TIN TỨC

Góp mình làm ánh sáng ban mai

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-26 10:39:36
mail facebook google pos stwis
2014 lượt xem

Kỷ niệm 67 năm ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 - 27/2/2022)

NGUYỄN MINH NGỌC

Nhiều năm nay, tôi từng nghe nhiều thầy thuốc từng lăn lộn trong chiến tranh nhắc đến bác sĩ Hàng Nhựt Tâm, đặc biệt là bác sĩ Huỳnh Hòa Thanh (Ba Bé, quê ở Cao Lãnh, Đồng Tháp) cựu chiến sĩ Tiểu đoàn 307 anh hùng. Tập kết ra Bắc, ông học Trường Đại học Y dược khoa Hà Nội (nay là Đại học Y Hà Nội) niên khóa 1960-1965. Tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa ngoại, vừa cưới vợ xong, cuối năm 1965, ông trở lại chiến trường miền Nam và là người có nhiều năm gắn bó với cánh rừng U Minh hạ trong thời kỳ ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Về sau, bác sĩ Thanh là Trung tá, Phó giám đốc Bệnh viện Quân y 121 (1981-1984) Quân khu 9. Cư ngụ tại 387A Nguyễn Trãi (phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1), bác sĩ Huỳnh Hòa Thanh là tác giả cuốn Hồi ký “Một cuộc đời làm nghề thầy thuốc”, Nhà xuất bản QĐND ấn hành năm 2013, tái bản 2014. Đã ngoại bát tuần, từng trải, với bản tính cương trực, thẳng thắn của một người lính, ông nhiều lần khẳng định: “Lịch sử ngành Y tế Việt Nam chưa có một bác sĩ - chiến sĩ nào trên chiến trường hành động anh hùng như Hàng Nhựt Tâm!”.

Đồng niên với bác sĩ Ba Bé, Hàng Nhựt Tâm sinh năm 1937, tại xã Điều Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước, có cha và các anh chị em đều tham gia kháng chiến, lên 13 tuổi, anh học trường tiểu học kháng chiến Đồng Tháp Mười cùng Lê Minh Trí (sau là Phó giám đốc Sở Y tế tỉnh Tiền Giang). Từ cuối năm 1954, Tâm và bạn Trí là học sinh miền Nam ở trường Thống Nhất I, Thanh Hóa. Tại đây, anh được kết nạp Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam. Năm 1961, anh vào Đại học Y dược khoa Hà Nội, trường học lâu đời nhất do bác sĩ A. Yersin (1863-1943) sáng lập và làm Hiệu trưởng đầu tiên. Một ngôi trường danh tiếng bậc nhất trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam. Trường tọa lạc tại số 13 Lê Thánh Tông, Hà Nội. Bấy giờ, Hàng Nhựt Tâm là bạn cùng lớp với Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Việt Tuyết… Họ được thọ giáo bởi những bậc thầy nổi tiếng, đó là các Giáo sư: Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Trần Hữu Tước…

Năm 1964, trước tình hình và nhiệm vụ mới, Bộ Y tế và Trường Đại học Y khoa Hà Nội đã chọn khoảng 40 sinh viên khóa 1961-1966, tách riêng thành một lớp riêng, không nghỉ hè, nghỉ Tết, tập trung đào tạo một số chuyên khoa sâu theo yêu cầu của chiến trường miền Nam. Tiêu chí tuyển chọn vào lớp “đặc biệt” là những sinh viên quê miền Nam, có sức khỏe, nhiệt tình trở lại chiến trường công tác, tuyệt đối trung thành với cách mạng… Hàng Nhựt Tâm được chọn vào lớp này.

Tốt nghiệp bác sĩ ngoại khoa, Hàng Nhựt Tâm được cử sang Liên Xô tiếp tục con đường học vấn. Thời kỳ này, sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968) ồ ạt đưa quân viễn chinh sang trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, đồng thời liều lĩnh mở rộng chiến tranh phá hoại, đưa không quân đánh phá miền Bắc. Như nhiều bạn bè khác, sống trong cảnh “ngày Bắc, đêm Nam”, bác sĩ Tâm thực sự không còn lòng dạ nào để nghĩ việc học lên nữa. Thêm vào đó, bấy giờ, phong trào “Ba sẵn sàng” đang phát triển sâu rộng ở miền Bắc và được tuổi trẻ, nhất là trí thức và học sinh, sinh viên nhiệt tình hưởng ứng. Điều đó đã khiến anh quyết định không ra nước ngoài mà chọn trở về quê hương đặng góp sức mình, sát cánh cùng đồng bào, đồng chí chiến đấu.

Cuối cùng, Hàng Nhựt Tâm được toại nguyện. Anh cùng các bạn trong lớp “đặc biệt” hăm hở khoác ba lô vượt Trường Sơn về Nam. Trong số 37 bác sĩ lớp Y4C đầu tiên của khóa 1961-1966 đi B thì có tới 21 bác sĩ ngoại khoa. Đây là sự bổ sung đáng kể cho chiến trường miền Nam lúc bấy giờ. Còn những người bạn cùng lớp, lần lượt kẻ trước người sau vào các chiến trường. Cuối năm 1966, bác sĩ Nguyễn Việt Tuyết vào miền Tây Nam Bộ, chị về Ban Dân y Khu 9 cùng với người bạn đời là bác sĩ Huỳnh Hòa Thanh. Sau năm 1975, bác sĩ Việt Tuyết về Trường đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh, làm công tác tổ chức cán bộ của Nhà trường.

Ngày 18-12-1967, bác sĩ Đặng Thùy Trâm lên đường vào Trung Trung Bộ. Sau ba tháng hành quân, chị tới Quảng Ngãi và được phân công phụ trách bệnh viện huyện Đức Phổ. Đây là một bệnh viện dân y, nhưng chủ yếu điều trị cho thương bệnh binh. Ngày 22-6-1970, trong một chuyến công tác về đồng bằng, bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã anh dũng hy sinh, để lại hai tập nhật ký. Những trang ghi chép của nữ liệt sĩ 27 tuổi đã có một số phận kỳ lạ, được những người lính Mỹ lưu giữ hơn một phần ba thế kỷ và tìm cách chuyển giao lại cho gia đình chị. Nhờ vậy, cuốn sách “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” (Nxb Hội Nhà văn) đã ra mắt bạn đọc với hàng chục vạn bản và trở thành một hiện tượng văn hóa đặc sắc và độc đáo. Đến năm 2006, liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Còn anh bạn Lê Minh Trí đi học y tá, rồi y sĩ, ra trường nhận công tác mãi ở Thái Nguyên. Và anh cũng trở về Nam như bạn mình. Một buổi tối ở căn cứ của tỉnh Bến Tre, khi Trí đương ngồi lui cui soạn bài cho lớp y sĩ đầu tiên của Ban Dân y Khu 8, thì bất ngờ được báo có khách. Đi cùng bác sĩ Trần Hữu Hằng, là một thanh niên tráng kiện, vẻ mặt hiền lành, lưng khoác chiếc bòng, nai nịt gọn gàng, bên hông sề sệ khẩu súng ngắn K54. Nhận ra người bạn thân, Trí nhảy ra ôm choàng lấy Tâm. Thế là sau 12 năm xa cách, họ lại gặp nhau ở chiến trường. Thì ra Hàng Nhựt Tâm được phân công về Ban Dân y Khu 8. Nhưng chưa kịp ấm chỗ thì anh nhận lệnh đi chi viện cho tỉnh Bến Tre. Và họ lại sát cánh bên nhau như thủa cùng chung đèn sách.

Cuối năm 1967, Hàng Nhựt Tâm được điều chuyển về làm Trưởng ban Dân y H10 (tức Trưởng ty Y tế tỉnh Mỹ Tho). Trước lúc chia tay, anh còn kịp tặng quà cho bạn Lê Minh Trí. Đó là bản chép tay bài hát “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” của nhạc sĩ Trần Kiết Tường: “Tôi hát ngàn lời ca nồng nàn hơn nắng ban mai, đẹp tình hơn cánh hoa mai, hùng thiêng hơn núi sông dài, là một niềm tin HỒ CHÍ MINH, HỒ CHÍ MINH đẹp nhất tên Người, là một niềm tin…”. Hai người xiết chặt tay nhau, đâu ngờ ấy là lần cuối cùng.

Trong thời gian công tác tại quê hương Đồng khởi, Hàng Nhựt Tâm đã gặp và yêu một người con gái xứ dừa xinh đẹp. Ấy là chị Huỳnh Thị Lan Anh, con gái má Năm, một bà mẹ chiến sĩ ở xã Hưng Khánh Trung, huyện Mỏ Cày. Và tình cảm đẹp giữa cặp trai tài, gái sắc đã nẩy nở, nồng đượm. Trước khi trở lại Mỹ Tho công tác, hai người đã ước hẹn ngày chiến trường tạm lắng thì chàng bác sĩ sẽ về Bến Tre, thưa chuyện với gia đình nàng, xin kết tóc xe tơ…

Bấy giờ, chiến trường Mỹ Tho nổi tiếng ác liệt. Nơi đứng chân của Ban Dân y H10 nằm cạnh kinh Tây - Nguyễn Văn Tiếp liên tục bị máy bay Mỹ dội bom. Địa hình nơi đây mỏng và trống trơn. Ban đêm, pháo địch từ Bình Đại cứ rót cầm canh xuống căn cứ của ta. Trước khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân mở màn, bác sĩ Hàng Nhựt Tâm tham gia chống càn tại xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho. Ngày 13-12-1967, biệt kích Mỹ cùng lính sư đoàn 7 đổ về càn quét từ kinh Nguyễn Văn Tiếp đến kinh Tây. Một số người rút về Trảng Mù, riêng bác sĩ Tâm vẫn trụ lại dưới hầm bí mật. Tuy nhiên, điều ít ai ngờ là có một kẻ hèn nhát đầu hàng phản bội đã dẫn địch về khui hầm súng của X12, gần kề nơi Hàng Nhựt Tâm đang nấp. Một tiếng nổ lớn khiến đất xung quanh hầm bay tung tóe, làm bung luôn cả nắp hầm bí mật. Phát hiện có người ở dưới hầm, bọn địch liền bắc loa gọi hàng và bu lại tính bắt sống. Trong trường hợp này chỉ có hai cách, một là đầu hàng giặc để giữ mạng sống, hai là nổ súng chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Hàng Nhựt Tâm đã chọn cách thứ hai. Giữa vòng vây dày đặc của kẻ thù, người bác sĩ trẻ, vị Trưởng ty Y tế Mỹ Tho vẫn hiên ngang đáp trả bằng những trái lựu đạn da láng. Anh dùng khẩu K54 bắn hết cả hai băng đạn, diệt 3 tên địch, làm bị thương một số tên khác. Nhưng hàng trăm tên giặc đã khép chặt vòng vây, chúng dùng M79 nã cấp tập vào hầm. Hàng Nhựt Tâm anh dũng hy sinh. Bọn địch tàn ác lôi thi thể tả tơi của anh lên miệng hầm rồi rạch bụng lấy buồng gan và mang đi khoe chiến tích “đây là gan của tên Việt cộng, can đảm chưa từng thấy”.

Khi cô Thu Dung (sau là bác sĩ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang) và chị Năm Đen cùng đồng nghiệp trở lại nơi Hàng Nhựt Tâm hy sinh, bọn địch tàn ác còn gài lựu đạn và mìn ngay dưới thi thể anh. Đồng đội phải vất vả lắm mới lấy được thi hài Hàng Nhựt Tâm đem về an táng tại nghĩa trang xã Mỹ Phước Tây. Thấu hiểu và khâm phục nguyện vọng cháy bỏng của người trí thức trẻ này, cô Thu Dung đã khẩn thiết báo cáo với đồng chí Nguyễn Thanh Hà (Mười Hà) - Bí thư Thành ủy Mỹ Tho lúc bấy giờ, đề nghị kết nạp Hàng Nhựt Tâm vào Đảng. Rất kịp thời, Thành ủy ra quyết định kết nạp đảng viên. Trong buổi lễ truy điệu Trưởng ban Dân y H10, được tổ chức tại Văn phòng Thành ủy Mỹ Tho (đóng ở xã Đạo Thạnh) liệt sĩ Hàng Nhựt Tâm có tên trong hàng ngũ những người cộng sản.

Sau ngày non sông liền một dải, trong tấm bằng “Tổ quốc ghi công” do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký năm 1977, ghi rõ chức vụ của bác sĩ - liệt sĩ Hàng Nhựt Tâm là “Trưởng ty Y tế”. Năm 1986, Hội đồng Nhà nước đã truy tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho liệt sĩ Hàng Nhựt Tâm. Đến tháng 12-2014, cụ Đoàn Thị Qưới, thân mẫu của anh, được truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Nhiều năm nay, Sở Y tế tỉnh Tiền Giang phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tiền Giang, cùng các sở, ban ngành hữu quan, hoàn tất hồ sơ và thủ tục đề nghị Nhà nước truy phong danh hiệu Anh hùng LLVTND cho liệt sĩ Hàng Nhựt Tâm.

Hơn nửa thế kỷ đã lùi lại phía sau. Những bạn bè cùng khóa bác sĩ (1961-1966) của Trường Đại học Y khoa Hà Nội ngày ấy giờ đã bước qua tuổi “xưa nay hiếm”, nhưng mỗi lần họp mặt, ai nấy đều bùi ngùi xúc động khi nhắc đến Hàng Nhựt Tâm, Đặng Thùy Trâm cùng hàng chục bạn cùng lớp khác đã hy sinh trên chiến trường. Dâng hiến trọn tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, bác sĩ Hàng Nhựt Tâm mãi là tấm gương sáng ngời của một trí thức trẻ dấn thân, “góp mình làm ánh sáng ban mai” (thơ Bùi Minh Quốc).

Họp mặt khóa bác sĩ Đại học Y Hà Nội khóa 1961-1966, bác sĩ Nguyễn Việt Tuyết (hàng đứng) thứ 4 từ trái sang.

Trường Đại học Y khoa Hà Nội

Ảnh chân dung đầu bài: Bác sĩ Hàng Nhựt Tâm (1937-1967).

(Tạp chí Văn Nghệ TP. HCM, số 12/2022)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Xem thêm
Tết này các anh đã về mái nhà chung
Sau gần 60 năm thân phận còn chìm trong bóng tối lịch sử vì những đặc thù khốc liệt của chiến trường đô thị, 49 chiến sĩ Biệt động Sài Gòn quả cảm năm xưa nay đã chính thức được công nhận là Liệt sĩ.
Xem thêm
Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời
65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.
Xem thêm
Thèm sách - Bút ký của nhà thơ Thanh Thảo
Những gì mỗi quyển sách đem lại cho ta, chính ta cũng không biết hết, nhớ hết. Nhưng chắc chắn là có. Và cái có ấy, cái được ấy, sẽ còn lại trong ta cho đến cuối cuộc đời.
Xem thêm
Xuân tha hương..
Bao năm sống nơi xứ người, tóc đã thay màu, đôi chân mòn mõi theo từng bước đường lập nghiệp, trái tim kẻ tha hương vẫn quay quắt hướng về mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Giữa nhịp sống ồn ã của trời Tây, nhiều lúc tôi thấy lòng mình chùng xuống, như ai đó vừa gọi khẽ tên mình từ bờ sông tuổi thơ xa lắc.
Xem thêm
Vó ngựa vùng quê - Bút ký Nguyễn Sự
Cù lao Thới Sơn, phường Thới Sơn (tỉnh Đồng Tháp) được khai thác du lịch từ năm 1988. Do đặc thù vùng sông nước, miệt vườn cho nên doanh nghiệp đã liên kết hộ nhà vườn để đầu tư khai thác du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng với nhiều sản phẩm đặc trưng. Đặc biệt, du khách đến đây được đi xe ngựa len lỏi vào các tuyến đường nông thôn, vườn cây ăn trái.
Xem thêm
Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch
Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.
Xem thêm
Những người yêu rùa biển
Bài đăng Văn nghệ TPHCM số Xuân Bính Ngọ 2026
Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm
Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn
Bài đăng Tạp chí Sông Lam Online
Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm