TIN TỨC

Minh Đan, buộc sự lặng thinh vào khung cửa nhỏ...

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-07-20 18:57:59
mail facebook google pos stwis
2029 lượt xem

NGÔ ĐỨC HÀNH

“Phút bù giờ” là tập thơ của một tác giả trẻ. Hẳn nhiên cách đọc phải trẻ. Các bài thơ trong tập đều thể tự do, phá cách về cấu, tứ... Minh Đan đã có nhiều cố gắng, trở về với “cái tôi” bản ngã để hiểu hơn cuộc đời phía ngoài kia.

Tôi chưa gặp Minh Đan ngoài đời, chỉ là bạn xã hội với một người có nick (tài khoản) Lọ Lem Đất Võ. Và nữa, biết chị là Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh. “Cô bé Lọ lem” là câu chuyện cổ tích về một cô gái không may mắn, trở thành vợ hoàng tử, đó là phần thưởng chiến thắng ở cuộc đời cho những tấm lòng. Còn “Đất võ”, tôi hiểu ý nói đến quê hương Bình Định.

Khi biết Minh Đan, tôi hơi “choáng”, bởi nằm lòng câu ca: “Ai về Bình Định mà coi / Con gái Bình Định múa roi đi quyền”. Tôi nghĩ, chắc thơ cũng dễ “nổi loạn”, phản kháng.

Và rồi, duyên thơ gặp duyên đời. Minh Đan gửi tặng tôi tập thơ “Phút bù giờ”. Bấy giờ tôi mới biết “Lọ lem” rời quê hương lập nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh. Tập thơ gây cho tôi sự chú ý, dù không chủ định như quy luật trong tâm lý học. Trong bóng đá, phút bù giờ thì hồi hộp lắm, vừa dài, vừa quá ngắn. Nhịp tim của huấn luận viên trưởng thường là đập nhanh nhất và rất nguy hiểm. Trong hoan lạc, phối ngẫu... “phút bù giờ” hay “hiệp phụ” cũng đầy nhạy cảm. Hoặc là thăng hoa hoặc thất vọng, ngoài ý muốn.

Và rồi, tôi thấy thú vị, dẫu công việc liên miên, bản thân không may bị tai nạn giao thông, chấn thương sọ não, do vậy chưa đọc được. Hôm nay mới bắt đầu đọc, sau khi đã hồi phục 90%. Ơn giời!

Tôi có đọc Tựa do nhà văn Nguyễn Quang Vinh viết, có một nhận định làm tôi chú ý: “Thơ phải viết trước hết cho mình, rồi viết cho người, rồi viết cho cả cuộc đời này, đó là thơ lớn từ một trái tim cảm xúc lớn...” (trang 6). Hẳn nhiên, câu này viết cho nhiều người, nó thuộc về nhận định “kinh điển”.

Minh Đan là nhà thơ trẻ nhưng sớm bộc lộ “cá tính” thơ, ngay tên bài thơ, ngôn ngữ thơ, phá cách tìm xu hướng. Bao trùm lên chính là chủ đề về nữ quyền, một tập thơ đầy hương vị đàn bà, tất nhiên trước hết thơm mùi Minh Đan. “Người cũ” là một bài thơ, có tính “đại diện”.

Trai gái yêu nhau, thành hôn, sinh con đẻ cái, thực hiện thiên chức với tổ tiên, nòi giống; nhưng ai đã yêu mới ngộ, con đường đến với hạnh phúc biết bao vật vã. Không lấy được nhau, vì nguyên nhân nào đó, cũng không thể hết “vật vã” siêu hình, nhất là mối tình đầu, sâu nặng.

“Mối tình đầu đã qua/ Không bao giờ trở lại/ Nhưng còn nỗi xót xa/ Như gió mùa thổi mãi”, chắc chắn những người sinh từ năm 1980 của thế kỷ trước trở về trước đều thuộc bài thơ “Mối tình đầu” của nhà thơ Nga Yesenin. Chính cuộc đời tác giả là một chuỗi những bi kịch, trong đó có bi kịch tình yêu.

Vì sao tôi nói đến thế hệ 1980 trở về trước? Thời đó, nam thanh nữ tú yêu nhau còn trọng cảm xúc, những điều thiêng liêng của tình yêu được nâng niu như báu vật. Chính nhạc sỹ Thuận Yến trong một ca khúc đã viết: “Chưa dám hôn nhau/ Chưa lời thổ lộ/ Mà sao hơi thở như là của nhau/ Chưa nắm tay nhau/ Chưa ngồi sát lại/ Mà sao năm tháng như là của nhau” (Ca khúc: Tình yêu không lời).

Minh Đan là người trẻ, nâng niu cảm xúc yêu. Riêng điều này đã là sự khác biệt, “em người cũ rồi sao?”. Nhân vật “em” trong “người cũ” luyến nhớ, khổ đau, tự hỏi mình, chất vấn “anh” và tự chất vấn mình. Hai người yêu nhau đã từng rất hạnh phúc “hạnh phúc giòn tan bánh tránh dừa thơm mùi quê nẫu”.

Bình Định, quê hương của nhiều văn nhân nổi tiếng. “Bình Định dừa xanh ôm bóng tháp Chàm” (thơ Xuân Diệu). Vùng quê này có rất nhiều đặc sản từ quả dừa, cốt dừa, trong đó có bánh tráng dừa. Nhưng mà “thơm mùi quê nẫu” thì tình yêu chín lắm rồi. “Nẫu” có thể là tính từ, đại từ; nhưng trong trường hợp này là tính từ. Chín lắm rồi. Nhưng tôi thích hiểu trong trường hợp nẫu ruột nẫu gan, buồn phiền không nói ra được... Thế mới hiểu sự phát triển tâm lý, cung bậc cảm xúc của “em” trong bài thơ này.

Một bi kịch của cuộc tình đã xảy ra khi “anh có đôi mắt khác không phải là em”, dẫu “anh” đã “săn tìm hạnh phúc dọc ngang đời em”. Khi yêu, người con gái tôn thờ hạnh phúc, dâng hiến cho người mình yêu, nhưng rất quan tâm đến cảm xúc. Điều này, không mấy vị nam giới để ý. Đàn ông dễ đoảng, dễ hời hợt, họ “giếng thơi” đấy nhưng thực tế là “nông nổi”. “anh săn tìm hạnh phúc dọc ngang đời em”. Có thể “anh” đã “no xôi chán chè” hoặc có “đôi mắt khác” làm lú lẫn. Không thể dối được. Thường khi yêu, yêu thật lòng, người nữ, ở đây là “em” đọc rất nhanh các “tiết tấu” của “bản giao hưởng yêu”. “Môi hôn tựa chuồn chuồn lướt nước”, không có gì thất vọng bằng, nếu phải nhận những nụ hôn giao đãi, nụ hôn “đại đoàn kết”, không bằng tất cả thao thức, chờ đợi.

“Những cơn say chẳng thể nào giấu được / cơn tỉnh bàng hoàng dốc ngược vết đau”, “em” rất dễ rơi vào trầm cảm. Thế nhưng, “em hát khẽ cho riêng mình nghe…/đủ”. Đây là hai câu chân lý của nhận thức, triết lý của cuộc đời, ngay cả trong tình yêu. “Sống biết đủ” (lời Phật), biết đủ luôn là hạnh phúc. Người biết đủ là người giàu có và hạnh phúc nhất, đó là thông điệp của “người cũ”. Nếu trước đây, khi ngã lòng Phùng Quán biết vịn vào thơ đứng dậy, thì “em” đứng dậy, ngẫng cao đầu khi biết đủ.

 “Phút bù giờ” (NXB Hội Nhà văn, quý 4/2021, gồm 36 bài thơ) được tách ra các phần theo chủ đề, như “Khâu múi giờ”, “Phố trôi”, “Ghi chép vụn vặt mùa COVID”, “Nước mắt xé trời”, “Lương tâm cô đơn”. Trong đề từ trước tập thơ, Minh Đan viết: “Đài cao chín tầng bắt đầu bằng một hòn đất/ Đường xa ngàn dặm bắt đầu bằng một bước chân/ Giấc mơ của tôi bắt đầu bằng câu thơ/ Viết từ dòng máu nóng”. Không có gì lạ, khi tập thơ mang đầy thân phận, sẻ chia thân phận. Hay nói cách khác, tập thơ từ một cực đến lưỡng cực, từ lưỡng cực trở về một cực.

Phần “Khâu múi nhớ” gồm 12 bài. Đây có thể được coi là những thi phẩm viết cho nỗi đau đàn bà, những người nhiều khi bị sự ruồng rẫy của may mắn trong một xã hội vẫn thờ phụng định kiến, bình đẳng giới chưa được giải phóng. “Mẹ đơn thân”, “Người cũ”, “Đêm vỡ”, “Em đàn bà không cần tình nhân”... là những bài thơ thơm nhân vị đau khổ.

Cùng với sự phát triển của xã hội, nền văn học hiện đại Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều nhà thơ nữ tài năng. Họ viết về giới họ, dần dần manh nha nên dòng văn học nữ quyền. Theo TS. Hồ Tiểu Ngọc, từ các hoạt động nữ quyền thuộc làn sóng thứ nhất, cuộc đấu tranh liên tục phát triển thành làn sóng thứ hai, thứ ba và tiếp tục cho đến tận ngày nay. Theo bà, cuộc đấu tranh này diễn ra đồng thời trên mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó, văn học nghệ thuật là lĩnh vực có thành tựu và hiệu ứng đáng kể theo đặc trưng ngôn ngữ, hình tượng và tư tưởng thẩm mỹ, nhân văn riêng biệt.

Nhân vật “em” của Minh Đan từ hạnh phúc đến thất vọng; từ thất vọng đến đổ vỡ. “em người đàn bà không cần tình nhân” đến sự lựa chọn “sống với riêng em” là xác tín về sự khảng khái; xác tín lựa chọn hạnh phúc không giống như số đông.

đôi khi cần một mối quan hệ không rõ ràng, không giấy khai sinh

những đến, đi không tròn lời hẹn ước

không dối gian sau nụ hôn ràng buộc

xanh mãi một miền thơ

(Sống với riêng em)

bao lần khiêu vũ trong mưa

tự nâng bước mình qua ngày giông gió

thăng hoa với cô đơn

(Em đàn bà không cần tình nhân)

Ngoài đời Minh Đan là người đàn bà bé nhỏ, có đôi mắt vời vợi nhưng bên trong có một tâm hồn rộng lớn, trái tim đập nhịp nhân thế. “Ám ảnh tôi là cơn đói ùa về trên đôi môi khô khát của em, đôi mắt dại đi trong đêm mà thân tôi bất lực... Biết thế, nhưng sự sống vẫn phải tiếp diễn, gắn liền với mỗi số phận, đôi khi không có lựa chọn”, Minh Đan đề từ, trước khi bắt đầu phần “Phố trôi” – thơ tặng trẻ em đường phố.

“Cầm mưa/ nghĩ về đứa trẻ/ tiếng khóc thành sông, tiếng gào thành sấm/ lụt ở đáy lòng/ công viên chật một chỗ nằm/ em trải đời vui bên thảm cỏ/ sũng ướt nụ cười/ sũng ướt hy vọng/ sũng ướt vầng trăng mùa hạ/ sự ấm bỗng thành điều khao khát lớn” (Mưa). Hiện thực đời sống trong bài thơ này, rất dễ gặp nếu ai biết quan sát, để ý Sài Gòn những mùa mưa.

cầm mọi thứ trên đời

sợ hãi nhiều hơn khát vọng

tôi cầm lòng mình qua bão, sóng thần

bằng câu thơ lóng ngóng: “đời thật như chiêm bao”

(Mưa)

 

Chắc chắn, đó là “chiêm bao” ám ảnh. Nhà thơ bất lực, câu thơ trở nên “lóng ngóng”, tuy nhiên sự ám ảnh hiện thực tạo nên vẻ đẹp mỹ học trong cơn “mưa” đời. Biết đâu đến một ngày nào đó, ở các đô thị lớn không còn những người vô gia cư, những đứa trẻ buộc phải rời tổ ấm, ném mình vào mưa bão cuộc đời để kiếm sống? Đó là giấc mơ thánh thiện, sau giấc mơ ám ảnh, dễ bắt gặp, nhói lòng.

Phút bù giờ” là tập thơ của một tác giả trẻ. Hẳn nhiên cách đọc phải trẻ. Các bài thơ trong tập đều thể tự do, phá cách về cấu, tứ... trong thời đại cảm xúc tích hợp. Minh Đan đã có nhiều cố gắng, trở về với “cái tôi” bản ngã để hiểu cuộc đời. “Thử thách tôi đi”, “Tôi ngã vào tôi”... là những bài thơ có tiếng vọng đa thanh.

Lại một đêm không ngủ/ đêm dài trên những ngón tay” (Tôi ngã vào tôi). Người làm thơ luôn sống cùng cô đơn, sở hữu cô đơn, lấy cô đơn làm vẻ đẹp, hiển nhiên, mất ngủ luôn hiện diện trên tác phẩm.

Điều đau đớn nhất là

không còn nhận ra tiếng Người

giữa những thân quen

tôi buộc sự lặng thinh vào khung cửa nhỏ

ngắm thiên hạ múa cọ

màu tranh xấu hổ

(Ý niệm)

Trong “Phút bù giờ” có phần “Lương tâm cô đơn” gồm 6 bài. “Tôi cháy trên từng trang thơ, bằng trách nhiệm và lương tâm, bằng niềm tin chưa bao giờ ngơi nghỉ là nguyện mong những điều tốt đẹp, hạnh phúc nhất cho dân, cho đất nước”, Minh Đan viết. Tôi gọi đây là phần thơ “2 trong 1” vừa thế sự, vừa thân phận; vừa vĩnh cửu vừa hiện sinh ngay trong một tác phẩm như “Sông trôi”,“Phận người trên sông Pô Kô”,“Lời cầu cứu”...

Minh Đan từng ao ước: “ước mình là viên đá cuội/ thanh thản ngồi tĩnh lặng ngắm trời cao” (Thức tỉnh). Chắc nhiều người ao ước như chị? Nhưng không, “trời đày”, chị phải tiếp tục lên tiếng vì cái đẹp, trên những trang viết.

 (Theo Thời báo Văn học Nghệ thuật – Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm