TIN TỨC

Hình ảnh mẹ và tết quê trong thơ Trần Mạnh Hảo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-01-31 23:21:15
mail facebook google pos stwis
2023 lượt xem

 

TRẦN HỒNG GIANG
 

Mỗi chúng ta ai cũng có một nơi sinh ra và lớn lên, một nơi để thương nhớ, một nơi để trở về… Đó là quê hương. Và quê hương ấy có mẹ ngóng chờ ta, đặc biệt là mỗi khi tết đến xuân về. Cái lẽ nhân sinh ấy tưởng như ai cũng từng cảm nhận và hiểu thấu. Những hình ảnh ấy tưởng như đã luôn hiện hữu trong đời sống và đã đầy ắp trong tâm khảm hồn vía mỗi người. Nhưng không, khi ta bất ngờ gặp lại thì lòng vẫn trào lên những rung cảm rưng rức nghẹn ngào.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo

Hình ảnh người mẹ và quê hương lâu nay thường được mặc định là một khối thống nhất, gắn kết làm một, không tách rời. Khi con người ta nhắc đến mẹ thì cũng đồng nghĩa đó là quê hương, và ngược lại… Vì vậy, trong tâm thức của mỗi con người từ khi sinh ra, lớn lên, rồi rời xa khỏi vòng tay của mẹ thì luôn có một sự gắn kết, một mối dây ràng buộc như nguồn sinh khí cho mỗi cơ thể sống. Mẹ và quê hương chính là thánh đường linh thiêng nhất trong cõi lòng mỗi con người.

Hơn thế nữa, hình ảnh người mẹ ngóng chờ con vào mỗi dịp lễ tết nơi quê nhà lâu nay luôn là một nỗi ám ảnh, một cảm thức mãnh liệt trong mỗi tâm hồn người Việt. Nó còn là cả một kho tàng cảm xúc để cho các nhà văn nhà thơ khai thác, tạo nên những tình tiết đặc sắc, những sắc thái rung động trong văn chương nghệ thuật nói chung, thi ca nói riêng. Và hình ảnh ấy qua những bài thơ của nhà thơ Trần Mạnh Hảo lại như càng tăng thêm những cung bậc cảm xúc xa xót quằn quại đến thắt lòng.

Mẹ và quê hương, cùng khoảnh khắc giao thời náo nức đón chào một năm mới sắp sửa đến, làm cho lòng người chợt ngân rung lên những tiếng yêu thương diệu kì. Đó là lúc: Hoa đào tiễn gió bấc đi/ Tết ơi, xin mẹ được khi dại khờ (Xin mẹ tuổi thơ). Khi những cánh hoa đào đầu tiên hé nở xua đi cơn gió bấc lạnh căm cuối mùa, thì cũng là lúc những ảnh hình của mẹ, của quê hương, của những mùa tết xưa chợt ùa về. Hay như: Tôi như hòn đầu rau như đòn bánh cóc/ Tết đến theo đuôi hết mẹ rồi bà (Thương nhớ chó vàng). Một thuở ấu thơ sống trong gian nan nghèo khó nhưng ăm ắp phút giây hạnh phúc an vui. Nhưng hân hoan nhất chính là những ngày sát tết, nhà nhà cập rập với bao sắm sửa lo toan. Hân hoan chờ đón những khoảnh khắc thiêng liêng của năm mới, của sắc xuân tươi mới hớn hở tràn về nơi chốn quê:

Bướm ong mừng tuổi rét đài
Gọi cây rét lộc hoài thai hoa đào
Mùa đông còn ngủ dưới ao
Rễ bèo khẽ thức xanh chào gió non
(Khói lên chồi)

Nhịp đời bỗng chốc rộn lên bằng sự hối hả hơn, vội vàng hơn ngày thường: Khói nâng mái rạ lên chiều/ Cha nhờ gió buộc cây nêu mưa phùn/ Tôi ngồi xem lửa run run/ Mẹ mang rế rách chổi cùn giấu đi (Tết xưa). Cái không khí tết được bắt đầu từ những chi tiết giản dị của đời sống dân nghèo ấy, nhưng lại khơi gợi lên bao sắc thái thân thương và cũng đầy trang trọng. Mỗi khoảnh khắc thời gian như được in sâu vào tiềm thức của tuổi thơ: Chiếc lạt mưa phùn buộc chặt người/ Tuổi thơ chiều tết tối ba mươi/ Lá dong mỏng mảnh như tờ giấy/ Mà bánh chưng xanh gói lẫn trời (Giữ lấy chiều ba mươi). Những cái tết xưa tuy đạm bạc nhưng vẫn phủ đầy bao niềm hân hoan hồ hởi lên những phận đời nghèo khó. Có thể ví đó như là một món quà mà thượng đế đã rộng lượng ban xuống cho cõi nhân gian. Và nữa:

Bếp núc chiều ôm cả chó mèo
Mùa xuân trong chảo nỗi hành reo
Tôi với thằng em chờ tóp mỡ
Sung sướng nào hơn những tết nghèo
(Giữ lấy chiều ba mươi)

Tết đến là khung cảnh mùa xuân ngập tràn. Tiết xuân đong đầy cả một không gian bát ngát. Cái lạnh giá của mùa đông đã tan biến, khí trời đã ấm lên. Và đó cũng là thời điểm những người nông dân vùng chiêm trũng chuẩn bị bước vào một vụ cấy trồng mới, khi ta nghe cả tiếng từng hạt thóc đang tách vỏ nảy mầm:

Cây đội đầu nguyên một bóng râm
Gánh cơn mưa bụi xuống gieo mầm
Cao xanh xòe tán che ngày rét
Nước ấm nghe còn tiếng thóc ngâm
(Xuân thủy mặc)

Nhưng bao phủ lên tất cả cái khung cảnh tết ấy là ảnh hình của mẹ. Người mẹ tảo tần lam lũ chốn quê nghèo luôn là hình ảnh sống động và đậm nét nhất của ngày tết. Mẹ oằn mình trong gian nan khó nhọc để cho con nguyên vẹn những ngày xuân. Trời cắt ruột mẹ lượm từng thóc lép/ Ngụp sông tìm cái tết nuôi con (Rét cóng mẹ vẫn xuống sông mò tết). Lòng mẹ cao rộng vời vợi như trời như biển, dù lo lắng cho con nhiều đến mấy cũng thấy như không đủ không vừa. Đến nỗi Mẹ lấy cả vòm trời to rộng thế/ Làm chiếc ô nhỏ bé che con (Từ chiếc ô trời của mẹ). Nhưng rồi con như cánh chim mê mải bay đi tìm những chân trời mới mẻ, tìm lấy lẽ sống của đời. Con đi xa mãi, xa mãi… để đến một ngày con chợt thảng thốt nhận ra:

Không còn cách quay về nhà với mẹ
Con nhìn đâu hỡi nắm đất mưa phùn
Thuở ấy đến ông trời còn thơ bé
Gió bấc gào khói bếp hoảng hồn run
(Ngày xưa có mẹ)

Những câu thơ chất chứa nỗi đau của một người con mất mẹ đã làm nên một Trần Mạnh Hảo rất đặc sắc, rất riêng biệt. Khung cảnh nơi quê nhà cùng hình ảnh người mẹ lam lũ của ông hiện lên rõ rệt, với từng nét khắc họa không thể trộn lẫn. Những hình ảnh ấy chầm chậm lướt đi trong tâm tưởng của nhà thơ như một cuốn phim tư liệu ngồn ngộn các chi tiết, cảnh huống:

Xin mưa phùn hãy đắp chăn cho mẹ
Hoa dong riềng cháy đỏ sưởi giùm con
Hồn con vẫn co ro như thuở bé
Làm sao tin bóng mẹ đã không còn
(Đêm nay gió mùa đông bắc)

Rồi những hình ảnh ấy mỗi lúc càng ùa về tức tưởi. Ấy là vào một ngày cuối năm áp tết, khi người mẹ của ông đã lìa bỏ trần gian từ lâu, vậy mà hình ảnh người mẹ chờ con trở về nhà ăn tết ở trong ông vẫn còn thổn thức bằng những rung cảm hiện hữu, tươi rói tự đáy lòng. Từ nơi tha phương, tâm hồn ông như vẫn hiển hiện ngôi nhà của mình ở chốn quê hương thôn dã tại vùng đồng bằng Bắc Bộ. Và ở nơi ấy vẫn còn vẹn nguyên bóng hình người mẹ già của ông, bóng hình ấy như vẫn đang lặng lẽ ngồi bấm từng đốt thời gian để ngóng đợi mùa xuân về, đang thấp thỏm ngồi chờ con bên bậu cửa:

Thời gian bậu cửa đã mòn
Tết này mẹ vẫn đợi con trở về
Nỗi niềm gió bấc xa quê
Tết phương Nam níu người mê mai vàng?

Chiều ba mươi ghé đầu làng
Biết đâu con chẳng quá giang xe đò
(Tết này mẹ vẫn đợi con)

Luôn thăm thẳm trong lòng mẹ là nỗi nhớ mong đứa con rứt ruột của mình. Đó chính là bản năng tự nhiên mà thượng đế đã trao cho mỗi người mẹ trên thế gian này. Tình mẫu tử linh thiêng đã làm cho nỗi nhớ mong ấy dày lên theo mỗi nhịp thời gian, dày đến độ làm cho lòng mẹ chìm ngập trong sự khắc khoải, giày vò: Chiều ba mươi ghé đầu làng/ Biết đâu con chẳng quá giang xe đò. Đã biết là con không về, nhưng vẫn cứ ước mong thế, biết đâu đấy, trong những chuyến xe đang rộn rã trở về với cuộc đoàn viên khi tết đến ở phía đầu làng kia lại có bóng dáng con mình…

Rồi thời gian cứ mải mê trôi đi, từ năm này qua năm khác, tới khi con trở về thì Mẹ giờ đi chợ hư không/ Giao thừa con thắp hương trông mẹ về (Xin mẹ tuổi thơ). Để giờ mỗi độ tết đến xuân về, trong tim con chỉ còn lại một niềm xa xót: Tết về viếng mẹ thương cha/ Đứa con quê kiểng lạc ra thị thành (Về làng ăn tết). Con lạc bước ra thị thành và đường về quê nhà cứ vời vợi xa. Và con ngồi mơ về một thuở xưa khi con còn mẹ: Mơ ngồi đợi tết lưng trâu/ Rét run gọi mẹ một câu ấm liền/ Chạy theo chân mẹ thần tiên/ Chạy theo danh vọng bạc tiền bơ vơ (Xin mẹ tuổi thơ). Lòng con dày lên những hoài niệm xưa cũ, những ước muốn được quay về cái thời bé dại: Nghé tơ gọi may ra về bé dại/ Xin mục đồng trở lại sáo thiên thai/ Mùa xuân được cưỡi trâu về đồng bãi/ Tìm lại hồn tôi trong cỏ rả dông dài (Cưỡi trâu về niên thiếu). Thời gian hối hả và nghiệt ngã trôi đi khiến cho con người ta đôi lúc lãng quên những gì thiêng liêng quý giá, và rồi chỉ đến khi chợt giật mình nhận ra điều đó thì mới hiểu ra rằng mình đã tuột mất khỏi tầm tay, chẳng thể nào níu giữ:

Chiều ba mươi xưa không dài lâu
Khói hương ngày tết ngút trên đầu
Tôi chạy ra đường choàng gió bấc
Đi tìm mưa bụi ở đâu đâu
(Giữ lấy chiều ba mươi)

Niềm nhớ thương mẹ cha, nhớ thương nơi chôn nhau cắt rốn đã thấm đẫm trong tiềm thức của nhà thơ Trần Mạnh Hảo và luôn đi theo ông đến suốt cuộc đời. Những làn mưa bụi của tiết giao mùa miền Bắc luôn là một nỗi ám ảnh, một sự gợi nhớ, là những hoài niệm đau đáu của ông với quê hương: Xuân về cắt ruột tàn đông/ Sài Gòn mơ bế sông Hồng nhớ mong (Thương lửa rét). Giữa tiết trời xuân ngập tràn nắng ấm của Sài Gòn, với những sắc thái của không khí đón tết nơi miền đất phương Nam đã không làm ông có thể nguôi ngoai mà ngược lại càng dấy lên trong ông nỗi nhung nhớ thao thiết. Có cảm giác đó như một chút chạnh lòng, một sự tủi thân, một niềm ân hận của đứa con tha hương đang mong ngóng về quê mẹ. Và nhất là khi cảm giác được trở về làng quê yêu dấu của mình thì mọi rung cảm đều như chợt lắng lại, khắc khoải, sâu đằm:

Về thương chúc tết họ hàng
Chợt nghe mưa bụi bạc ngang tóc mình
(Về làng ăn tết)

T.H.G

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm