TIN TỨC

Khát vọng đất nước hùng cường trong tiểu thuyết của Lại Văn Long

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-03-21 00:37:15
mail facebook google pos stwis
1513 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cuộc chiến giữa Nga - Ukraine đang cuốn hút sự chú ý của cả thế giới, khát vọng hòa bình lại bùng lên trong tâm thức những con người yêu hòa bình. Trong tình hình đó, tình cờ tôi đọc tiểu thuyết Người khổng lồ đội mồ kể chuyện (NXB Hội Nhà văn 2019) của Lại Văn Long, lại bắt gặp những cuộc chiến trong tác phẩm này. Nổi lên trong đó là khát vọng hòa bình cho mỗi dân tộc được chung sống bình yên và yêu thương nhau, là khát vọng hùng cường cho non sông đất nước mà nhà văn Lại Văn Long gửi gắm vào trang viết của mình.

Bìa tiểu thuyết Người khổng lồ đội mồ kể chuyện

Kết hợp, pha trộn giữa thể loại huyền thoại, huyền sử và cả chính sử đã được "chuyển hóa", nhà văn Lại Văn Long đã tạo ra tiểu thuyết Người khổng lồ đội mồ kể chuyện một câu chuyện độc đáo, một thế giới kỳ lạ vừa huyền bí vừa gần gũi, ly kỳ hấp dẫn nhưng vẫn đầy ắp tính thời sự. Những dấu mốc của thế cuộc và cả dấu ấn lịch sử dân tộc đã được "ẩn giấu", làm "mờ" đi, từ đó giúp tác phẩm chuyển tải nhiều thông điệp, nhiều ẩn dụ và bài học có tầm vóc và đầy ám ảnh.

Từ ngôi mộ cổ Hàng Gòn ở Long Khánh, Đồng Nai, nhà văn Lại Văn Long đã tưởng tượng ra nhân vật người khổng lồ - chiến binh anh hùng ArMy vĩ đại và đáng yêu, một nhân vật huyền thoại mà gần gũi và giàu chất người vô cùng với những khát vọng cao đẹp dành cho dân tộc và đất nước Ma Y Cổ Tỳ. Trong tác phẩm này, nhà văn đã dựng lên nhiều nhân vật giàu tính biểu tượng, biểu trưng, nhiều ẩn dụ để biểu đạt các ý đồ, tư tưởng của mình vào từng nhân vật có tính đại diện. Họ vừa hư vừa thực, vừa có nét hư cấu, vừa như thấy tồn tại ở đời, hay từng có trong lịch sử.

Đó là sự sáng tạo độc đáo của nhà văn Lại Văn Long. Chẳng hạn, nhân vật Thượng sư Kiều Chân Như - đại diện cho tham vọng dùng Thánh giáo Bà la môn thống trị, bị giáo lý tôn giáo mê hoặc đến mê muội với khát vọng "Thánh giáo đại đồng". Hay nhân vật Rị Thi Ân Điền - quốc vương của Hoàn vương quốc, kẻ thù to lớn của đất nước Ma Y Cổ Tỳ, đại diện là tầng lớp vua chúa độc tài, tham vọng bành trướng, gian xảo và nham hiểm, luôn muốn xâm lăng thống trị Ma Y Cổ Tỳ để biến thành quận huyện của nước mình...

Chính những mâu thuẫn trong hàng ngũ lãnh đạo của đất nước Ma Y Cổ Tỳ, chính đường lối sai lầm của Kiều Chân Như về tôn giáo, đã làm đất nước suy yếu, giúp cho mưu kế của Ân Điền có cơ hội phát tác. Nhân vật Ân Điền này quen thuộc như chúng ta đã từng gặp trong lịch sử. Những ấn tượng về vị quốc vương tham vọng bành trướng này gây ra khiến người đọc căm thù và cảnh giác.

Để chống lại âm mưu và sự thôn tính của Ân Điền, ArMy và những đồng đội của mình đã anh dũng đứng lên đánh lại quân xâm lược và giành thắng lợi. Vị anh hùng khổng lồ này thấy rằng, cần làm cho đất nước giàu mạnh lên, thoát khỏi tư tưởng dùng tôn giáo thống trị, phân chia giai tầng gây chia rẽ và thù hận trong lòng dân tộc của Kiều Chân Như, phải để cho nhân dân tự do, phải có dân chủ... thì mới tạo nên sự phát triển, mới có sức mạnh để chống lại kẻ thù, để đất nước trường tồn và yên ổn.

Với tôi, đây là một tác phẩm mang tính ẩn dụ, ẩn chứa những tư tưởng nhân sinh, những suy tư về nhân thế, đất nước và dân tộc. Đó là một tiểu thuyết luận đề day dứt và gợi nhiều suy tưởng lớn cho sự tồn tại, phát triển của con người, của mỗi dân tộc và đất nước.

Từ trong các trang viết này, tôi nhặt ra nhiều "hạt vàng" tư tưởng, triết lý gần gũi, sâu sắc và thiết thực. Tôi tìm thấy những lý giải thoạt nghe như đơn giản mà thấu triệt và hợp lý đến ngỡ ngàng, bất ngờ vỡ òa thú vị và tâm đắc. Đó là bài học không thể dung hợp giữa quyền lực chính trị và tôn giáo, là sự vi diệu của đạo Phật trong việc giải thoát sân si khổ nạn của kiếp người và sự bao dung độ lượng với câu nói của Đức Phật: "Không có giai cấp trong giọt máu cùng đỏ và giọt nước mắt cùng mặn". Đó là bài học về sự bình đẳng, tự do: "Hãy để mọi người yêu nước theo cách của mình, đừng gộp họ như bầy cừu dưới roi vọt và chuồng trại...".

Không phải là người trải đời, không yêu con người, không trăn trở với đời sống và dĩ nhiên là cái vốn văn hóa, cái nền kiến thức và cả sự suy tư, suy tưởng đầy trách nhiệm, thì không thể có những trang viết trí tuệ và đau đáu nhân tình như thế! Nó cuốn hút và quyến rũ, thấm vào lòng người đọc gây thổn thức, yêu thương, khao khát.

Tiểu thuyết này còn sử dụng thủ pháp kết hợp hiện tại qua lời kể của nhân vật nhà báo, kết hợp, kết nối với những hồi tưởng quá khứ 2000 năm trước qua lời kể của dũng tướng ArMy, lời văn dung dị, mộc mạc nhưng nhiều cảm xúc, nhiều tầng nghĩa. Đặc biệt, trong truyện, tác giả dụng công sáng tạo nên một số loại vũ khí độc đáo, kỳ dị như: Thiết giáp hạm, máy bắn đá, diều bay chở "bom cháy"... dù là hư cấu của nhà văn, nhưng vẫn gây ấn tượng như thật, có thật!

Gấp những trang sách này lại, những điều trăn trở về sự tồn vong, về cái ác, về sự đấu tranh sinh tồn, chiến tranh - hòa bình giữa nước nhỏ với các cường quốc... sẽ khiến người đọc ám ảnh và suy ngẫm không ngừng, nó truyền đi những thông điệp, bài học, khát vọng sống, khát vọng hòa bình cho con người, giúp con người lên án, loại trừ cái ác.

Đằng sau những trang viết của anh, tôi đọc được khát vọng hùng cường cho dân tộc, đất nước mình, ước ao sẽ có những người khổng lồ trí tuệ để xây dựng và bảo vệ biên cương, giúp dân tộc Ma Y Cổ Tỳ nhỏ bé được phát triển, trường tồn.

Nguyễn Thịnh (nhà báo, luật gia - Tạp chí Nhà Quản Lý)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm