánh cùng đồng bào, đồng chí chiến đấu.

Cuối cùng, Hàng Nhựt Tâm được toại nguyện. Anh cùng các bạn trong lớp “đặc biệt” hăm hở khoác ba lô vượt Trường Sơn về Nam. Trong số 37 bác sĩ lớp Y4C đầu tiên của khóa 1961-1966 đi B thì có tới 21 bác sĩ ngoại khoa. Đây là sự bổ sung đáng kể cho chiến trường miền Nam lúc bấy giờ. Còn những người bạn cùng lớp, lần lượt kẻ trước người sau vào các chiến trường. Cuối năm 1966, bác sĩ Nguyễn Việt Tuyết vào miền Tây Nam Bộ, chị về Ban Dân y Khu 9 cùng với người bạn đời là bác sĩ Huỳnh Hòa Thanh. Sau năm 1975, bác sĩ Việt Tuyết về Trường đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh, làm công tác tổ chức cán bộ của Nhà trường.

Ngày 18-12-1967, bác sĩ Đặng Thùy Trâm lên đường vào Trung Trung Bộ. Sau ba tháng hành quân, chị tới Quảng Ngãi và được phân công phụ trách bệnh viện huyện Đức Phổ. Đây là một bệnh viện dân y, nhưng chủ yếu điều trị cho thương bệnh binh. Ngày 22-6-1970, trong một chuyến công tác về đồng bằng, bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã anh dũng hy sinh, để lại hai tập nhật ký. Những trang ghi chép của nữ liệt sĩ 27 tuổi đã có một số phận kỳ lạ, được những người lính Mỹ lưu giữ hơn một phần ba thế kỷ và tìm cách chuyển giao lại cho gia đình chị. Nhờ vậy, cuốn sách “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” (Nxb Hội Nhà văn) đã ra mắt bạn đọc với hàng chục vạn bản và trở thành một hiện tượng văn hóa đặc sắc và độc đáo. Đến năm 2006, liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Còn anh bạn Lê Minh Trí đi học y tá, rồi y sĩ, ra trường nhận công tác mãi ở Thái Nguyên. Và anh cũng trở về Nam như bạn mình. Một buổi tối ở căn cứ của tỉnh Bến Tre, khi Trí đương ngồi lui cui soạn bài cho lớp y sĩ đầu tiên của Ban Dân y Khu 8, thì bất ngờ được báo có khách. Đi cùng bác sĩ Trần Hữu Hằng, là một thanh niên tráng kiện, vẻ mặt hiền lành, lưng khoác chiếc bòng, nai nịt gọn gàng, bên hông sề sệ khẩu súng ngắn K54. Nhận ra người bạn thân, Trí nhảy ra ôm choàng lấy Tâm. Thế là sau 12 năm xa cách, họ lại gặp nhau ở chiến trường. Thì ra Hàng Nhựt Tâm được phân công về Ban Dân y Khu 8. Nhưng chưa kịp ấm chỗ thì anh nhận lệnh đi chi viện cho tỉnh Bến Tre. Và họ lại sát cánh bên nhau như thủa cùng chung đèn sách.

Cuối năm 1967, Hàng Nhựt Tâm được điều chuyển về làm Trưởng ban Dân y H10 (tức Trưởng ty Y tế tỉnh Mỹ Tho). Trước lúc chia tay, anh còn kịp tặng quà cho bạn Lê Minh Trí. Đó là bản chép tay bài hát “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” của nhạc sĩ Trần Kiết Tường: “Tôi hát ngàn lời ca nồng nàn hơn nắng ban mai, đẹp tình hơn cánh hoa mai, hùng thiêng hơn núi sông dài, là một niềm tin HỒ CHÍ MINH, HỒ CHÍ MINH đẹp nhất tên Người, là một niềm tin…”. Hai người xiết chặt tay nhau, đâu ngờ ấy là lần cuối cùng.

Trong thời gian công tác tại quê hương Đồng khởi, Hàng Nhựt Tâm đã gặp và yêu một người con gái xứ dừa xinh đẹp. Ấy là chị Huỳnh Thị Lan Anh, con gái má Năm, một bà mẹ chiến sĩ ở xã Hưng Khánh Trung, huyện Mỏ Cày. Và tình cảm đẹp giữa cặp trai tài, gái sắc đã nẩy nở, nồng đượm. Trước khi trở lại Mỹ Tho công tác, hai người đã ước hẹn ngày chiến trường tạm lắng thì chàng bác sĩ sẽ về Bến Tre, thưa chuyện với gia đình nàng, xin kết tóc xe tơ…

Bấy giờ, chiến trường Mỹ Tho nổi tiếng ác liệt. Nơi đứng chân của Ban Dân y H10 nằm cạnh kinh Tây - Nguyễn Văn Tiếp liên tục bị máy bay Mỹ dội bom. Địa hình nơi đây mỏng và trống trơn. Ban đêm, pháo địch từ Bình Đại cứ rót cầm canh xuống căn cứ của ta. Trước khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân mở màn, bác sĩ Hàng Nhựt Tâm tham gia chống càn tại xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho. Ngày 13-12-1967, biệt kích Mỹ cùng lính sư đoàn 7 đổ về càn quét từ kinh Nguyễn Văn Tiếp đến kinh Tây. Một số người rút về Trảng Mù, riêng bác sĩ Tâm vẫn trụ lại dưới hầm bí mật. Tuy nhiên, điều ít ai ngờ là có một kẻ hèn nhát đầu hàng phản bội đã dẫn địch về khui hầm súng của X12, gần kề nơi Hàng Nhựt Tâm đang nấp. Một tiếng nổ lớn khiến đất xung quanh hầm bay tung tóe, làm bung luôn cả nắp hầm bí mật. Phát hiện có người ở dưới hầm, bọn địch liền bắc loa gọi hàng và bu lại tính bắt sống. Trong trường hợp này chỉ có hai cách, một là đầu hàng giặc để giữ mạng sống, hai là nổ súng chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Hàng Nhựt Tâm đã chọn cách thứ hai. Giữa vòng vây dày đặc của kẻ thù, người bác sĩ trẻ, vị Trưởng ty Y tế Mỹ Tho vẫn hiên ngang đáp trả bằng những trái lựu đạn da láng. Anh dùng khẩu K54 bắn hết cả hai băng đạn, diệt 3 tên địch, làm bị thương một số tên khác. Nhưng hàng trăm tên giặc đã khép chặt vòng vây, chúng dùng M79 nã cấp tập vào hầm. Hàng Nhựt Tâm anh dũng hy sinh. Bọn địch tàn ác lôi thi thể tả tơi của anh lên miệng hầm rồi rạch bụng lấy buồng gan và mang đi khoe chiến tích “đây là gan của tên Việt cộng, can đảm chưa từng thấy”.

Khi cô Thu Dung (sau là bác sĩ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang) và chị Năm Đen cùng đồng nghiệp trở lại nơi Hàng Nhựt Tâm hy sinh, bọn địch tàn ác còn gài lựu đạn và mìn ngay dưới thi thể anh. Đồng đội phải vất vả lắm mới lấy được thi hài Hàng Nhựt Tâm đem về an táng tại nghĩa trang xã Mỹ Phước Tây. Thấu hiểu và khâm phục nguyện vọng cháy bỏng của người trí thức trẻ này, cô Thu Dung đã khẩn thiết báo cáo với đồng chí Nguyễn Thanh Hà (Mười Hà) - Bí thư Thành ủy Mỹ Tho lúc bấy giờ, đề nghị kết nạp Hàng Nhựt Tâm vào Đảng. Rất kịp thời, Thành ủy ra quyết định kết nạp đảng viên. Trong buổi lễ truy điệu Trưởng ban Dân y H10, được tổ chức tại Văn phòng Thành ủy Mỹ Tho (đóng ở xã Đạo Thạnh) liệt sĩ Hàng Nhựt Tâm có tên trong hàng ngũ những người cộng sản.

Sau ngày non sông liền một dải, trong tấm bằng “Tổ quốc ghi công” do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký năm 1977, ghi rõ chức vụ của bác sĩ - liệt sĩ Hàng Nhựt Tâm là “Trưởng ty Y tế”. Năm 1986, Hội đồng Nhà nước đã truy tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho liệt sĩ Hàng Nhựt Tâm. Đến tháng 12-2014, cụ Đoàn Thị Qưới, thân mẫu của anh, được truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Nhiều năm nay, Sở Y tế tỉnh Tiền Giang phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tiền Giang, cùng các sở, ban ngành hữu quan, hoàn tất hồ sơ và thủ tục đề nghị Nhà nước truy phong danh hiệu Anh hùng LLVTND cho liệt sĩ Hàng Nhựt Tâm.

Hơn nửa thế kỷ đã lùi lại phía sau. Những bạn bè cùng khóa bác sĩ (1961-1966) của Trường Đại học Y khoa Hà Nội ngày ấy giờ đã bước qua tuổi “xưa nay hiếm”, nhưng mỗi lần họp mặt, ai nấy đều bùi ngùi xúc động khi nhắc đến Hàng Nhựt Tâm, Đặng Thùy Trâm cùng hàng chục bạn cùng lớp khác đã hy sinh trên chiến trường. Dâng hiến trọn tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, bác sĩ Hàng Nhựt Tâm mãi là tấm gương sáng ngời của một trí thức trẻ dấn thân, “góp mình làm ánh sáng ban mai” (thơ Bùi Minh Quốc).

Họp mặt khóa bác sĩ Đại học Y Hà Nội khóa 1961-1966, bác sĩ Nguyễn Việt Tuyết (hàng đứng) thứ 4 từ trái sang.

Trường Đại học Y khoa Hà Nội

Ảnh chân dung đầu bài: Bác sĩ Hàng Nhựt Tâm (1937-1967).

(Tạp chí Văn Nghệ TP. HCM, số 12/2022)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm