TIN TỨC

Thầy tôi - Kho báu của tôi

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-11-18 15:33:29
mail facebook google pos stwis
2420 lượt xem

Lê Thị Thanh Vy

PGS Chu Xuân Diên thuộc thế hệ những nhà nghiên cứu tiếp thu lý thuyết thế giới qua con đường tiếng Nga và tiếng Pháp. Thầy đã tham gia dịch những công trình kinh điển về folklore học mà đặc biệt phải kể đến bộ sách 2 tập rất dày dặn là Tuyển tập V. Ia. Propp - giới thiệu gần như đầy đủ trước tác của một tác giả quan trọng hàng đầu của trường phái Hình thức Nga và nghiên cứu folklore...

PGS Chu Xuân Diên và tác giả

 

“Người cao tuổi là một kho báu”

 

Đó là một câu tục ngữ mà tôi đã dùng để gửi lời tri ân sâu sắc đến thầy Chu Xuân Diên - giảng viên hướng dẫn của tôi, khi tôi hoàn thành buổi bảo vệ luận án tiến sĩ của mình với đề tài “Nghiên cứu folklore trong bối cảnh: lý thuyết và ứng dụng (Trên cứ liệu tục ngữ trong văn học Việt Nam)”. Khi ấy, thầy tôi đã 87 tuổi; cũng vì lẽ đó mà tôi hay được thầy cô và các bạn đồng nghiệp gọi đùa là “bế môn đệ tử” - học viên cuối cùng mà thầy hướng dẫn chuyên môn trong sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy kéo dài hơn nửa thế kỷ của mình.

Thật ra tôi đã may mắn được đồng hành cùng thầy từ trước đó hơn 10 năm. Thầy đã giảng dạy cho hệ Cử nhân tài năng khoa Văn học khóa 2005-2009 chúng tôi một chuyên đề về các công trình nghiên cứu văn hóa dân gian hiện đại - đó cũng là lần đầu tiên chúng tôi được biết đến hai nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên và Cao Huy Đỉnh với 2 công trình có tính chất “cắm mốc” của họ là “Hát đối của nam nữ thanh niên ở Việt Nam” và “Người anh hùng làng Dóng”. Khi tôi tốt nghiệp và được giữ lại Khoa Văn học để trở thành cán bộ giảng dạy cho Bộ môn văn hóa dân gian, thầy trưởng khoa khi ấy là PGS.TS Lê Giang đã trao đổi với thầy Chu Xuân Diên về việc hướng dẫn luận văn thạc sĩ cho tôi.

Tôi khi đó vừa tốt nghiệp đại học, hồ hởi và hồn nhiên trình bày với thầy Chu Xuân Diên về khuynh hướng quan tâm đến những hiện tượng văn hóa, văn học dân gian đương đại của mình, mong muốn theo đuổi một đề tài luận văn như thế. Khi ấy, thầy đã từ tốn giải thích cho tôi rằng không nên vội vàng, nên bắt đầu một cách căn cơ hơn, từ những lý thuyết văn hóa dân gian. Thầy dẫn chứng trường hợp GS Nguyễn Đức Dân - một nhà ngữ học uyên bác, thường xuyên xuất hiện trước đại chúng để trả lời về các vấn đề ngôn ngữ đương đại dựa trên những hiểu biết chuyên môn sâu sắc của mình. Trong lần gặp thứ hai, tôi đã trình bày nguyện vọng của mình về việc tìm hiểu và giới thiệu một lý thuyết folklore đương đại và ứng dụng vào nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam. Khi ấy, thầy đã giới thiệu với tôi hướng tiếp cận bối cảnh trong nghiên cứu văn hóa dân gian - một khuynh hướng học thuật nổi lên tại Hoa Kỳ vào những năm 1970, tạo thành “bước ngoặt” trong ngành folklore với sự tham gia của các nhà nhân học hàng đầu của Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Đây cũng là đề tài mà tôi đã thực hiện luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ - một dấu mốc lớn hành trình học thuật của tôi.

 

Trong bước đầu chập chững đó, tôi đã học được ở thầy hai điều rất quan trọng về hướng dẫn khoa học. Đầu tiên, với nghiên cứu nhân văn, cần cân nhắc đến nguyện vọng, thiên hướng riêng của nhà nghiên cứu để chọn được hướng đề tài phù hợp. Được thực hiện một đề tài có kết nối cá nhân là một trong những tiền đề đầu tiên cho việc duy trì cam kết của nhà nghiên cứu với vấn đề mà mình theo đuổi. Bài học thứ hai là tầm nhìn xa trong việc gợi mở một hướng đi cơ bản, năng sản, nhiều triển vọng. Qua quá trình làm luận văn và luận án với thầy, tôi như được mở ra một chân trời với việc tìm hiểu lịch sử ngành folklore học, các khuynh hướng và phương pháp tiếp cận văn bản folklore, không chỉ giúp tôi hoàn thành luận án mà còn khơi mở và cung cấp cho tôi những công cụ, điểm nhìn để lý giải các hiện tượng văn hóa đương đại mà tôi quan tâm, hình thành nên các bài viết về folklore đương đại Việt Nam của tôi sau này. Với tôi, thầy thật sự là một kho báu.  

  • Một nhà nghiên cứu có tầm nhìn rộng rãi và sự nhạy cảm khoa học

 

Để có thể nhận định về những thành tựu mà PGS Chu Xuân Diên đã cống hiến cho folklore học Việt Nam cần những bài viết công phu từ một nhà nghiên cứu có cùng tầm vóc với thầy - mà tôi nghĩ bài viết của GS Nguyễn Xuân Kính về thầy là một bài viết như thế. Với kinh nghiệm làm nghiên cứu hạn hẹp của mình, tôi chỉ có thể nêu hai cảm nhận lớn nhất của tôi về PGS Chu Xuân Diên qua quá trình được thầy đồng hành, là tầm nhìn rộng rãi và sự nhạy cảm khoa học của một nhà nghiên cứu lớn.

PGS Chu Xuân Diên thuộc thế hệ những nhà nghiên cứu tiếp thu lý thuyết thế giới qua con đường tiếng Nga và tiếng Pháp. Thầy đã tham gia dịch những công trình kinh điển về folklore học mà đặc biệt phải kể đến bộ sách 2 tập rất dày dặn là Tuyển tập V. Ia. Propp - giới thiệu gần như đầy đủ trước tác của một tác giả quan trọng hàng đầu của trường phái Hình thức Nga và nghiên cứu folklore. Bên cạnh đó, tình hình ngành folklore học Âu - Mỹ vẫn được thầy cập nhật thường xuyên qua các tạp chí chuyên ngành, các bộ sách dịch thuật từ những dự án của Viện Nghiên cứu văn hóa. Từ bộ sách Folklore thế giới: Một số công trình nghiên cứu cơ bản và Folklore thế giới: Một số thuật ngữ đương đại (GS Ngô Đức Thịnh và TS Frank Proschan chủ biên) mà thầy đã biết đến “contextual approach” (hướng tiếp cận bối cảnh) và mang đến những gợi ý quý giá cho tôi để theo đuổi.

Đọc sách của các lý thuyết gia thuộc trường phái bối cảnh trong folklore học, tôi thấy nhiều thao tác và phương pháp luận của họ đã từng được thầy đi đầu sử dụng tại Việt Nam từ trước đó - thời điểm mà lý thuyết bối cảnh trong folklore học hoàn toàn chưa được giới thiệu. Điều này thể hiện trong các phương pháp, quy trình sưu tầm mà khoa Ngữ văn - Báo chí (tiền thân của khoa Văn học) đã thực hiện trong các đợt điền dã từ rất sớm. Ghi nhận thông tin của cộng tác viên/ người cung cấp tư liệu folklore là một phương pháp luận rất hiện đại trong bối cảnh Việt Nam, hầu như không thấy trong các bộ sưu tầm văn học dân gian trước đó (điều này còn đặc biệt có ý nghĩa với những đợt điền dã quy mô lớn và kéo dài nhiều năm như các đợt sưu tầm văn học dân gian của cán bộ và sinh viên khoa Văn học). Hiển nhiên đây cũng là một phần của công tác quản lý hoạt động làm việc của sinh viên; nhưng phải nhìn nhận ở khía cạnh điều này đã cung cấp những thông tin rất hữu ích để chúng ta có thể diễn giải tư liệu folklore. Một trường hợp thú vị nữa là trong công trình Văn học dân gian Bạc Liêu, sản phẩm kết tinh từ các đợt thực tập thực tế của sinh viên khoa Văn học sau đó được xuất bản vào năm 2005, riêng câu chuyện Tấm Cám đã có một số lượng dồi dào hiếm thấy, lên đến 14 dị bản với những khác biệt rất thú vị, độc đáo so với những phiên bản quen thuộc nhiều người biết đến. Sau khi tìm hiểu thì tôi được biết điều này nằm trong “ý đồ” của thầy khi đó là trưởng đoàn thực tập: thầy đã yêu cầu các cán bộ hướng dẫn và sinh viên tại mỗi địa bàn cùng đề nghị người dân địa phương thuộc các xã khác nhau của tỉnh Bạc Liêu kể câu chuyện Tấm Cám. Tôi đã sử dụng những tư liệu này, cả văn bản và những thông tin hữu ích về giới tính và độ tuổi của cộng tác viên để phân tích trong bài viết Truyện Tấm Cám ở Nam Bộ của mình. Dĩ nhiên, hiện nay với sự hỗ trợ đắc lực và trực tiếp của các lý thuyết nhân học hiện đại, công tác điền dã và văn bản hóa tác phẩm văn học dân gian đã được chuẩn hóa tại nhiều khoa đào tạo folklore học trên thế giới, thông tin về cộng tác viên cũng đã được ghi nhận ở mức độ sâu sắc và dầy dặn hơn rất nhiều, nhưng tầm nhìn và sự nhạy cảm của một chuyên gia folklore học hàng đầu Việt Nam trong một bối cảnh còn nhiều hạn chế về tư liệu và nguồn thông tin tra cứu như những năm 1990 là một điều xúc động.

Sự nhạy cảm khoa học là rất cần thiết trong nghiên cứu nhân văn - ngành nghiên cứu gắn với những mô hình biểu đạt đa dạng của con người, thiên về định tính và sự diễn giải. Sự nhạy cảm là một phẩm chất phần nào có tính thiên bẩm, nhưng để có thể trở thành một phản xạ và phát huy hiệu quả thì nó đòi hỏi quá trình tích lũy và mài dũa liên tục của người nghiên cứu. Ở phương diện này, có thể nói PGS Chu Xuân Diên là điển hình của một học giả có tri thức “bách khoa” tại Việt Nam. Thầy không bao giờ tự giới hạn mình trong một chuyên môn hẹp: thầy đọc lý thuyết ngôn ngữ học, văn học, văn hóa học, nghiên cứu lịch sử, đọc tiểu thuyết nước ngoài và tiểu thuyết Việt Nam, thầy nghe nhạc cổ điển,...Có thể thấy ngay điều này qua “thư viện gia đình” hàng ngàn cuốn sách thuộc đủ các lĩnh vực của thầy.

Tôi có những kỷ niệm thân thương với thầy, như thầy từng dịch giúp tôi một bài báo tiếng Nga liên quan đến luận án của tôi. Tôi nhớ nỗi xúc động của mình khi cầm trên tay cuốn tập học trò, nhìn những dòng chữ bút bi xanh ngay ngắn và bay bổng của thầy (và cả những chi tiết nhỏ cho thấy sự tinh tế lúc làm việc như khi ghi chép, thầy luôn chỉ ghi một mặt bên phải của quyển tập học trò, mặt bên trái đối xứng dùng để có chỗ chỉnh sửa, ghi chú sau này). Lúc đó tôi quá đỗi bất ngờ; nhưng sau này khi hướng dẫn các bạn sinh viên làm nghiên cứu khoa học và khóa luận, tôi hiểu rằng khi hướng dẫn người học làm một nghiên cứu là đồng nghĩa với việc thầy và trò cùng nhau tìm hiểu; người thầy cũng có những tò mò khoa học khi đồng hành cùng học trò. Tinh thần hiếu tri, niềm vui chân thành của người thầy cao niên trước một điều gì đó “mới” khiến tôi thật sự xúc động.

Từ thầy Chu Xuân Diên và nhiều thầy cô ở khoa Văn học, tôi tin tưởng vào sự trao truyền giá trị, về sự tiếp nối và kết nối thế hệ. Di sản mà các thầy cô để lại không chỉ là một tập hợp dồi dào những giáo trình, công trình nghiên cứu, dịch thuật luôn mời gọi tiếp cận và đối thoại; mà còn là một thái độ sống, sự nghị lực và bản lĩnh văn hóa - trong đó, thầy tôi hiện lên như một đại diện của thế hệ trí thức Việt Nam thời hậu chiến đã vượt qua nhiều rào cản, thiếu thốn, để lặng lẽ và bền bỉ đóng góp.

L.T.T.V

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Xem thêm