TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Mấy điều bất thường xung quanh bài thơ “Màu thời gian” của Đoàn Phú Tứ

Mấy điều bất thường xung quanh bài thơ “Màu thời gian” của Đoàn Phú Tứ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-09-12 22:16:04
mail facebook google pos stwis
3025 lượt xem

Vũ Nho     

Không phải vì tác giả là người viết kịch, có duy nhất một bài thơ được chọn vào sách “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh và Hoài Chân, mà bài thơ này có tính bất thường. Trong sách của Hoài Thanh và Hoài Chân có những tác giả sau chỉ có một bài : Thúc Tề, Đoàn Phú Tứ, Vân Đài, Phan Khắc Khoan, Thâm Tâm, Phan Thanh Phước, Hằng Phương, Mộng Huyền. Có hai tác giả được nói đến mà không trích bài nào trọn vẹn là T.T.KH, và Trần Huyền Trân. Vậy thì bài thơ của Đoàn Phú Tứ bất thường ở chỗ nào?

Nhà thơ Đoàn Phú Tứ

Trước hết, tuy Đoàn Phú Tứ chỉ được trích một bài thơ, nhưng trong phần tiểu luận “Một thời đại trong thi ca”, Hoài Thanh và Hoài Chân đã dành không ít dòng cho tác giả cùng với bài thơ. Ba lần nhắc đến Đoàn Phú Tứ và thơ của ông.

“ Tiếp  theo đó, Phong hóa luôn luôn đăng thơ mới của Tứ Ly, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Văn Kiện, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, Huy Thông” ( Thi nhân Việt Nam, nxb Văn Học, Hà Nội 1988, tr. 16).

 “Cái kín đáo của thơ Pháp gần đây tôi còn thấy ở Đoàn Phú Tứ” ( Sách đã dẫn, tr. 27).

“ Nói tóm lại, phong trào thơ mới đã vứt đi nhiều khuôn phép xưa, song cũng nhiều khuôn phép nhân đó sẽ thêm bền vững. Hẳn tương lai còn dành nhiều vinh quang cho những khuôn phép này. Nó đã qua được một cơn sóng gió dữ dội trong khi các khuôn phép mới xuất hiện đều bị tiêu trầm như thơ tự do, thơ mười chữ, thơ mười hai chữ hay đương sắp sửa tiêu trầm như những cách gieo vần phỏng theo thơ Pháp” (2)

Những dòng dưới đây là chú thích cho chỗ đánh số 2:

“ Tiếng ta có bằng trắc rõ ràng. Nhiều khi chỉ đổi thanh cũng đủ không cần vần. Đọc mấy câu này của Đoàn Phú Tứ :

Duyên trăm năm đứt đoạn

Tình một thuở còn hương

Hương thời gian thanh thanh

Màu thời gian tím ngát

Có ai ngờ là những câu không vần. Còn như  trong mấy câu này của Xuân Diệu:

          Đây, dây thơ e ấp đã lâu rồi

          Chìm trong cỏ một vườn hoa bỏ vắng

          (Lòng tôi đó một vườn hoa cháy nắng)

          Xin lòng người mở cửa ngó lòng tôi

Giá thay chữ “tôi” cuối câu thứ tư bằng một chữ gì khác không dấu đọc lên vẫn êm. Đại khái gieo vần phỏng theo thơ Pháp đều thừa như thế, mà lắm khi lại còn làm mất cả âm điệu bài thơ”. (Sách đã dẫn, tr. 41)

Thứ hai, chỉ có bài thơ “Màu thời gian” của Đoàn Phú Tứ là có nhiều chú đến như vậy. Toàn bài không tính nhan đề có 18 dòng thơ chia làm 5 khổ thì có 10 chú  giải chia cho  nhan đề 1, khổ thứ nhất 1; khổ thứ hai 2; khổ thứ ba 2; khổ thứ tư 3; khổ thứ năm 1. Mười chú giải này chiếm hơn một trang. Trong khi lời bình cũng chỉ dài non một trang mà thôi.

Thứ ba, duy nhất trong cuốn Thi nhân Việt Nam, tác giả dành lời bình cho một bài thơ cụ thể. Còn lại tất cả chỉ là những nhận xét cho câu thơ, hình ảnh thơ hoặc bài thơ, giọng điệu thơ. Phần nhiều những nhận xét đặc sắc, tinh tế của người có tài thẩm bình khái quát.

Cũng chỉ có bài “Màu thời gian” mới có hai thao tác cùng phối hợp là CHÚ trước và BÌNH sau. Phải chăng đây là gợi ý cho sau này trong nhà trường phổ thông miền Bắc những năm 60 có một kiểu lên lớp không phải là “giảng văn” mà chỉ là “bình chú”, một kiểu tìm hiểu tác phẩm thơ dành nhiều đất cho sự phóng khoáng của người dạy.

Thứ tư, tác giả của Thi nhân Việt Nam đặc biệt dành những lời khen ngợi trân trọng (hiếm khi gặp) cho  nhà thơ Đoàn Phú Tứ dù chỉ trích một bài. Trong những dòng nói về tác giả, hai nhà phê bình đánh giá: “Làm thơ rất ít. […] Nhưng thơ hay không cần nhiều. Đoàn Phú Tứ chỉ làm có dăm bảy bài mà hầu hết là những bài có đặc sắc. Ấy là một lối thơ rất tinh tế và rất kín đáo. Thi nhân ghi lại bằng những nét mong manh những cảm giác rất nhẹ nhàng”. (sách đã dẫn tr. 98). Phải thẳng thắn mà nói rằng lời bình của Hoài Thanh và Hoài Chân khá bình thường, không có gì nổi bật và đặc sắc. Chỉ có tình thần khen ngợi là nổi trội và rõ ràng (dù cũng đã gài vào cả ý không khen): “Thành ra ý thơ, lời thơ, điệu thơ cùng với hồn thi nhân đi từ hiện tại về quá khứ, từ quá khứ gần đến quá khứ xa, rồi dần dần trở về hiện tại. Hiện tại chỉ mờ mờ nhạt nhạt, nhưng càng đi xa về quá khứ, câu thơ càng thiết tha, càng rực rỡ. Nhất là từ chỗ ngũ ngôn chuyển sang thất ngôn câu thơ đẹp vô cùng. Tôi tưởng dầu không hiểu ý nghĩa bài thơ người ta cũng không thể không nhận thấy cái vẻ huy hoàng, trang trọng của câu thơ. Trong thơ ta có lẽ không có bài nào khác tinh tế và kín đáo như thế

( sách đã dẫn, tr.101).

Thứ năm, sau này khi Đoàn Phú Tứ chủ trương cùng nhóm Xuân Thu nhã tập, bài thơ lại được in lại, được phổ nhạc như một minh chứng cho mong muốn cách tân thơ.  Nhưng suy cho cùng cuộc canh tân thơ ca của nhóm cũng chỉ mới là đưa ra lí thuyết. Bài thơ có ý nghĩa như một minh họa cùng với những câu thơ của Nguyễn Xuân Sanh  sau này được nhắc đến như một sự kì cục, bí hiểm trong thể hiện “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà...” (*)

Gần đây, chúng tôi thấy một loạt các bài viết về bài thơ  “Màu thời gian” này. Tinh thần là đề cao, coi như là thành tựu của một mong muốn đổi mới thơ. Bài thơ xuất hiện cùng thơ mới, nhưng đã vượt qua thơ mới để đi  đến một lối thơ khác.[ Có thể đọc các bài viết của Trần Thị Quỳnh Thuận : Văn chương Đoàn Phú Tứ: một xác tín thẩm mỹ thời văn học mới; Chế Diễm Trâm : Tím ngát màu thời gian;  Nguyễn Thanh Tâm :"Màu thời gian" - "Bông sáng tạo dâng lên bàn thờ đạo" (Một diễn giải về thơ từ đặc trưng loại hình);…].

Dù có những bất thường như vậy, chúng tôi cho rằng bài thơ này cũng bình thường thôi. Nếu không chú, không bỏ công đề cao như Hoài Thanh đã làm thì vị tất người ta đã để ý và ca ngợi. Ngay cả Hoài Thanh, ông cũng phải thừa nhận: “Người xem thơ cũng biết rằng đây là hình ảnh một đôi mẩu đời, nhưng hình ảnh mờ quá không thể đoán  những mẩu đời kia ra thế nào. Có khi cả ý nghĩa bài thơ cũng không hiểu rõ” (Sách đã dẫn, tr. 98). Bài thơ có mấy câu không vần nhưng độc đáo, diễn tả thời gian, một thứ vô hình thành ra cụ thể, có màu, có hương. Trong khi đó, nhưng thi liệu và từ ngữ dùng lại quá cũ. Chẳng hạn :  xuân tìnhTần phi, Tóc mây một món chiếc dao vàng/ Ngàn trùng e lệ phụng quân vương/…Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng.

Tóm lại, dù có nhiều điểm  bất thường, nhưng  chúng ta nên trả lại sự bình thường cho bài thơ này. Không nên đề quá cao bài thơ “Màu thời gian”, dù cho nó được làm bởi một người sau này chủ trương cách tân thơ của nhóm Xuân Thu nhã tập, dù cho nó được nhà phê bình hết sức ca ngợi và đánh gía bằng biệt nhãn. (* *)

         

Đôi điều nói thêm

Trong quá trình tìm hiểu bài thơ “Màu thời gian”, chúng tôi xem trong VOV5  một chương trình giới thiệu thơ Đoàn Phú Tứ và Trần Huyền Trân ( ngày 11/12/2012). Sau khi trích đọc lời nhận xét của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam, nghệ sĩ Thanh Thủy ngâm bài thơ “Màu thời gian” theo thể lục bát như sau:

          Cuộc đời có hững hờ đâu

          Trên đầu tôi đã điểm màu thời gian

           Thời gian xanh lại hoe vàng

          Thời gian xám đục ngỡ ngàng màu sương

          Mỗi lần tôi đứng trước gương

          Nhìn thời gian thấy bước đường đã qua

          Tại mình hay tại người ta

          Tự dưng tay nhổ gọi là tóc sâu

          Sợi  vương  sợi bạc sợi sầu

          Từ từ rơi xuống nỗi đau chia lìa

          Thời gian buồn tím tái tê

          Chỉ mình mình biết mình về mình thôi

Chúng tôi không chắc đây có phải là Màu thời gian  khác nữa của tác giả Đoàn Phú Tứ. Bài trong Thi nhân Việt Nam có vẻ khó hiểu, “mờ mờ nhân ảnh” nặng những thi liệu cổ thì bài này lại dễ dãi, diễn nôm.  Nếu quả đây là một bài khác của tác giả họ Đoàn thì cũng chẳng có gì  thật đặc sắc.(***)

 

Hà Nội 12/9/2014

V.N

 

* Đoạn thơ thường hay được trích của Nguyễn Xuân Sanh:

Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi

Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y

Rượu hát bầu vàng cung ướp hương

Ngón hường say tóc nhạc trầm mi

Lẵng xuân

Bờ giũ trái xuân sa

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà...”

 

** Chúng tôi tuy không đề quá cao bài thơ xét về chất lượng, nhưng đánh giá cao việc cố gắng của tác giả tìm chất thơ trong “thời gian”. Đặc biệt là đã nói về màu và hương của thời gian.  Trước đó, trong văn học dân gian Việt Nam, thời gian chỉ là vấn đề dài - ngắn, nhanh- chậm (Đời người có một gang tay/ Ai hay ngủ ngày còn  lại nửa gang. Hoặc Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng/ Ngày tháng mười chưa cười đã tối). Trong văn học trung đại, thời gian cũng được đo đếm theo tinh thần đó. Thời gian như bóng câu qua cửa sổ. Thời gian như chớp mắt. Thời gian như giấc mộng kê vàng. Với Nguyễn Du và một số nhà thơ khác thì còn có thời gian tâm lí: Ba thu dọn lại một ngày dài ghêNgày vui ngắn chẳng tày gang. Hoặc Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại.  Hầu như chưa có ai đặt vấn đề màu và hương thời gian. Điều này chắc chắn có  thể sẽ mở đường hoặc  gợi ý để Văn Cao, Nguyễn Duy, Nguyễn Thị Ánh Huỳnh,… viết  về “Thời gian” :

 

Rơi

           như tiếng sỏi

                                        trong lòng giếng cạn

            Riêng những câu thơ

                        còn xanh

            Riêng những bài hát

                       còn xanh

             Và đôi mắt em

                       như hai giếng nước.

 Thời gian – Văn Cao  

 

Gió ù ù đi qua họng súng thần công

Tiếng chuông chùa đi thủng thỉnh trong không

Áo em trắng đi từ xa vắng lại

Thời gian đi xám mặt đỉnh đồng

Đi ngang thành nội- Nguyễn Duy

 

Không phải chim ảo

Con chim thời gian

Để lại những dấu chân thật thà

Gương mặt đàn bà

Nhầu nhĩ

 

Chim thời gian

Như đại bàng cắp nàng trái đất

Vừa bay vừa dẫm nát mặt người

Rạn gương mặt Tây Thi

Nứt gương mặt Dương Quý Phi

Con chim

Ăn sắc đẹp đàn bà…

           Con chim thời gian – Nguyễn Thị Ánh Huỳnh

 

***  Nhà phê bình viết “Đoàn Phú Tứ chỉ làm có dăm bảy bài mà hầu hết là những bài có đặc sắc”. Chúng tôi xin dẫn ra hai bài của Đoàn Phú Tứ để mọi người xem đặc sắc  đến mức nào.

 

Ánh Trăng

Tác giả: Đoàn Phú Tứ

Mải miết đường đời đã bấy lâu,
Biếng nhìn trăng cũ muốn quên sầu;
Đêm nay bỗng thấy bên song ngõ
Một ánh xanh mờ thoáng tự đâu,
Leo lét gợi khêu tình quá vãng,
Lòng thơ bao xiết nỗi thương đau;
Vung chăn toan rũ màn đen tối,
Mắt lệ đờ trong vành ngọc cao.

 

Ti

Tác giả: Đoàn Phú Tứ

``Vật mình tức tối mộng không xong''

Nhắm mắt ôm vùi chiếc gối bông,
Bâng khuâng tìm giấc phấn hương nồng;
Phấn hương chưa ủ tình yêu lạnh,
Em chết ! Trời ơi ! Anh tủi lòng...

 

 Bài đọc trong Hội thảo về Đoàn Phú Tứ 2015.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm