TIN TỨC

Khát vọng đất nước hùng cường trong tiểu thuyết của Lại Văn Long

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-03-21 00:37:15
mail facebook google pos stwis
1562 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cuộc chiến giữa Nga - Ukraine đang cuốn hút sự chú ý của cả thế giới, khát vọng hòa bình lại bùng lên trong tâm thức những con người yêu hòa bình. Trong tình hình đó, tình cờ tôi đọc tiểu thuyết Người khổng lồ đội mồ kể chuyện (NXB Hội Nhà văn 2019) của Lại Văn Long, lại bắt gặp những cuộc chiến trong tác phẩm này. Nổi lên trong đó là khát vọng hòa bình cho mỗi dân tộc được chung sống bình yên và yêu thương nhau, là khát vọng hùng cường cho non sông đất nước mà nhà văn Lại Văn Long gửi gắm vào trang viết của mình.

Bìa tiểu thuyết Người khổng lồ đội mồ kể chuyện

Kết hợp, pha trộn giữa thể loại huyền thoại, huyền sử và cả chính sử đã được "chuyển hóa", nhà văn Lại Văn Long đã tạo ra tiểu thuyết Người khổng lồ đội mồ kể chuyện một câu chuyện độc đáo, một thế giới kỳ lạ vừa huyền bí vừa gần gũi, ly kỳ hấp dẫn nhưng vẫn đầy ắp tính thời sự. Những dấu mốc của thế cuộc và cả dấu ấn lịch sử dân tộc đã được "ẩn giấu", làm "mờ" đi, từ đó giúp tác phẩm chuyển tải nhiều thông điệp, nhiều ẩn dụ và bài học có tầm vóc và đầy ám ảnh.

Từ ngôi mộ cổ Hàng Gòn ở Long Khánh, Đồng Nai, nhà văn Lại Văn Long đã tưởng tượng ra nhân vật người khổng lồ - chiến binh anh hùng ArMy vĩ đại và đáng yêu, một nhân vật huyền thoại mà gần gũi và giàu chất người vô cùng với những khát vọng cao đẹp dành cho dân tộc và đất nước Ma Y Cổ Tỳ. Trong tác phẩm này, nhà văn đã dựng lên nhiều nhân vật giàu tính biểu tượng, biểu trưng, nhiều ẩn dụ để biểu đạt các ý đồ, tư tưởng của mình vào từng nhân vật có tính đại diện. Họ vừa hư vừa thực, vừa có nét hư cấu, vừa như thấy tồn tại ở đời, hay từng có trong lịch sử.

Đó là sự sáng tạo độc đáo của nhà văn Lại Văn Long. Chẳng hạn, nhân vật Thượng sư Kiều Chân Như - đại diện cho tham vọng dùng Thánh giáo Bà la môn thống trị, bị giáo lý tôn giáo mê hoặc đến mê muội với khát vọng "Thánh giáo đại đồng". Hay nhân vật Rị Thi Ân Điền - quốc vương của Hoàn vương quốc, kẻ thù to lớn của đất nước Ma Y Cổ Tỳ, đại diện là tầng lớp vua chúa độc tài, tham vọng bành trướng, gian xảo và nham hiểm, luôn muốn xâm lăng thống trị Ma Y Cổ Tỳ để biến thành quận huyện của nước mình...

Chính những mâu thuẫn trong hàng ngũ lãnh đạo của đất nước Ma Y Cổ Tỳ, chính đường lối sai lầm của Kiều Chân Như về tôn giáo, đã làm đất nước suy yếu, giúp cho mưu kế của Ân Điền có cơ hội phát tác. Nhân vật Ân Điền này quen thuộc như chúng ta đã từng gặp trong lịch sử. Những ấn tượng về vị quốc vương tham vọng bành trướng này gây ra khiến người đọc căm thù và cảnh giác.

Để chống lại âm mưu và sự thôn tính của Ân Điền, ArMy và những đồng đội của mình đã anh dũng đứng lên đánh lại quân xâm lược và giành thắng lợi. Vị anh hùng khổng lồ này thấy rằng, cần làm cho đất nước giàu mạnh lên, thoát khỏi tư tưởng dùng tôn giáo thống trị, phân chia giai tầng gây chia rẽ và thù hận trong lòng dân tộc của Kiều Chân Như, phải để cho nhân dân tự do, phải có dân chủ... thì mới tạo nên sự phát triển, mới có sức mạnh để chống lại kẻ thù, để đất nước trường tồn và yên ổn.

Với tôi, đây là một tác phẩm mang tính ẩn dụ, ẩn chứa những tư tưởng nhân sinh, những suy tư về nhân thế, đất nước và dân tộc. Đó là một tiểu thuyết luận đề day dứt và gợi nhiều suy tưởng lớn cho sự tồn tại, phát triển của con người, của mỗi dân tộc và đất nước.

Từ trong các trang viết này, tôi nhặt ra nhiều "hạt vàng" tư tưởng, triết lý gần gũi, sâu sắc và thiết thực. Tôi tìm thấy những lý giải thoạt nghe như đơn giản mà thấu triệt và hợp lý đến ngỡ ngàng, bất ngờ vỡ òa thú vị và tâm đắc. Đó là bài học không thể dung hợp giữa quyền lực chính trị và tôn giáo, là sự vi diệu của đạo Phật trong việc giải thoát sân si khổ nạn của kiếp người và sự bao dung độ lượng với câu nói của Đức Phật: "Không có giai cấp trong giọt máu cùng đỏ và giọt nước mắt cùng mặn". Đó là bài học về sự bình đẳng, tự do: "Hãy để mọi người yêu nước theo cách của mình, đừng gộp họ như bầy cừu dưới roi vọt và chuồng trại...".

Không phải là người trải đời, không yêu con người, không trăn trở với đời sống và dĩ nhiên là cái vốn văn hóa, cái nền kiến thức và cả sự suy tư, suy tưởng đầy trách nhiệm, thì không thể có những trang viết trí tuệ và đau đáu nhân tình như thế! Nó cuốn hút và quyến rũ, thấm vào lòng người đọc gây thổn thức, yêu thương, khao khát.

Tiểu thuyết này còn sử dụng thủ pháp kết hợp hiện tại qua lời kể của nhân vật nhà báo, kết hợp, kết nối với những hồi tưởng quá khứ 2000 năm trước qua lời kể của dũng tướng ArMy, lời văn dung dị, mộc mạc nhưng nhiều cảm xúc, nhiều tầng nghĩa. Đặc biệt, trong truyện, tác giả dụng công sáng tạo nên một số loại vũ khí độc đáo, kỳ dị như: Thiết giáp hạm, máy bắn đá, diều bay chở "bom cháy"... dù là hư cấu của nhà văn, nhưng vẫn gây ấn tượng như thật, có thật!

Gấp những trang sách này lại, những điều trăn trở về sự tồn vong, về cái ác, về sự đấu tranh sinh tồn, chiến tranh - hòa bình giữa nước nhỏ với các cường quốc... sẽ khiến người đọc ám ảnh và suy ngẫm không ngừng, nó truyền đi những thông điệp, bài học, khát vọng sống, khát vọng hòa bình cho con người, giúp con người lên án, loại trừ cái ác.

Đằng sau những trang viết của anh, tôi đọc được khát vọng hùng cường cho dân tộc, đất nước mình, ước ao sẽ có những người khổng lồ trí tuệ để xây dựng và bảo vệ biên cương, giúp dân tộc Ma Y Cổ Tỳ nhỏ bé được phát triển, trường tồn.

Nguyễn Thịnh (nhà báo, luật gia - Tạp chí Nhà Quản Lý)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm