TIN TỨC

Mạch ngầm nhân văn trong ‘Từ ban công nhìn ra’ của nhà thơ Lâm Bằng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-01-09 13:06:05
mail facebook google pos stwis
1710 lượt xem

Vũ Tuyết Nhung

Đến với thơ, mỗi người có một cách tiếp cận và vùng đất của riêng mình. Có người say sưa trong hương hoa và nhan sắc, có người miệt mài theo đồng gió hương quê… Và có rất nhiều nhà thơ đã chắt từ nước mắt nhân gian những câu từ mặn đắng, để cất lên khắc khoải riêng mình. Nhà thơ Lâm Bằng cũng đi con đường này. Mặc dù vậy từng con chữ của anh không quằn quại, quánh đặc nỗi buồn mà đau mà tủi như một số nhà thơ khác.

Ngược lại, từng  câu chữ của anh  cứ lạnh lùng, dửng dưng, khi viết về những nỗi đau nhân thế. Nhưng đến khi đọc xong , chúng ta mới cảm nhận được ẩn sau sự bình thường ấy, là bao giọt mặn đang đọng trên mi mắt nhà thơ. Và mới thấu hết được tư tưởngnhân văn của tác giả “ Từ ban công nhìn ra”.


Nhà thơ Lâm Bằng.

Nhà thơ Lâm Bằng tên thật là Bùi Văn Bằng, sinh ra và lớn lên ở làng Xuân Áng xã Hà Bình huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hoá. Hiện nay anh đang là trưởng ban thơ , là hội viên hội nhà văn Việt Nam, làm báo và sinh sống tại thành phố Thanh Hoá. Anh đã đạt được 24 giải thưởng về thơ và truyện ngắn. Tập thơ “Từ ban công nhìn ra” là tác phẩm thứ 11 đã xuất bản của anh (tính cả thơ, trường ca, truyện tranh, bút ký). Mở đầu tập thơ là một câu chuyện tưởng như tầm phào:

“Buổi Sáng ra vườn

Lá rung rinh

Hớn hở đón ánh mặt trời

Giọt sương dè dặt

Rơi

Sương chạnh lòng

Đêm qua

Khi rơi xuống

Lá rung rinh hớn hở”

nhưng khi đã đọc xong câu cuối rồi ngẫm chúng ta mới giật minh. Thì ra là tác giả mượn cảnh kể đời, nói lá sương để bàn chuyện người. Câu chữ tối giản mà sâu sắc, đa tầng nghĩa xen lẫn nhiều thể thơ  đã khiến cho “Từ ban công nhìn ra“ như một món ăn lạ trên bàn tiệc văn chương. Và  đôi mắt của nhà thơ cứ hờ hững nhìn mọi vật mọi việc dàn trải trước mắt tưởng như vô cảm. Nhưng trong sâu thẳm của hồn chữ lại là một nỗi đồng cảm đa mang tinh tế với cuộc đời.

Anh đau cho sự thay lòng, bạc bẽo của con người. Mới tối qua khi sương đem mát lành đến lá đã “rung rinh hớn hở”. Nhưng khi đã thoả mãn nhu cầu của mình rồi thì lá để “sương chạnh lòng” rơi và trút đời mình vào đất khi chứng kiến cảnh “lá rung rinh /hớn hở đón ánh mặt trời”. Điều ấy trải dài suốt hành trình của tập thơ , cụ thể nhất là những bài như “Con tắc kè trên mái nhà tôi,cây lau, buổi sáng nhìn ra ban công, thường tình”.

Anh đau cùng những kiếp người cuộc sống vất vả lận đận mãi mà vẫn đói nghèo , thể hiện trong các bài “Những người ve chai, Đồng trưa, Những người đánh giậm’’. Và cho những người đàn bà bé nhỏ lẻ bóng( Chỉ biết nàng đang khóc, Góa phụ, Bất chợt buổi sáng). Đau khi phải chứng kiến cảnh con người lạm dụng tàn phá quá mức nguồn tài nguyên khiến mẹ thiên nhiên cạn kiệt, tổn thương và nổi giận (Cái gốc cây khô, Mẹ thiên nhiên nổi giận).

Đau khi chứng kiến sự thờ ơ lạnh lùng của những kẻ vô tâm, bất tài, thiếu trách  nhiệm đối với những giá trị nhân văn , những nền tảng đạo đức văn hóa của cha ông để lại (Những linh hồn nô lệ, Khúc luân vũ của những giá trị, Thường tình 2, Tiệc ảo giác…)  nên ngôn từ đã trở nên sắc lẹm và có phần chua chát:

“Những tư duy hoá thạch

Cũn cỡn chạy xô đồng xu lẻ

Những tưởng đã tới ngõ thiên đàng

Bội thực ảo giác”

(Tiệc ảo giác)

rồi đưa ra những triết luận đa chiều vào trong thế giới nhân sinh quan của mình (Tương đối luận, Không phải ai cũng nhận ra, Vũ trụ, Đức tin…). Tôi thích những diễn ngôn nhẹ nhàng mà sâu sắc như thế này:

“Nước trôi

Thuyền trôi

Với bờ thuyền đi

Với nước thuyền đứng

Mây lòng sông không đứng không đi”

(Tương đối luận)

”Cây gậy vịn ông già đi cà nhắc

Không có ông già , gậy ngã lăn ra đất

Cái mũ phớt diễu cợt cái đầu

Tao làm cho mày đẹp

Đầu bảo: ”Không có tao, mày rơi xuống đất”

Tôi có cảm giác tư tưởng nhân văn trong tập thơ ”Từ ban công nhìn ra” của nhà thơ Lâm Bằng như một ngọn núi lửa đang hình thành. Bề ngoài tưởng bình yên tĩnh lặng nhưng bên trong nham thạch phun trào. Ẩn sâu trong sự lạnh lùng, đôi khi hơi dài dòng về ngôn từ ấy, là một trái tim ấm áp đang hòa nhịp đập cùng những trái tim khác quanh mình. Đôi mắt nhà thơ đâu chỉ thấy mỗi nỗi đau hiện hữu, đâu chỉ thấy mỗi nỗi khổ trải dài, bởi ánh nhìn trong ”Từ ban công nhìn ra” là cái nhìn đa chiều, đa sắc. Bên cạnh những hiện thực rối bời khổ buồn ấy , nhà thơ còn nhìn thấy những hiện hữu của hạnh phúc quanh mình . Đó là niềm vui trông cháu nội của người hàng xóm nhà cạnh bên(Thằng cu Mậm nhà bên), là vẻ mặt thỏa mãn sau một ngày làm việc của những người đánh giậm (Những người dánh giậm), là ”dàn đồng ca ve hồn nhiên trước thất thường của đêm (Đầu tiên là tiếng ve)… Mặt khác, ”Từ ban công nhìn ra’’ còn là cái nhìn tri ân với những bậc tiền nhân và những anh hùng đã hi sinh để kiến tạo hòa bình dân tộc , là ánh mắt xót xa đồng cảm với nỗi đau hậu chiến (Đá núi Vân Hoàn tạc một khối xanh, Chín cánh hải âu về lòng đất mẹ, Những người ve chai và tiếng nổ Quan Độ, Văn Phú)

Theo tôi thì điều thú vị mà tập thơ ”Từ ban công nhìn ra’’ mang lại cho người đọc (cũng có thể nói là sự bất ngờ  của tập thơ) là sau khi đưa người đọc trải qua những cảm giác của hiện thực tàn nhẫn và lòng người chua chát, của sự ngậm ngùi nuối tiếc về một thời xanh , của sự hoài cảm tri ân tiền nhân, lưu luyến vấn vương với những cảm tình quá vãng, thì chúng ta lại bắt gặp cảm xúc an vui trên những cánh hoa của sự lạc quan tỏa nắng ấm không gian ngày mai, dưới bầu trời tương lai:

”Nắng nung

Cây khát

Hạt trở mình mơ gốc cổ thụ trăm năm’’

(Cây)

để rồi nhận ra:

“Phía chân trời

Hình như đang sinh nở một hành tinh…

(Không phải ai cũng nhận ra)

V.T.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm