TIN TỨC

Mạch ngầm nhân văn trong ‘Từ ban công nhìn ra’ của nhà thơ Lâm Bằng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-01-09 13:06:05
mail facebook google pos stwis
1817 lượt xem

Vũ Tuyết Nhung

Đến với thơ, mỗi người có một cách tiếp cận và vùng đất của riêng mình. Có người say sưa trong hương hoa và nhan sắc, có người miệt mài theo đồng gió hương quê… Và có rất nhiều nhà thơ đã chắt từ nước mắt nhân gian những câu từ mặn đắng, để cất lên khắc khoải riêng mình. Nhà thơ Lâm Bằng cũng đi con đường này. Mặc dù vậy từng con chữ của anh không quằn quại, quánh đặc nỗi buồn mà đau mà tủi như một số nhà thơ khác.

Ngược lại, từng  câu chữ của anh  cứ lạnh lùng, dửng dưng, khi viết về những nỗi đau nhân thế. Nhưng đến khi đọc xong , chúng ta mới cảm nhận được ẩn sau sự bình thường ấy, là bao giọt mặn đang đọng trên mi mắt nhà thơ. Và mới thấu hết được tư tưởngnhân văn của tác giả “ Từ ban công nhìn ra”.


Nhà thơ Lâm Bằng.

Nhà thơ Lâm Bằng tên thật là Bùi Văn Bằng, sinh ra và lớn lên ở làng Xuân Áng xã Hà Bình huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hoá. Hiện nay anh đang là trưởng ban thơ , là hội viên hội nhà văn Việt Nam, làm báo và sinh sống tại thành phố Thanh Hoá. Anh đã đạt được 24 giải thưởng về thơ và truyện ngắn. Tập thơ “Từ ban công nhìn ra” là tác phẩm thứ 11 đã xuất bản của anh (tính cả thơ, trường ca, truyện tranh, bút ký). Mở đầu tập thơ là một câu chuyện tưởng như tầm phào:

“Buổi Sáng ra vườn

Lá rung rinh

Hớn hở đón ánh mặt trời

Giọt sương dè dặt

Rơi

Sương chạnh lòng

Đêm qua

Khi rơi xuống

Lá rung rinh hớn hở”

nhưng khi đã đọc xong câu cuối rồi ngẫm chúng ta mới giật minh. Thì ra là tác giả mượn cảnh kể đời, nói lá sương để bàn chuyện người. Câu chữ tối giản mà sâu sắc, đa tầng nghĩa xen lẫn nhiều thể thơ  đã khiến cho “Từ ban công nhìn ra“ như một món ăn lạ trên bàn tiệc văn chương. Và  đôi mắt của nhà thơ cứ hờ hững nhìn mọi vật mọi việc dàn trải trước mắt tưởng như vô cảm. Nhưng trong sâu thẳm của hồn chữ lại là một nỗi đồng cảm đa mang tinh tế với cuộc đời.

Anh đau cho sự thay lòng, bạc bẽo của con người. Mới tối qua khi sương đem mát lành đến lá đã “rung rinh hớn hở”. Nhưng khi đã thoả mãn nhu cầu của mình rồi thì lá để “sương chạnh lòng” rơi và trút đời mình vào đất khi chứng kiến cảnh “lá rung rinh /hớn hở đón ánh mặt trời”. Điều ấy trải dài suốt hành trình của tập thơ , cụ thể nhất là những bài như “Con tắc kè trên mái nhà tôi,cây lau, buổi sáng nhìn ra ban công, thường tình”.

Anh đau cùng những kiếp người cuộc sống vất vả lận đận mãi mà vẫn đói nghèo , thể hiện trong các bài “Những người ve chai, Đồng trưa, Những người đánh giậm’’. Và cho những người đàn bà bé nhỏ lẻ bóng( Chỉ biết nàng đang khóc, Góa phụ, Bất chợt buổi sáng). Đau khi phải chứng kiến cảnh con người lạm dụng tàn phá quá mức nguồn tài nguyên khiến mẹ thiên nhiên cạn kiệt, tổn thương và nổi giận (Cái gốc cây khô, Mẹ thiên nhiên nổi giận).

Đau khi chứng kiến sự thờ ơ lạnh lùng của những kẻ vô tâm, bất tài, thiếu trách  nhiệm đối với những giá trị nhân văn , những nền tảng đạo đức văn hóa của cha ông để lại (Những linh hồn nô lệ, Khúc luân vũ của những giá trị, Thường tình 2, Tiệc ảo giác…)  nên ngôn từ đã trở nên sắc lẹm và có phần chua chát:

“Những tư duy hoá thạch

Cũn cỡn chạy xô đồng xu lẻ

Những tưởng đã tới ngõ thiên đàng

Bội thực ảo giác”

(Tiệc ảo giác)

rồi đưa ra những triết luận đa chiều vào trong thế giới nhân sinh quan của mình (Tương đối luận, Không phải ai cũng nhận ra, Vũ trụ, Đức tin…). Tôi thích những diễn ngôn nhẹ nhàng mà sâu sắc như thế này:

“Nước trôi

Thuyền trôi

Với bờ thuyền đi

Với nước thuyền đứng

Mây lòng sông không đứng không đi”

(Tương đối luận)

”Cây gậy vịn ông già đi cà nhắc

Không có ông già , gậy ngã lăn ra đất

Cái mũ phớt diễu cợt cái đầu

Tao làm cho mày đẹp

Đầu bảo: ”Không có tao, mày rơi xuống đất”

Tôi có cảm giác tư tưởng nhân văn trong tập thơ ”Từ ban công nhìn ra” của nhà thơ Lâm Bằng như một ngọn núi lửa đang hình thành. Bề ngoài tưởng bình yên tĩnh lặng nhưng bên trong nham thạch phun trào. Ẩn sâu trong sự lạnh lùng, đôi khi hơi dài dòng về ngôn từ ấy, là một trái tim ấm áp đang hòa nhịp đập cùng những trái tim khác quanh mình. Đôi mắt nhà thơ đâu chỉ thấy mỗi nỗi đau hiện hữu, đâu chỉ thấy mỗi nỗi khổ trải dài, bởi ánh nhìn trong ”Từ ban công nhìn ra” là cái nhìn đa chiều, đa sắc. Bên cạnh những hiện thực rối bời khổ buồn ấy , nhà thơ còn nhìn thấy những hiện hữu của hạnh phúc quanh mình . Đó là niềm vui trông cháu nội của người hàng xóm nhà cạnh bên(Thằng cu Mậm nhà bên), là vẻ mặt thỏa mãn sau một ngày làm việc của những người đánh giậm (Những người dánh giậm), là ”dàn đồng ca ve hồn nhiên trước thất thường của đêm (Đầu tiên là tiếng ve)… Mặt khác, ”Từ ban công nhìn ra’’ còn là cái nhìn tri ân với những bậc tiền nhân và những anh hùng đã hi sinh để kiến tạo hòa bình dân tộc , là ánh mắt xót xa đồng cảm với nỗi đau hậu chiến (Đá núi Vân Hoàn tạc một khối xanh, Chín cánh hải âu về lòng đất mẹ, Những người ve chai và tiếng nổ Quan Độ, Văn Phú)

Theo tôi thì điều thú vị mà tập thơ ”Từ ban công nhìn ra’’ mang lại cho người đọc (cũng có thể nói là sự bất ngờ  của tập thơ) là sau khi đưa người đọc trải qua những cảm giác của hiện thực tàn nhẫn và lòng người chua chát, của sự ngậm ngùi nuối tiếc về một thời xanh , của sự hoài cảm tri ân tiền nhân, lưu luyến vấn vương với những cảm tình quá vãng, thì chúng ta lại bắt gặp cảm xúc an vui trên những cánh hoa của sự lạc quan tỏa nắng ấm không gian ngày mai, dưới bầu trời tương lai:

”Nắng nung

Cây khát

Hạt trở mình mơ gốc cổ thụ trăm năm’’

(Cây)

để rồi nhận ra:

“Phía chân trời

Hình như đang sinh nở một hành tinh…

(Không phải ai cũng nhận ra)

V.T.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm