TIN TỨC

Hoàng hôn chín – chín mọng yêu thương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-03-11 11:32:21
mail facebook google pos stwis
2014 lượt xem

PHAN NGỌC QUANG

Bên cạnh nhiều tập thơ riêng của từng cá nhân, mấy năm gần đây một số tác giả trong Hội Nhà văn TP.HCM đã cho ra mắt bạn đọc những “đứa con thơ” bằng hình thức mới lạ, gây nhiều sự chú ý; đó là những tác phẩm thơ in chung. Nếu nói không quá thì hầu hết người đi tiên phong trong luồng gió đổi mới này không ai khác mà chính là cánh chị em phụ nữ.

Cách đây mấy năm tôi vinh dự được tác giả tặng tập thơ của 2 tác giả nữ đình đám trong làng văn chương của đất Sài Gòn – Gia Định xưa mang tên Huệ Triệu – Trần Mai Hường. Tập thơ nhỏ nhắn dễ thương và điều quan trọng là ở đây có thêm một bản hòa âm đồng diệu giữa hai tâm hồn thơ của đôi tác giả “song kiếm hợp bích”. Đó cũng là khuôn mặt riêng được tiếp nối phong cách trong tác phẩm thơ Lục bát của ba tác giả nữ Đặng Nguyệt Anh, Huệ Triệu và Trần Mai Hường. Đến đây tập thơ đã có thế đứng vững chãi của kiềng 3 chân mà nữ thi nhân Đặng Nguyệt Anh là người chị cả.

Trên con đường đi tay nắm tay đó, phải nói nữ nhà thơ Trần Mai Hường là người miệt mài nhất. Không ngại lạ quen, không sợ sự so bì, những bài thơ của chị luôn đi tìm người bạn đồng hành tuy có khi không cùng tiếng nói về đề tài nhưng đều có mẫu số chung về giọng điệu và cách mở cánh cửa tâm hồn. Người đi trước mở đường cho thế hệ đi sau, rất vui mừng là trong năm 2023 có thêm 2 nhà thơ nữ khác là Võ Miên Trường và Triệu Kim Loan cho ra đời tác phẩm Hoàng hôn chín cũng bằng lối in chung. Có thể nói đây là 2 gương mặt không hề xa lạ mà còn rất thân quen với anh em trong Hội và bạn yêu thơ vì trước đó 2 chị đã cho ra mắt các tập thơ in riêng của mình. Ở cái tuổi không còn trẻ nữa khi nắng cuộc đời ở lúc xế chiều và vườn nhân thế đã sum suê quả ngọt. Tôi tự hỏi, phải chăng vì lý do đó mà đứa con chung của họ có tên Hoàng hôn chín?  


Các nhà thơ Võ Miên Trường - Triệu Kim Loan và bìa tập thơ in chung.

 Ban đầu cứ nghĩ đây là tên 1 bài thơ trong tập của 2 chị giống như nhiều cuốn sách khác nhưng tôi tìm mãi không có. Phải đến khi dừng tay lại ở trang 68, người đọc mới bắt gặp được bài Ấm áp tuổi hoàng hôn của Triệu Kim Loan. Mượn cảm xúc trong 1 đêm cuối năm mà cụ thể là đêm Noel 24/12, tác giả ngồi đối diện với cuộc đời mình để tự tình khi bóng chiều đang tới: “Chiều loang tím tự tình qua mắt phố/ Giọt mùa đông dan díu nắng Sài thành”. Những hình ảnh “chiều tím, hoàng hôn, gió mùa đông” không còn nằm trong quỹ đạo của thời khắc nữa mà nó đã hóa thân thành cột mốc lớn trong cuộc đời. Hoàng hôn của đất trời có nỗi buồn, hoàng hôn của cuộc đời cũng không ngoại lệ. Nhưng đó là nỗi buồn êm dịu, đẹp đẽ và rất trong sáng của 1 tâm hồn không gợn chút mây đen: “Phố về đêm sao ngọt ngào quá đỗi/ Đôi lứa dập dìu sánh bước bên nhau”. Con người có cái nhìn lạc quan nên mỗi câu thơ cũng có con mắt rõi vào tươi sáng: “Đêm Giáng sinh đan tay mình dạo phố/ Dạ thảnh thơi, ấm áp tuổi hoàng hôn”. Trong câu thơ, hơi ấm neo giữ mãi và đi suốt cuộc đời nên hạnh phúc tràn ngập như cây trái chín mọng giữa vườn thương.

Ở đâu cũng thế, thơ Triệu Kim Loan không đao to búa lớn mà luôn thủ thỉ với những hình ảnh thân thương, trìu mến thả vào tâm hồn người đọc theo từng ngọn gió ngọt ngào vị quê hương, vị cuộc đời dung dị. Đó cũng là ẩn số cảm xúc mà chúng ta có thể giải được hệ phương trình cuộc đời trong bài thơ Ký ức thời gian. Không đi theo thể lục bát hay ngũ ngôn quen thuộc của chị, nên Ký ức thời gian có 1 tiếng nói riêng khó lẫn vào đâu được. 4 khổ thơ là 4 biện pháp so sánh để nói về thời gian. Dù là ngọn gió hay cánh buồm, đoàn tàu chuyển bánh, hạt bụi, tất cả đều làm cho thời gian không hề đứng yên. Đó cũng là tâm trạng khó giãi bày trong sự nuối tiếc, muộn màng khi con người đang đứng bên kia dốc cuộc đời mình. Nhưng không vì thế mà bức tranh thời gian buồn tẻ ảm đạm mà ngược lại rất tươi sáng và đa sắc; tưởng như không bao giờ phai màu để rồi tan biến trong nuối tiếc.

Giọng thơ nữ từ cổ chí kim, hầu hết đều nhẹ nhàng, đằm thắm nhưng không thiếu suy tư, trăn trở. Ở Võ Miên Trường và Triệu Kim Loan cũng thế. Các bài Thầm em, Chợt tôi, Điều em, Giấu lửa tim mình…là những khúc nhạc du dương của nỗi lòng với từng đợt sóng ngầm dưới đáy đại dương nhưng vẫn mềm mại, duyên dáng từng con sóng vỗ trên mặt nước hiền hòa. Hoàng hôn của cuộc đời không chỉ chín trong sắc màu mà còn chín cả trong suy tư và độ lượng.

Nghe nói Võ Miên Trường đã ra được 7 tập thơ trong 10 năm gần đây. Rõ ràng sức viết của chị rất sung mãn. Những điều quan trọng là chất lượng cũng song hành với số lượng. Tôi đã từng tham dự buổi ra mắt Nhặt sợi buồn thêu chữ và Nhánh buồn trổ hoa trong đó đáng chú ý có tập thơ sau của chị được in chung với Trần Mai Hường năm 2019. Dù mặc chiếc áo nào hay đứng ở đâu, thơ Võ Miên Trường luôn tình ý trong từng câu chữ và giàu chất suy tưởng, đa chiều. Ngay từ khi đọc bài thơ thứ nhất và cầm trên tay tập thơ đầu tiên tôi đã có nhận xét đó chạy trong đầu. Thơ chị không hề dễ dãi trong việc dùng từ mà nói cách khác chị đã có những cách viết táo bạo, sáng tạo trong việc tạo ra các cụm từ mới lạ đôi khi làm người đọc sửng sốt nhưng không hề gượng ép hay sáo. Thơ Võ Miên Trường còn nghiêng về chiêm nghiệm, mượn cái cụ thể để nói cái to lớn nhưng lại rất dễ hiểu, có những câu làm cho người khác giật mình. Với phong cách đó thơ chị không cần độ dài nhưng vẫn có chiều sâu, biết bao nhiêu ý tứ nằm trong đôi ba chữ: “Em vừa cạn chén đàn bà/ Thì thầm sóng cuộn lời yêu; Cạn rằm trăng khất thực đau/ Em – bình nguyên phủ nhiệm màu vào xanh” (Đêm huyền vi). Thơ chị thiên về miêu tả nhưng không tả thực mà tả gợi, cái gợi làm nên cánh cửa mở ra chiều suy tư và đôi khi thảng thốt: “Trở mình chạm vào giấc xanh/ Giọt sương vỡ tiếng nghe rằm gọi trăng” (Đêm suông).

Những câu thơ mượn cái cụ thể để nói điều trừu tượng và ngược lại mượn chuyện mơ hồ để vẽ nên điều thiết thực: “Lở - bồi dòng chảy phù vân/ Ta tìm nhau giữa đời ngần ngại mơ” (Một người – một tôi). Phép liên tưởng cũng được nhà thơ nữ họ Võ dùng trong mỗi ý, mỗi tứ thơ: “Em về đóng cửa cài then/ Ru mình ru cả nhân duyên – lặng thầm…” (Ru mình). Phép liên tưởng đó còn tạo ra sự bất ngờ trong cách chuyển ý: “Mời trăng say cạn chén sầu/ Lênh loang em rót đục ngầu cuộc ta”. Có thể nói thơ chị là sự dung hòa giữa cái thực và cái ảo, giữa điều cao xa và bình dị, giữa cái dễ hiểu và khó tìm. Người đọc nhạy cảm với thơ sẽ tìm thấy sự đồng điệu tâm hồn chứ không phải kiểu thi phú nằm trong “nhà kho” theo trường phái siêu thực đến mức gần như đánh đố.

Ở Hoàng hôn chín có 1 đề tài mà chị chú tâm nhiều, rất khác với những tập trước đó là tình cảm gia đình. Những người thân xuất hiện trong thơ chị không còn chung chung mà đó là 1 con người cụ thể: “Mẹ ngồi cong dấu hỏi buồn/ Thương bàn tay mỏi đếm mòn tháng năm” (Nụ cười mẹ đủ xóa phiền muộn con). Chỉ miêu tả đôi bàn tay cũng đã hiện lên nỗi vất vả tảo tần trong cuộc đời thân mẫu. Câu thơ: “Cù lao chín chữ mẹ hiền/ Nụ cười mẹ đủ xóa phiền muộn con” đã đại diện đủ tấm lòng người con đối với đấng sinh thành của toàn bài thơ. Đó là thực tại, là mong ước và cũng là vinh cữu của tình mẫu tử mong được đền đáp, tri ân.

Không hiểu sao ở bài Nhớ cha chị lại viết theo thể thơ văn xuôi? Chắc chắn Võ Miên Trường có dụng ý riêng khi nhắc đến người đàn ông mạnh mẽ, trụ cột trong gia đình. Bài thơ như 1 tác phẩm văn tế thương nhớ vong linh người đã khuất nhưng tràn đầy ký ức thương yêu tình phụ tử.

Võ Miên Trường luôn chăm chút thơ tự khúc, tự sự. Điều này cũng thấy rõ trong Hoàng hôn chín. Bài thơ cho ngày sinh có nhiều câu hay dù đề tài không mới, ngay từ câu tự bạch đầu tiên đã có sự phá cách trong từ vựng: “Vỡ trời rơi xuống một tôi/ Tháng Mười một sóng gọi mời mồng Năm”. Dù nói vòng quanh tuổi đời nhưng rồi đôi chân thơ cũng dừng bước trong ngôi nhà thân yêu của mình với tấm lòng hiếu đễ: “Trăng dậy thì loang tràn tay/ Và lưng mẹ cứ mỗi ngày vồng thêm”. Khúc tâm tình đó cứ nối tiếp từ bài thơ này qua bài thơ khác như con sóng vỗ mãi mà chẳng bao giờ đến tới bờ riêng tây.

Nhờ đi dự Ngày hội thơ Nguyên tiêu năm 2024 mà tôi tình cờ “nhặt” được tập thơ của 2 vị nữ. Đọc thấy hay nên viết vội vài dòng đúng dịp Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3. Như vậy cũng có ý nghĩa chứ. Mong những câu thơ của chị em ta mãi đẹp và luôn tỏa nắng vàng cho cuộc đời dù hạ tàn hay đông muộn.

Quận 7, ngày Quốc tế Phụ nữ 2024,

P.N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm