TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Mấy điều bất thường xung quanh bài thơ “Màu thời gian” của Đoàn Phú Tứ

Mấy điều bất thường xung quanh bài thơ “Màu thời gian” của Đoàn Phú Tứ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-09-12 22:16:04
mail facebook google pos stwis
3211 lượt xem

Vũ Nho     

Không phải vì tác giả là người viết kịch, có duy nhất một bài thơ được chọn vào sách “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh và Hoài Chân, mà bài thơ này có tính bất thường. Trong sách của Hoài Thanh và Hoài Chân có những tác giả sau chỉ có một bài : Thúc Tề, Đoàn Phú Tứ, Vân Đài, Phan Khắc Khoan, Thâm Tâm, Phan Thanh Phước, Hằng Phương, Mộng Huyền. Có hai tác giả được nói đến mà không trích bài nào trọn vẹn là T.T.KH, và Trần Huyền Trân. Vậy thì bài thơ của Đoàn Phú Tứ bất thường ở chỗ nào?

Nhà thơ Đoàn Phú Tứ

Trước hết, tuy Đoàn Phú Tứ chỉ được trích một bài thơ, nhưng trong phần tiểu luận “Một thời đại trong thi ca”, Hoài Thanh và Hoài Chân đã dành không ít dòng cho tác giả cùng với bài thơ. Ba lần nhắc đến Đoàn Phú Tứ và thơ của ông.

“ Tiếp  theo đó, Phong hóa luôn luôn đăng thơ mới của Tứ Ly, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Văn Kiện, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, Huy Thông” ( Thi nhân Việt Nam, nxb Văn Học, Hà Nội 1988, tr. 16).

 “Cái kín đáo của thơ Pháp gần đây tôi còn thấy ở Đoàn Phú Tứ” ( Sách đã dẫn, tr. 27).

“ Nói tóm lại, phong trào thơ mới đã vứt đi nhiều khuôn phép xưa, song cũng nhiều khuôn phép nhân đó sẽ thêm bền vững. Hẳn tương lai còn dành nhiều vinh quang cho những khuôn phép này. Nó đã qua được một cơn sóng gió dữ dội trong khi các khuôn phép mới xuất hiện đều bị tiêu trầm như thơ tự do, thơ mười chữ, thơ mười hai chữ hay đương sắp sửa tiêu trầm như những cách gieo vần phỏng theo thơ Pháp” (2)

Những dòng dưới đây là chú thích cho chỗ đánh số 2:

“ Tiếng ta có bằng trắc rõ ràng. Nhiều khi chỉ đổi thanh cũng đủ không cần vần. Đọc mấy câu này của Đoàn Phú Tứ :

Duyên trăm năm đứt đoạn

Tình một thuở còn hương

Hương thời gian thanh thanh

Màu thời gian tím ngát

Có ai ngờ là những câu không vần. Còn như  trong mấy câu này của Xuân Diệu:

          Đây, dây thơ e ấp đã lâu rồi

          Chìm trong cỏ một vườn hoa bỏ vắng

          (Lòng tôi đó một vườn hoa cháy nắng)

          Xin lòng người mở cửa ngó lòng tôi

Giá thay chữ “tôi” cuối câu thứ tư bằng một chữ gì khác không dấu đọc lên vẫn êm. Đại khái gieo vần phỏng theo thơ Pháp đều thừa như thế, mà lắm khi lại còn làm mất cả âm điệu bài thơ”. (Sách đã dẫn, tr. 41)

Thứ hai, chỉ có bài thơ “Màu thời gian” của Đoàn Phú Tứ là có nhiều chú đến như vậy. Toàn bài không tính nhan đề có 18 dòng thơ chia làm 5 khổ thì có 10 chú  giải chia cho  nhan đề 1, khổ thứ nhất 1; khổ thứ hai 2; khổ thứ ba 2; khổ thứ tư 3; khổ thứ năm 1. Mười chú giải này chiếm hơn một trang. Trong khi lời bình cũng chỉ dài non một trang mà thôi.

Thứ ba, duy nhất trong cuốn Thi nhân Việt Nam, tác giả dành lời bình cho một bài thơ cụ thể. Còn lại tất cả chỉ là những nhận xét cho câu thơ, hình ảnh thơ hoặc bài thơ, giọng điệu thơ. Phần nhiều những nhận xét đặc sắc, tinh tế của người có tài thẩm bình khái quát.

Cũng chỉ có bài “Màu thời gian” mới có hai thao tác cùng phối hợp là CHÚ trước và BÌNH sau. Phải chăng đây là gợi ý cho sau này trong nhà trường phổ thông miền Bắc những năm 60 có một kiểu lên lớp không phải là “giảng văn” mà chỉ là “bình chú”, một kiểu tìm hiểu tác phẩm thơ dành nhiều đất cho sự phóng khoáng của người dạy.

Thứ tư, tác giả của Thi nhân Việt Nam đặc biệt dành những lời khen ngợi trân trọng (hiếm khi gặp) cho  nhà thơ Đoàn Phú Tứ dù chỉ trích một bài. Trong những dòng nói về tác giả, hai nhà phê bình đánh giá: “Làm thơ rất ít. […] Nhưng thơ hay không cần nhiều. Đoàn Phú Tứ chỉ làm có dăm bảy bài mà hầu hết là những bài có đặc sắc. Ấy là một lối thơ rất tinh tế và rất kín đáo. Thi nhân ghi lại bằng những nét mong manh những cảm giác rất nhẹ nhàng”. (sách đã dẫn tr. 98). Phải thẳng thắn mà nói rằng lời bình của Hoài Thanh và Hoài Chân khá bình thường, không có gì nổi bật và đặc sắc. Chỉ có tình thần khen ngợi là nổi trội và rõ ràng (dù cũng đã gài vào cả ý không khen): “Thành ra ý thơ, lời thơ, điệu thơ cùng với hồn thi nhân đi từ hiện tại về quá khứ, từ quá khứ gần đến quá khứ xa, rồi dần dần trở về hiện tại. Hiện tại chỉ mờ mờ nhạt nhạt, nhưng càng đi xa về quá khứ, câu thơ càng thiết tha, càng rực rỡ. Nhất là từ chỗ ngũ ngôn chuyển sang thất ngôn câu thơ đẹp vô cùng. Tôi tưởng dầu không hiểu ý nghĩa bài thơ người ta cũng không thể không nhận thấy cái vẻ huy hoàng, trang trọng của câu thơ. Trong thơ ta có lẽ không có bài nào khác tinh tế và kín đáo như thế”

( sách đã dẫn, tr.101).

Thứ năm, sau này khi Đoàn Phú Tứ chủ trương cùng nhóm Xuân Thu nhã tập, bài thơ lại được in lại, được phổ nhạc như một minh chứng cho mong muốn cách tân thơ.  Nhưng suy cho cùng cuộc canh tân thơ ca của nhóm cũng chỉ mới là đưa ra lí thuyết. Bài thơ có ý nghĩa như một minh họa cùng với những câu thơ của Nguyễn Xuân Sanh  sau này được nhắc đến như một sự kì cục, bí hiểm trong thể hiện “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà...” (*)

Gần đây, chúng tôi thấy một loạt các bài viết về bài thơ  “Màu thời gian” này. Tinh thần là đề cao, coi như là thành tựu của một mong muốn đổi mới thơ. Bài thơ xuất hiện cùng thơ mới, nhưng đã vượt qua thơ mới để đi  đến một lối thơ khác.[ Có thể đọc các bài viết của Trần Thị Quỳnh Thuận : Văn chương Đoàn Phú Tứ: một xác tín thẩm mỹ thời văn học mới; Chế Diễm Trâm : Tím ngát màu thời gian;  Nguyễn Thanh Tâm :"Màu thời gian" - "Bông sáng tạo dâng lên bàn thờ đạo" (Một diễn giải về thơ từ đặc trưng loại hình);…].

Dù có những bất thường như vậy, chúng tôi cho rằng bài thơ này cũng bình thường thôi. Nếu không chú, không bỏ công đề cao như Hoài Thanh đã làm thì vị tất người ta đã để ý và ca ngợi. Ngay cả Hoài Thanh, ông cũng phải thừa nhận: “Người xem thơ cũng biết rằng đây là hình ảnh một đôi mẩu đời, nhưng hình ảnh mờ quá không thể đoán  những mẩu đời kia ra thế nào. Có khi cả ý nghĩa bài thơ cũng không hiểu rõ” (Sách đã dẫn, tr. 98). Bài thơ có mấy câu không vần nhưng độc đáo, diễn tả thời gian, một thứ vô hình thành ra cụ thể, có màu, có hương. Trong khi đó, nhưng thi liệu và từ ngữ dùng lại quá cũ. Chẳng hạn :  xuân tình, Tần phi, Tóc mây một món chiếc dao vàng/ Ngàn trùng e lệ phụng quân vương/…Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng.

Tóm lại, dù có nhiều điểm  bất thường, nhưng  chúng ta nên trả lại sự bình thường cho bài thơ này. Không nên đề quá cao bài thơ “Màu thời gian”, dù cho nó được làm bởi một người sau này chủ trương cách tân thơ của nhóm Xuân Thu nhã tập, dù cho nó được nhà phê bình hết sức ca ngợi và đánh gía bằng biệt nhãn. (* *)

         

Đôi điều nói thêm

Trong quá trình tìm hiểu bài thơ “Màu thời gian”, chúng tôi xem trong VOV5  một chương trình giới thiệu thơ Đoàn Phú Tứ và Trần Huyền Trân ( ngày 11/12/2012). Sau khi trích đọc lời nhận xét của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam, nghệ sĩ Thanh Thủy ngâm bài thơ “Màu thời gian” theo thể lục bát như sau:

          Cuộc đời có hững hờ đâu

          Trên đầu tôi đã điểm màu thời gian

           Thời gian xanh lại hoe vàng

          Thời gian xám đục ngỡ ngàng màu sương

          Mỗi lần tôi đứng trước gương

          Nhìn thời gian thấy bước đường đã qua

          Tại mình hay tại người ta

          Tự dưng tay nhổ gọi là tóc sâu

          Sợi  vương  sợi bạc sợi sầu

          Từ từ rơi xuống nỗi đau chia lìa

          Thời gian buồn tím tái tê

          Chỉ mình mình biết mình về mình thôi

Chúng tôi không chắc đây có phải là Màu thời gian  khác nữa của tác giả Đoàn Phú Tứ. Bài trong Thi nhân Việt Nam có vẻ khó hiểu, “mờ mờ nhân ảnh” nặng những thi liệu cổ thì bài này lại dễ dãi, diễn nôm.  Nếu quả đây là một bài khác của tác giả họ Đoàn thì cũng chẳng có gì  thật đặc sắc.(***)

 

Hà Nội 12/9/2014

V.N

 

* Đoạn thơ thường hay được trích của Nguyễn Xuân Sanh:

Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi

Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y

Rượu hát bầu vàng cung ướp hương

Ngón hường say tóc nhạc trầm mi

Lẵng xuân

Bờ giũ trái xuân sa

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà...”

 

** Chúng tôi tuy không đề quá cao bài thơ xét về chất lượng, nhưng đánh giá cao việc cố gắng của tác giả tìm chất thơ trong “thời gian”. Đặc biệt là đã nói về màu và hương của thời gian.  Trước đó, trong văn học dân gian Việt Nam, thời gian chỉ là vấn đề dài - ngắn, nhanh- chậm (Đời người có một gang tay/ Ai hay ngủ ngày còn  lại nửa gang. Hoặc Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng/ Ngày tháng mười chưa cười đã tối). Trong văn học trung đại, thời gian cũng được đo đếm theo tinh thần đó. Thời gian như bóng câu qua cửa sổ. Thời gian như chớp mắt. Thời gian như giấc mộng kê vàng. Với Nguyễn Du và một số nhà thơ khác thì còn có thời gian tâm lí: Ba thu dọn lại một ngày dài ghê. Ngày vui ngắn chẳng tày gang. Hoặc Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại.  Hầu như chưa có ai đặt vấn đề màu và hương thời gian. Điều này chắc chắn có  thể sẽ mở đường hoặc  gợi ý để Văn Cao, Nguyễn Duy, Nguyễn Thị Ánh Huỳnh,… viết  về “Thời gian” :

 

Rơi

           như tiếng sỏi

                                        trong lòng giếng cạn

            Riêng những câu thơ

                        còn xanh

            Riêng những bài hát

                       còn xanh

             Và đôi mắt em

                       như hai giếng nước.

 Thời gian – Văn Cao  

 

Gió ù ù đi qua họng súng thần công

Tiếng chuông chùa đi thủng thỉnh trong không

Áo em trắng đi từ xa vắng lại

Thời gian đi xám mặt đỉnh đồng

Đi ngang thành nội- Nguyễn Duy

 

Không phải chim ảo

Con chim thời gian

Để lại những dấu chân thật thà

Gương mặt đàn bà

Nhầu nhĩ

 

Chim thời gian

Như đại bàng cắp nàng trái đất

Vừa bay vừa dẫm nát mặt người

Rạn gương mặt Tây Thi

Nứt gương mặt Dương Quý Phi

Con chim

Ăn sắc đẹp đàn bà…

           Con chim thời gian – Nguyễn Thị Ánh Huỳnh

 

***  Nhà phê bình viết “Đoàn Phú Tứ chỉ làm có dăm bảy bài mà hầu hết là những bài có đặc sắc”. Chúng tôi xin dẫn ra hai bài của Đoàn Phú Tứ để mọi người xem đặc sắc  đến mức nào.

 

Ánh Trăng

Tác giả: Đoàn Phú Tứ

Mải miết đường đời đã bấy lâu,
Biếng nhìn trăng cũ muốn quên sầu;
Đêm nay bỗng thấy bên song ngõ
Một ánh xanh mờ thoáng tự đâu,
Leo lét gợi khêu tình quá vãng,
Lòng thơ bao xiết nỗi thương đau;
Vung chăn toan rũ màn đen tối,
Mắt lệ đờ trong vành ngọc cao.

 

Tủi

Tác giả: Đoàn Phú Tứ

``Vật mình tức tối mộng không xong''

Nhắm mắt ôm vùi chiếc gối bông,
Bâng khuâng tìm giấc phấn hương nồng;
Phấn hương chưa ủ tình yêu lạnh,
Em chết ! Trời ơi ! Anh tủi lòng...

 

 Bài đọc trong Hội thảo về Đoàn Phú Tứ 2015.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Lê Quang Vui – Sự giăng mắc giữa đời và đạo
hời thế giới phẳng, giữa thời đại tiêu dùng, con người đang chạy theo việc đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và sở hữu những giá trị vật chất, thơ đang bị xem như thứ xa xỉ chỉ dành cho những người có tâm hồn mộng mơ và thi vị. Đối với công việc làm thơ, một số người làm thơ chỉ để tìm kiếm chút danh lợi hoặc để mua vui cho chính bản thân mình. Thế nhưng, trên thi đàn thơ Việt Nam đương đại vẫn còn những nhà thơ xem công việc sáng tạo thơ như một thiên chức mang vẻ đẹp thuần khiết và thiêng liêng. Ở đây, tôi muốn nói đến nhà thơ Lê Quang Vui, hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp, một người đeo đuổi công việc sáng tác thơ đã hơn 40 năm. Nhà thơ Lê Quang Vui được một số văn nghệ sĩ đánh giá rằng ông đang giữ kỷ lục về số lượng tác phẩm với hơn 15.000 bài thơ đã sáng tác và 15 tập thơ đã xuất bản.
Xem thêm
Nhà thơ Vương Trọng – Cá tính thơ trong con người xứ Nghệ
Đối với cánh văn chương 7x chúng tôi ở Văn nghệ Quân đội, nhà thơ Vương Trọng không chỉ rất gần gũi mà ông còn là tấm gương về sáng tác, công tác và các ứng xử trong cuộc sống đời thường. Ông là điển hình cho phẩm chất của người xứ Nghệ: mạnh mẽ, kiên cường, có chính kiến rõ ràng và rất quyết liệt trong bảo vệ chính kiến đó, nhất quán từ lời nói đến hành động, rất biết nặng nhẹ trong đời sống và càng biết thật giả trong văn chương. Được tiếp nối các ông trong khu vực công tác và sáng tác ở Văn nghệ Quân đội là may mắn với chúng tôi. Chúng tôi luôn kính trọng thế hệ nhà văn chống Mỹ trong đó có Vương Trọng và lấy làm tấm gương để soi chiếu chính mình. Càng đọc các bài thơ đã thuộc làu từ tấm bé, nhiều khi còn quên mất tên tác giả Vương Trọng chúng tôi càng hiểu rằng, giá trị trước hết và lâu bền của thơ ca chính là thơ ca luôn trực tiếp phục vụ đời sống con người, ở những khúc quanh bước ngoặt, ở những thân phận thua thiệt đã hằn lên từ nghìn năm lịch sử đến hôm nay. Những câu chuyện như thế khi vào thơ Vương Trọng đã được đẩy lên ở một tầng mức thẳm sâu, đớn đau tột cùng mà cũng tận cùng vẻ đẹp của sự hi sinh của con người Việt Nam đã đi vào thơ ca sử sách.
Xem thêm
Bích Thu - Người đồng hành cùng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Bích Thu là một trong rất ít những nhà phê bình văn học nữ hiện còn miệt mài với những trang viết về văn chương Việt cho đến ngày nay. Thơ và văn xuôi là hai thể loại mà chị theo dõi và luôn đồng hành cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI để nhận diện thi pháp tác phẩm và tác giả tiêu biểu, sau đó là tổng kết, chỉ ra diện mạo, đặc điểm chung cho cả phong trào qua các giai đoạn, nhất là giai đoạn từ Đổi mới đến nay.
Xem thêm
Thơ Lê Văn Sự - Tiếng thơ của vùng ký ức
Lê Văn Sự, nguyên là giáo viên dạy toán, nhưng tâm hồn thơ dào dạt, làm nên những vẻ đẹp “phi logic” của ngôn ngữ thơ. Không “đại ngôn”, nhưng phải nói rằng, anh là một nhà thơ “toàn tòng”. Cho đến nay, Lê Văn Sự đã xuất bản 11 tập thơ, trong số 12 tác phẩm đã công bố của anh. Anh là tiếng thơ cất lên từ làng bước ra xa lộ, nâng niu, đắm đuối ký ức.
Xem thêm
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người
Xem thêm
Trương Nam Hương – Thi sĩ tuổi Mèo với những câu thơ đẹp như nỗi buồn
Thơ Trương Nam Hương tài hoa mà đằm thắm, đau đáu với mẹ cha, quê nhà và những ân tình không thể nguôi quên. Nhân sinh nhật lần thứ 63 của nhà thơ (23/10/1963 – 23/10/2026), Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của Lê Huy Hòa như một món quà thân tình gửi đến anh – người thi sĩ vẫn bền bỉ gìn giữ những miền xanh trong trẻo của tâm hồn.
Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm