TIN TỨC

Hình ảnh mẹ và tết quê trong thơ Trần Mạnh Hảo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-01-31 23:21:15
mail facebook google pos stwis
1925 lượt xem

 

TRẦN HỒNG GIANG
 

Mỗi chúng ta ai cũng có một nơi sinh ra và lớn lên, một nơi để thương nhớ, một nơi để trở về… Đó là quê hương. Và quê hương ấy có mẹ ngóng chờ ta, đặc biệt là mỗi khi tết đến xuân về. Cái lẽ nhân sinh ấy tưởng như ai cũng từng cảm nhận và hiểu thấu. Những hình ảnh ấy tưởng như đã luôn hiện hữu trong đời sống và đã đầy ắp trong tâm khảm hồn vía mỗi người. Nhưng không, khi ta bất ngờ gặp lại thì lòng vẫn trào lên những rung cảm rưng rức nghẹn ngào.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo

Hình ảnh người mẹ và quê hương lâu nay thường được mặc định là một khối thống nhất, gắn kết làm một, không tách rời. Khi con người ta nhắc đến mẹ thì cũng đồng nghĩa đó là quê hương, và ngược lại… Vì vậy, trong tâm thức của mỗi con người từ khi sinh ra, lớn lên, rồi rời xa khỏi vòng tay của mẹ thì luôn có một sự gắn kết, một mối dây ràng buộc như nguồn sinh khí cho mỗi cơ thể sống. Mẹ và quê hương chính là thánh đường linh thiêng nhất trong cõi lòng mỗi con người.

Hơn thế nữa, hình ảnh người mẹ ngóng chờ con vào mỗi dịp lễ tết nơi quê nhà lâu nay luôn là một nỗi ám ảnh, một cảm thức mãnh liệt trong mỗi tâm hồn người Việt. Nó còn là cả một kho tàng cảm xúc để cho các nhà văn nhà thơ khai thác, tạo nên những tình tiết đặc sắc, những sắc thái rung động trong văn chương nghệ thuật nói chung, thi ca nói riêng. Và hình ảnh ấy qua những bài thơ của nhà thơ Trần Mạnh Hảo lại như càng tăng thêm những cung bậc cảm xúc xa xót quằn quại đến thắt lòng.

Mẹ và quê hương, cùng khoảnh khắc giao thời náo nức đón chào một năm mới sắp sửa đến, làm cho lòng người chợt ngân rung lên những tiếng yêu thương diệu kì. Đó là lúc: Hoa đào tiễn gió bấc đi/ Tết ơi, xin mẹ được khi dại khờ (Xin mẹ tuổi thơ). Khi những cánh hoa đào đầu tiên hé nở xua đi cơn gió bấc lạnh căm cuối mùa, thì cũng là lúc những ảnh hình của mẹ, của quê hương, của những mùa tết xưa chợt ùa về. Hay như: Tôi như hòn đầu rau như đòn bánh cóc/ Tết đến theo đuôi hết mẹ rồi bà (Thương nhớ chó vàng). Một thuở ấu thơ sống trong gian nan nghèo khó nhưng ăm ắp phút giây hạnh phúc an vui. Nhưng hân hoan nhất chính là những ngày sát tết, nhà nhà cập rập với bao sắm sửa lo toan. Hân hoan chờ đón những khoảnh khắc thiêng liêng của năm mới, của sắc xuân tươi mới hớn hở tràn về nơi chốn quê:

Bướm ong mừng tuổi rét đài
Gọi cây rét lộc hoài thai hoa đào
Mùa đông còn ngủ dưới ao
Rễ bèo khẽ thức xanh chào gió non
(Khói lên chồi)

Nhịp đời bỗng chốc rộn lên bằng sự hối hả hơn, vội vàng hơn ngày thường: Khói nâng mái rạ lên chiều/ Cha nhờ gió buộc cây nêu mưa phùn/ Tôi ngồi xem lửa run run/ Mẹ mang rế rách chổi cùn giấu đi (Tết xưa). Cái không khí tết được bắt đầu từ những chi tiết giản dị của đời sống dân nghèo ấy, nhưng lại khơi gợi lên bao sắc thái thân thương và cũng đầy trang trọng. Mỗi khoảnh khắc thời gian như được in sâu vào tiềm thức của tuổi thơ: Chiếc lạt mưa phùn buộc chặt người/ Tuổi thơ chiều tết tối ba mươi/ Lá dong mỏng mảnh như tờ giấy/ Mà bánh chưng xanh gói lẫn trời (Giữ lấy chiều ba mươi). Những cái tết xưa tuy đạm bạc nhưng vẫn phủ đầy bao niềm hân hoan hồ hởi lên những phận đời nghèo khó. Có thể ví đó như là một món quà mà thượng đế đã rộng lượng ban xuống cho cõi nhân gian. Và nữa:

Bếp núc chiều ôm cả chó mèo
Mùa xuân trong chảo nỗi hành reo
Tôi với thằng em chờ tóp mỡ
Sung sướng nào hơn những tết nghèo
(Giữ lấy chiều ba mươi)

Tết đến là khung cảnh mùa xuân ngập tràn. Tiết xuân đong đầy cả một không gian bát ngát. Cái lạnh giá của mùa đông đã tan biến, khí trời đã ấm lên. Và đó cũng là thời điểm những người nông dân vùng chiêm trũng chuẩn bị bước vào một vụ cấy trồng mới, khi ta nghe cả tiếng từng hạt thóc đang tách vỏ nảy mầm:

Cây đội đầu nguyên một bóng râm
Gánh cơn mưa bụi xuống gieo mầm
Cao xanh xòe tán che ngày rét
Nước ấm nghe còn tiếng thóc ngâm
(Xuân thủy mặc)

Nhưng bao phủ lên tất cả cái khung cảnh tết ấy là ảnh hình của mẹ. Người mẹ tảo tần lam lũ chốn quê nghèo luôn là hình ảnh sống động và đậm nét nhất của ngày tết. Mẹ oằn mình trong gian nan khó nhọc để cho con nguyên vẹn những ngày xuân. Trời cắt ruột mẹ lượm từng thóc lép/ Ngụp sông tìm cái tết nuôi con (Rét cóng mẹ vẫn xuống sông mò tết). Lòng mẹ cao rộng vời vợi như trời như biển, dù lo lắng cho con nhiều đến mấy cũng thấy như không đủ không vừa. Đến nỗi Mẹ lấy cả vòm trời to rộng thế/ Làm chiếc ô nhỏ bé che con (Từ chiếc ô trời của mẹ). Nhưng rồi con như cánh chim mê mải bay đi tìm những chân trời mới mẻ, tìm lấy lẽ sống của đời. Con đi xa mãi, xa mãi… để đến một ngày con chợt thảng thốt nhận ra:

Không còn cách quay về nhà với mẹ
Con nhìn đâu hỡi nắm đất mưa phùn
Thuở ấy đến ông trời còn thơ bé
Gió bấc gào khói bếp hoảng hồn run
(Ngày xưa có mẹ)

Những câu thơ chất chứa nỗi đau của một người con mất mẹ đã làm nên một Trần Mạnh Hảo rất đặc sắc, rất riêng biệt. Khung cảnh nơi quê nhà cùng hình ảnh người mẹ lam lũ của ông hiện lên rõ rệt, với từng nét khắc họa không thể trộn lẫn. Những hình ảnh ấy chầm chậm lướt đi trong tâm tưởng của nhà thơ như một cuốn phim tư liệu ngồn ngộn các chi tiết, cảnh huống:

Xin mưa phùn hãy đắp chăn cho mẹ
Hoa dong riềng cháy đỏ sưởi giùm con
Hồn con vẫn co ro như thuở bé
Làm sao tin bóng mẹ đã không còn
(Đêm nay gió mùa đông bắc)

Rồi những hình ảnh ấy mỗi lúc càng ùa về tức tưởi. Ấy là vào một ngày cuối năm áp tết, khi người mẹ của ông đã lìa bỏ trần gian từ lâu, vậy mà hình ảnh người mẹ chờ con trở về nhà ăn tết ở trong ông vẫn còn thổn thức bằng những rung cảm hiện hữu, tươi rói tự đáy lòng. Từ nơi tha phương, tâm hồn ông như vẫn hiển hiện ngôi nhà của mình ở chốn quê hương thôn dã tại vùng đồng bằng Bắc Bộ. Và ở nơi ấy vẫn còn vẹn nguyên bóng hình người mẹ già của ông, bóng hình ấy như vẫn đang lặng lẽ ngồi bấm từng đốt thời gian để ngóng đợi mùa xuân về, đang thấp thỏm ngồi chờ con bên bậu cửa:

Thời gian bậu cửa đã mòn
Tết này mẹ vẫn đợi con trở về
Nỗi niềm gió bấc xa quê
Tết phương Nam níu người mê mai vàng?

Chiều ba mươi ghé đầu làng
Biết đâu con chẳng quá giang xe đò
(Tết này mẹ vẫn đợi con)

Luôn thăm thẳm trong lòng mẹ là nỗi nhớ mong đứa con rứt ruột của mình. Đó chính là bản năng tự nhiên mà thượng đế đã trao cho mỗi người mẹ trên thế gian này. Tình mẫu tử linh thiêng đã làm cho nỗi nhớ mong ấy dày lên theo mỗi nhịp thời gian, dày đến độ làm cho lòng mẹ chìm ngập trong sự khắc khoải, giày vò: Chiều ba mươi ghé đầu làng/ Biết đâu con chẳng quá giang xe đò. Đã biết là con không về, nhưng vẫn cứ ước mong thế, biết đâu đấy, trong những chuyến xe đang rộn rã trở về với cuộc đoàn viên khi tết đến ở phía đầu làng kia lại có bóng dáng con mình…

Rồi thời gian cứ mải mê trôi đi, từ năm này qua năm khác, tới khi con trở về thì Mẹ giờ đi chợ hư không/ Giao thừa con thắp hương trông mẹ về (Xin mẹ tuổi thơ). Để giờ mỗi độ tết đến xuân về, trong tim con chỉ còn lại một niềm xa xót: Tết về viếng mẹ thương cha/ Đứa con quê kiểng lạc ra thị thành (Về làng ăn tết). Con lạc bước ra thị thành và đường về quê nhà cứ vời vợi xa. Và con ngồi mơ về một thuở xưa khi con còn mẹ: Mơ ngồi đợi tết lưng trâu/ Rét run gọi mẹ một câu ấm liền/ Chạy theo chân mẹ thần tiên/ Chạy theo danh vọng bạc tiền bơ vơ (Xin mẹ tuổi thơ). Lòng con dày lên những hoài niệm xưa cũ, những ước muốn được quay về cái thời bé dại: Nghé tơ gọi may ra về bé dại/ Xin mục đồng trở lại sáo thiên thai/ Mùa xuân được cưỡi trâu về đồng bãi/ Tìm lại hồn tôi trong cỏ rả dông dài (Cưỡi trâu về niên thiếu). Thời gian hối hả và nghiệt ngã trôi đi khiến cho con người ta đôi lúc lãng quên những gì thiêng liêng quý giá, và rồi chỉ đến khi chợt giật mình nhận ra điều đó thì mới hiểu ra rằng mình đã tuột mất khỏi tầm tay, chẳng thể nào níu giữ:

Chiều ba mươi xưa không dài lâu
Khói hương ngày tết ngút trên đầu
Tôi chạy ra đường choàng gió bấc
Đi tìm mưa bụi ở đâu đâu
(Giữ lấy chiều ba mươi)

Niềm nhớ thương mẹ cha, nhớ thương nơi chôn nhau cắt rốn đã thấm đẫm trong tiềm thức của nhà thơ Trần Mạnh Hảo và luôn đi theo ông đến suốt cuộc đời. Những làn mưa bụi của tiết giao mùa miền Bắc luôn là một nỗi ám ảnh, một sự gợi nhớ, là những hoài niệm đau đáu của ông với quê hương: Xuân về cắt ruột tàn đông/ Sài Gòn mơ bế sông Hồng nhớ mong (Thương lửa rét). Giữa tiết trời xuân ngập tràn nắng ấm của Sài Gòn, với những sắc thái của không khí đón tết nơi miền đất phương Nam đã không làm ông có thể nguôi ngoai mà ngược lại càng dấy lên trong ông nỗi nhung nhớ thao thiết. Có cảm giác đó như một chút chạnh lòng, một sự tủi thân, một niềm ân hận của đứa con tha hương đang mong ngóng về quê mẹ. Và nhất là khi cảm giác được trở về làng quê yêu dấu của mình thì mọi rung cảm đều như chợt lắng lại, khắc khoải, sâu đằm:

Về thương chúc tết họ hàng
Chợt nghe mưa bụi bạc ngang tóc mình
(Về làng ăn tết)

T.H.G

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm