TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Mấy điều bất thường xung quanh bài thơ “Màu thời gian” của Đoàn Phú Tứ

Mấy điều bất thường xung quanh bài thơ “Màu thời gian” của Đoàn Phú Tứ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-09-12 22:16:04
mail facebook google pos stwis
1964 lượt xem

Vũ Nho     

Không phải vì tác giả là người viết kịch, có duy nhất một bài thơ được chọn vào sách “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh và Hoài Chân, mà bài thơ này có tính bất thường. Trong sách của Hoài Thanh và Hoài Chân có những tác giả sau chỉ có một bài : Thúc Tề, Đoàn Phú Tứ, Vân Đài, Phan Khắc Khoan, Thâm Tâm, Phan Thanh Phước, Hằng Phương, Mộng Huyền. Có hai tác giả được nói đến mà không trích bài nào trọn vẹn là T.T.KH, và Trần Huyền Trân. Vậy thì bài thơ của Đoàn Phú Tứ bất thường ở chỗ nào?

Nhà thơ Đoàn Phú Tứ

Trước hết, tuy Đoàn Phú Tứ chỉ được trích một bài thơ, nhưng trong phần tiểu luận “Một thời đại trong thi ca”, Hoài Thanh và Hoài Chân đã dành không ít dòng cho tác giả cùng với bài thơ. Ba lần nhắc đến Đoàn Phú Tứ và thơ của ông.

“ Tiếp  theo đó, Phong hóa luôn luôn đăng thơ mới của Tứ Ly, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Văn Kiện, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, Huy Thông” ( Thi nhân Việt Nam, nxb Văn Học, Hà Nội 1988, tr. 16).

 “Cái kín đáo của thơ Pháp gần đây tôi còn thấy ở Đoàn Phú Tứ” ( Sách đã dẫn, tr. 27).

“ Nói tóm lại, phong trào thơ mới đã vứt đi nhiều khuôn phép xưa, song cũng nhiều khuôn phép nhân đó sẽ thêm bền vững. Hẳn tương lai còn dành nhiều vinh quang cho những khuôn phép này. Nó đã qua được một cơn sóng gió dữ dội trong khi các khuôn phép mới xuất hiện đều bị tiêu trầm như thơ tự do, thơ mười chữ, thơ mười hai chữ hay đương sắp sửa tiêu trầm như những cách gieo vần phỏng theo thơ Pháp” (2)

Những dòng dưới đây là chú thích cho chỗ đánh số 2:

“ Tiếng ta có bằng trắc rõ ràng. Nhiều khi chỉ đổi thanh cũng đủ không cần vần. Đọc mấy câu này của Đoàn Phú Tứ :

Duyên trăm năm đứt đoạn

Tình một thuở còn hương

Hương thời gian thanh thanh

Màu thời gian tím ngát

Có ai ngờ là những câu không vần. Còn như  trong mấy câu này của Xuân Diệu:

          Đây, dây thơ e ấp đã lâu rồi

          Chìm trong cỏ một vườn hoa bỏ vắng

          (Lòng tôi đó một vườn hoa cháy nắng)

          Xin lòng người mở cửa ngó lòng tôi

Giá thay chữ “tôi” cuối câu thứ tư bằng một chữ gì khác không dấu đọc lên vẫn êm. Đại khái gieo vần phỏng theo thơ Pháp đều thừa như thế, mà lắm khi lại còn làm mất cả âm điệu bài thơ”. (Sách đã dẫn, tr. 41)

Thứ hai, chỉ có bài thơ “Màu thời gian” của Đoàn Phú Tứ là có nhiều chú đến như vậy. Toàn bài không tính nhan đề có 18 dòng thơ chia làm 5 khổ thì có 10 chú  giải chia cho  nhan đề 1, khổ thứ nhất 1; khổ thứ hai 2; khổ thứ ba 2; khổ thứ tư 3; khổ thứ năm 1. Mười chú giải này chiếm hơn một trang. Trong khi lời bình cũng chỉ dài non một trang mà thôi.

Thứ ba, duy nhất trong cuốn Thi nhân Việt Nam, tác giả dành lời bình cho một bài thơ cụ thể. Còn lại tất cả chỉ là những nhận xét cho câu thơ, hình ảnh thơ hoặc bài thơ, giọng điệu thơ. Phần nhiều những nhận xét đặc sắc, tinh tế của người có tài thẩm bình khái quát.

Cũng chỉ có bài “Màu thời gian” mới có hai thao tác cùng phối hợp là CHÚ trước và BÌNH sau. Phải chăng đây là gợi ý cho sau này trong nhà trường phổ thông miền Bắc những năm 60 có một kiểu lên lớp không phải là “giảng văn” mà chỉ là “bình chú”, một kiểu tìm hiểu tác phẩm thơ dành nhiều đất cho sự phóng khoáng của người dạy.

Thứ tư, tác giả của Thi nhân Việt Nam đặc biệt dành những lời khen ngợi trân trọng (hiếm khi gặp) cho  nhà thơ Đoàn Phú Tứ dù chỉ trích một bài. Trong những dòng nói về tác giả, hai nhà phê bình đánh giá: “Làm thơ rất ít. […] Nhưng thơ hay không cần nhiều. Đoàn Phú Tứ chỉ làm có dăm bảy bài mà hầu hết là những bài có đặc sắc. Ấy là một lối thơ rất tinh tế và rất kín đáo. Thi nhân ghi lại bằng những nét mong manh những cảm giác rất nhẹ nhàng”. (sách đã dẫn tr. 98). Phải thẳng thắn mà nói rằng lời bình của Hoài Thanh và Hoài Chân khá bình thường, không có gì nổi bật và đặc sắc. Chỉ có tình thần khen ngợi là nổi trội và rõ ràng (dù cũng đã gài vào cả ý không khen): “Thành ra ý thơ, lời thơ, điệu thơ cùng với hồn thi nhân đi từ hiện tại về quá khứ, từ quá khứ gần đến quá khứ xa, rồi dần dần trở về hiện tại. Hiện tại chỉ mờ mờ nhạt nhạt, nhưng càng đi xa về quá khứ, câu thơ càng thiết tha, càng rực rỡ. Nhất là từ chỗ ngũ ngôn chuyển sang thất ngôn câu thơ đẹp vô cùng. Tôi tưởng dầu không hiểu ý nghĩa bài thơ người ta cũng không thể không nhận thấy cái vẻ huy hoàng, trang trọng của câu thơ. Trong thơ ta có lẽ không có bài nào khác tinh tế và kín đáo như thế

( sách đã dẫn, tr.101).

Thứ năm, sau này khi Đoàn Phú Tứ chủ trương cùng nhóm Xuân Thu nhã tập, bài thơ lại được in lại, được phổ nhạc như một minh chứng cho mong muốn cách tân thơ.  Nhưng suy cho cùng cuộc canh tân thơ ca của nhóm cũng chỉ mới là đưa ra lí thuyết. Bài thơ có ý nghĩa như một minh họa cùng với những câu thơ của Nguyễn Xuân Sanh  sau này được nhắc đến như một sự kì cục, bí hiểm trong thể hiện “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà...” (*)

Gần đây, chúng tôi thấy một loạt các bài viết về bài thơ  “Màu thời gian” này. Tinh thần là đề cao, coi như là thành tựu của một mong muốn đổi mới thơ. Bài thơ xuất hiện cùng thơ mới, nhưng đã vượt qua thơ mới để đi  đến một lối thơ khác.[ Có thể đọc các bài viết của Trần Thị Quỳnh Thuận : Văn chương Đoàn Phú Tứ: một xác tín thẩm mỹ thời văn học mới; Chế Diễm Trâm : Tím ngát màu thời gian;  Nguyễn Thanh Tâm :"Màu thời gian" - "Bông sáng tạo dâng lên bàn thờ đạo" (Một diễn giải về thơ từ đặc trưng loại hình);…].

Dù có những bất thường như vậy, chúng tôi cho rằng bài thơ này cũng bình thường thôi. Nếu không chú, không bỏ công đề cao như Hoài Thanh đã làm thì vị tất người ta đã để ý và ca ngợi. Ngay cả Hoài Thanh, ông cũng phải thừa nhận: “Người xem thơ cũng biết rằng đây là hình ảnh một đôi mẩu đời, nhưng hình ảnh mờ quá không thể đoán  những mẩu đời kia ra thế nào. Có khi cả ý nghĩa bài thơ cũng không hiểu rõ” (Sách đã dẫn, tr. 98). Bài thơ có mấy câu không vần nhưng độc đáo, diễn tả thời gian, một thứ vô hình thành ra cụ thể, có màu, có hương. Trong khi đó, nhưng thi liệu và từ ngữ dùng lại quá cũ. Chẳng hạn :  xuân tìnhTần phi, Tóc mây một món chiếc dao vàng/ Ngàn trùng e lệ phụng quân vương/…Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng.

Tóm lại, dù có nhiều điểm  bất thường, nhưng  chúng ta nên trả lại sự bình thường cho bài thơ này. Không nên đề quá cao bài thơ “Màu thời gian”, dù cho nó được làm bởi một người sau này chủ trương cách tân thơ của nhóm Xuân Thu nhã tập, dù cho nó được nhà phê bình hết sức ca ngợi và đánh gía bằng biệt nhãn. (* *)

         

Đôi điều nói thêm

Trong quá trình tìm hiểu bài thơ “Màu thời gian”, chúng tôi xem trong VOV5  một chương trình giới thiệu thơ Đoàn Phú Tứ và Trần Huyền Trân ( ngày 11/12/2012). Sau khi trích đọc lời nhận xét của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam, nghệ sĩ Thanh Thủy ngâm bài thơ “Màu thời gian” theo thể lục bát như sau:

          Cuộc đời có hững hờ đâu

          Trên đầu tôi đã điểm màu thời gian

           Thời gian xanh lại hoe vàng

          Thời gian xám đục ngỡ ngàng màu sương

          Mỗi lần tôi đứng trước gương

          Nhìn thời gian thấy bước đường đã qua

          Tại mình hay tại người ta

          Tự dưng tay nhổ gọi là tóc sâu

          Sợi  vương  sợi bạc sợi sầu

          Từ từ rơi xuống nỗi đau chia lìa

          Thời gian buồn tím tái tê

          Chỉ mình mình biết mình về mình thôi

Chúng tôi không chắc đây có phải là Màu thời gian  khác nữa của tác giả Đoàn Phú Tứ. Bài trong Thi nhân Việt Nam có vẻ khó hiểu, “mờ mờ nhân ảnh” nặng những thi liệu cổ thì bài này lại dễ dãi, diễn nôm.  Nếu quả đây là một bài khác của tác giả họ Đoàn thì cũng chẳng có gì  thật đặc sắc.(***)

 

Hà Nội 12/9/2014

V.N

 

* Đoạn thơ thường hay được trích của Nguyễn Xuân Sanh:

Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi

Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y

Rượu hát bầu vàng cung ướp hương

Ngón hường say tóc nhạc trầm mi

Lẵng xuân

Bờ giũ trái xuân sa

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà...”

 

** Chúng tôi tuy không đề quá cao bài thơ xét về chất lượng, nhưng đánh giá cao việc cố gắng của tác giả tìm chất thơ trong “thời gian”. Đặc biệt là đã nói về màu và hương của thời gian.  Trước đó, trong văn học dân gian Việt Nam, thời gian chỉ là vấn đề dài - ngắn, nhanh- chậm (Đời người có một gang tay/ Ai hay ngủ ngày còn  lại nửa gang. Hoặc Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng/ Ngày tháng mười chưa cười đã tối). Trong văn học trung đại, thời gian cũng được đo đếm theo tinh thần đó. Thời gian như bóng câu qua cửa sổ. Thời gian như chớp mắt. Thời gian như giấc mộng kê vàng. Với Nguyễn Du và một số nhà thơ khác thì còn có thời gian tâm lí: Ba thu dọn lại một ngày dài ghêNgày vui ngắn chẳng tày gang. Hoặc Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại.  Hầu như chưa có ai đặt vấn đề màu và hương thời gian. Điều này chắc chắn có  thể sẽ mở đường hoặc  gợi ý để Văn Cao, Nguyễn Duy, Nguyễn Thị Ánh Huỳnh,… viết  về “Thời gian” :

 

Rơi

           như tiếng sỏi

                                        trong lòng giếng cạn

            Riêng những câu thơ

                        còn xanh

            Riêng những bài hát

                       còn xanh

             Và đôi mắt em

                       như hai giếng nước.

 Thời gian – Văn Cao  

 

Gió ù ù đi qua họng súng thần công

Tiếng chuông chùa đi thủng thỉnh trong không

Áo em trắng đi từ xa vắng lại

Thời gian đi xám mặt đỉnh đồng

Đi ngang thành nội- Nguyễn Duy

 

Không phải chim ảo

Con chim thời gian

Để lại những dấu chân thật thà

Gương mặt đàn bà

Nhầu nhĩ

 

Chim thời gian

Như đại bàng cắp nàng trái đất

Vừa bay vừa dẫm nát mặt người

Rạn gương mặt Tây Thi

Nứt gương mặt Dương Quý Phi

Con chim

Ăn sắc đẹp đàn bà…

           Con chim thời gian – Nguyễn Thị Ánh Huỳnh

 

***  Nhà phê bình viết “Đoàn Phú Tứ chỉ làm có dăm bảy bài mà hầu hết là những bài có đặc sắc”. Chúng tôi xin dẫn ra hai bài của Đoàn Phú Tứ để mọi người xem đặc sắc  đến mức nào.

 

Ánh Trăng

Tác giả: Đoàn Phú Tứ

Mải miết đường đời đã bấy lâu,
Biếng nhìn trăng cũ muốn quên sầu;
Đêm nay bỗng thấy bên song ngõ
Một ánh xanh mờ thoáng tự đâu,
Leo lét gợi khêu tình quá vãng,
Lòng thơ bao xiết nỗi thương đau;
Vung chăn toan rũ màn đen tối,
Mắt lệ đờ trong vành ngọc cao.

 

Ti

Tác giả: Đoàn Phú Tứ

``Vật mình tức tối mộng không xong''

Nhắm mắt ôm vùi chiếc gối bông,
Bâng khuâng tìm giấc phấn hương nồng;
Phấn hương chưa ủ tình yêu lạnh,
Em chết ! Trời ơi ! Anh tủi lòng...

 

 Bài đọc trong Hội thảo về Đoàn Phú Tứ 2015.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm