TIN TỨC

Minh Đan, buộc sự lặng thinh vào khung cửa nhỏ...

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-07-20 18:57:59
mail facebook google pos stwis
1781 lượt xem

NGÔ ĐỨC HÀNH

“Phút bù giờ” là tập thơ của một tác giả trẻ. Hẳn nhiên cách đọc phải trẻ. Các bài thơ trong tập đều thể tự do, phá cách về cấu, tứ... Minh Đan đã có nhiều cố gắng, trở về với “cái tôi” bản ngã để hiểu hơn cuộc đời phía ngoài kia.

Tôi chưa gặp Minh Đan ngoài đời, chỉ là bạn xã hội với một người có nick (tài khoản) Lọ Lem Đất Võ. Và nữa, biết chị là Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh. “Cô bé Lọ lem” là câu chuyện cổ tích về một cô gái không may mắn, trở thành vợ hoàng tử, đó là phần thưởng chiến thắng ở cuộc đời cho những tấm lòng. Còn “Đất võ”, tôi hiểu ý nói đến quê hương Bình Định.

Khi biết Minh Đan, tôi hơi “choáng”, bởi nằm lòng câu ca: “Ai về Bình Định mà coi / Con gái Bình Định múa roi đi quyền”. Tôi nghĩ, chắc thơ cũng dễ “nổi loạn”, phản kháng.

Và rồi, duyên thơ gặp duyên đời. Minh Đan gửi tặng tôi tập thơ “Phút bù giờ”. Bấy giờ tôi mới biết “Lọ lem” rời quê hương lập nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh. Tập thơ gây cho tôi sự chú ý, dù không chủ định như quy luật trong tâm lý học. Trong bóng đá, phút bù giờ thì hồi hộp lắm, vừa dài, vừa quá ngắn. Nhịp tim của huấn luận viên trưởng thường là đập nhanh nhất và rất nguy hiểm. Trong hoan lạc, phối ngẫu... “phút bù giờ” hay “hiệp phụ” cũng đầy nhạy cảm. Hoặc là thăng hoa hoặc thất vọng, ngoài ý muốn.

Và rồi, tôi thấy thú vị, dẫu công việc liên miên, bản thân không may bị tai nạn giao thông, chấn thương sọ não, do vậy chưa đọc được. Hôm nay mới bắt đầu đọc, sau khi đã hồi phục 90%. Ơn giời!

Tôi có đọc Tựa do nhà văn Nguyễn Quang Vinh viết, có một nhận định làm tôi chú ý: “Thơ phải viết trước hết cho mình, rồi viết cho người, rồi viết cho cả cuộc đời này, đó là thơ lớn từ một trái tim cảm xúc lớn...” (trang 6). Hẳn nhiên, câu này viết cho nhiều người, nó thuộc về nhận định “kinh điển”.

Minh Đan là nhà thơ trẻ nhưng sớm bộc lộ “cá tính” thơ, ngay tên bài thơ, ngôn ngữ thơ, phá cách tìm xu hướng. Bao trùm lên chính là chủ đề về nữ quyền, một tập thơ đầy hương vị đàn bà, tất nhiên trước hết thơm mùi Minh Đan. “Người cũ” là một bài thơ, có tính “đại diện”.

Trai gái yêu nhau, thành hôn, sinh con đẻ cái, thực hiện thiên chức với tổ tiên, nòi giống; nhưng ai đã yêu mới ngộ, con đường đến với hạnh phúc biết bao vật vã. Không lấy được nhau, vì nguyên nhân nào đó, cũng không thể hết “vật vã” siêu hình, nhất là mối tình đầu, sâu nặng.

“Mối tình đầu đã qua/ Không bao giờ trở lại/ Nhưng còn nỗi xót xa/ Như gió mùa thổi mãi”, chắc chắn những người sinh từ năm 1980 của thế kỷ trước trở về trước đều thuộc bài thơ “Mối tình đầu” của nhà thơ Nga Yesenin. Chính cuộc đời tác giả là một chuỗi những bi kịch, trong đó có bi kịch tình yêu.

Vì sao tôi nói đến thế hệ 1980 trở về trước? Thời đó, nam thanh nữ tú yêu nhau còn trọng cảm xúc, những điều thiêng liêng của tình yêu được nâng niu như báu vật. Chính nhạc sỹ Thuận Yến trong một ca khúc đã viết: “Chưa dám hôn nhau/ Chưa lời thổ lộ/ Mà sao hơi thở như là của nhau/ Chưa nắm tay nhau/ Chưa ngồi sát lại/ Mà sao năm tháng như là của nhau” (Ca khúc: Tình yêu không lời).

Minh Đan là người trẻ, nâng niu cảm xúc yêu. Riêng điều này đã là sự khác biệt, “em người cũ rồi sao?”. Nhân vật “em” trong “người cũ” luyến nhớ, khổ đau, tự hỏi mình, chất vấn “anh” và tự chất vấn mình. Hai người yêu nhau đã từng rất hạnh phúc “hạnh phúc giòn tan bánh tránh dừa thơm mùi quê nẫu”.

Bình Định, quê hương của nhiều văn nhân nổi tiếng. “Bình Định dừa xanh ôm bóng tháp Chàm” (thơ Xuân Diệu). Vùng quê này có rất nhiều đặc sản từ quả dừa, cốt dừa, trong đó có bánh tráng dừa. Nhưng mà “thơm mùi quê nẫu” thì tình yêu chín lắm rồi. “Nẫu” có thể là tính từ, đại từ; nhưng trong trường hợp này là tính từ. Chín lắm rồi. Nhưng tôi thích hiểu trong trường hợp nẫu ruột nẫu gan, buồn phiền không nói ra được... Thế mới hiểu sự phát triển tâm lý, cung bậc cảm xúc của “em” trong bài thơ này.

Một bi kịch của cuộc tình đã xảy ra khi “anh có đôi mắt khác không phải là em”, dẫu “anh” đã “săn tìm hạnh phúc dọc ngang đời em”. Khi yêu, người con gái tôn thờ hạnh phúc, dâng hiến cho người mình yêu, nhưng rất quan tâm đến cảm xúc. Điều này, không mấy vị nam giới để ý. Đàn ông dễ đoảng, dễ hời hợt, họ “giếng thơi” đấy nhưng thực tế là “nông nổi”. “anh săn tìm hạnh phúc dọc ngang đời em”. Có thể “anh” đã “no xôi chán chè” hoặc có “đôi mắt khác” làm lú lẫn. Không thể dối được. Thường khi yêu, yêu thật lòng, người nữ, ở đây là “em” đọc rất nhanh các “tiết tấu” của “bản giao hưởng yêu”. “Môi hôn tựa chuồn chuồn lướt nước”, không có gì thất vọng bằng, nếu phải nhận những nụ hôn giao đãi, nụ hôn “đại đoàn kết”, không bằng tất cả thao thức, chờ đợi.

“Những cơn say chẳng thể nào giấu được / cơn tỉnh bàng hoàng dốc ngược vết đau”, “em” rất dễ rơi vào trầm cảm. Thế nhưng, “em hát khẽ cho riêng mình nghe…/đủ”. Đây là hai câu chân lý của nhận thức, triết lý của cuộc đời, ngay cả trong tình yêu. “Sống biết đủ” (lời Phật), biết đủ luôn là hạnh phúc. Người biết đủ là người giàu có và hạnh phúc nhất, đó là thông điệp của “người cũ”. Nếu trước đây, khi ngã lòng Phùng Quán biết vịn vào thơ đứng dậy, thì “em” đứng dậy, ngẫng cao đầu khi biết đủ.

 “Phút bù giờ” (NXB Hội Nhà văn, quý 4/2021, gồm 36 bài thơ) được tách ra các phần theo chủ đề, như “Khâu múi giờ”, “Phố trôi”, “Ghi chép vụn vặt mùa COVID”, “Nước mắt xé trời”, “Lương tâm cô đơn”. Trong đề từ trước tập thơ, Minh Đan viết: “Đài cao chín tầng bắt đầu bằng một hòn đất/ Đường xa ngàn dặm bắt đầu bằng một bước chân/ Giấc mơ của tôi bắt đầu bằng câu thơ/ Viết từ dòng máu nóng”. Không có gì lạ, khi tập thơ mang đầy thân phận, sẻ chia thân phận. Hay nói cách khác, tập thơ từ một cực đến lưỡng cực, từ lưỡng cực trở về một cực.

Phần “Khâu múi nhớ” gồm 12 bài. Đây có thể được coi là những thi phẩm viết cho nỗi đau đàn bà, những người nhiều khi bị sự ruồng rẫy của may mắn trong một xã hội vẫn thờ phụng định kiến, bình đẳng giới chưa được giải phóng. “Mẹ đơn thân”, “Người cũ”, “Đêm vỡ”, “Em đàn bà không cần tình nhân”... là những bài thơ thơm nhân vị đau khổ.

Cùng với sự phát triển của xã hội, nền văn học hiện đại Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều nhà thơ nữ tài năng. Họ viết về giới họ, dần dần manh nha nên dòng văn học nữ quyền. Theo TS. Hồ Tiểu Ngọc, từ các hoạt động nữ quyền thuộc làn sóng thứ nhất, cuộc đấu tranh liên tục phát triển thành làn sóng thứ hai, thứ ba và tiếp tục cho đến tận ngày nay. Theo bà, cuộc đấu tranh này diễn ra đồng thời trên mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó, văn học nghệ thuật là lĩnh vực có thành tựu và hiệu ứng đáng kể theo đặc trưng ngôn ngữ, hình tượng và tư tưởng thẩm mỹ, nhân văn riêng biệt.

Nhân vật “em” của Minh Đan từ hạnh phúc đến thất vọng; từ thất vọng đến đổ vỡ. “em người đàn bà không cần tình nhân” đến sự lựa chọn “sống với riêng em” là xác tín về sự khảng khái; xác tín lựa chọn hạnh phúc không giống như số đông.

đôi khi cần một mối quan hệ không rõ ràng, không giấy khai sinh

những đến, đi không tròn lời hẹn ước

không dối gian sau nụ hôn ràng buộc

xanh mãi một miền thơ

(Sống với riêng em)

bao lần khiêu vũ trong mưa

tự nâng bước mình qua ngày giông gió

thăng hoa với cô đơn

(Em đàn bà không cần tình nhân)

Ngoài đời Minh Đan là người đàn bà bé nhỏ, có đôi mắt vời vợi nhưng bên trong có một tâm hồn rộng lớn, trái tim đập nhịp nhân thế. “Ám ảnh tôi là cơn đói ùa về trên đôi môi khô khát của em, đôi mắt dại đi trong đêm mà thân tôi bất lực... Biết thế, nhưng sự sống vẫn phải tiếp diễn, gắn liền với mỗi số phận, đôi khi không có lựa chọn”, Minh Đan đề từ, trước khi bắt đầu phần “Phố trôi” – thơ tặng trẻ em đường phố.

“Cầm mưa/ nghĩ về đứa trẻ/ tiếng khóc thành sông, tiếng gào thành sấm/ lụt ở đáy lòng/ công viên chật một chỗ nằm/ em trải đời vui bên thảm cỏ/ sũng ướt nụ cười/ sũng ướt hy vọng/ sũng ướt vầng trăng mùa hạ/ sự ấm bỗng thành điều khao khát lớn” (Mưa). Hiện thực đời sống trong bài thơ này, rất dễ gặp nếu ai biết quan sát, để ý Sài Gòn những mùa mưa.

cầm mọi thứ trên đời

sợ hãi nhiều hơn khát vọng

tôi cầm lòng mình qua bão, sóng thần

bằng câu thơ lóng ngóng: “đời thật như chiêm bao”

(Mưa)

 

Chắc chắn, đó là “chiêm bao” ám ảnh. Nhà thơ bất lực, câu thơ trở nên “lóng ngóng”, tuy nhiên sự ám ảnh hiện thực tạo nên vẻ đẹp mỹ học trong cơn “mưa” đời. Biết đâu đến một ngày nào đó, ở các đô thị lớn không còn những người vô gia cư, những đứa trẻ buộc phải rời tổ ấm, ném mình vào mưa bão cuộc đời để kiếm sống? Đó là giấc mơ thánh thiện, sau giấc mơ ám ảnh, dễ bắt gặp, nhói lòng.

Phút bù giờ” là tập thơ của một tác giả trẻ. Hẳn nhiên cách đọc phải trẻ. Các bài thơ trong tập đều thể tự do, phá cách về cấu, tứ... trong thời đại cảm xúc tích hợp. Minh Đan đã có nhiều cố gắng, trở về với “cái tôi” bản ngã để hiểu cuộc đời. “Thử thách tôi đi”, “Tôi ngã vào tôi”... là những bài thơ có tiếng vọng đa thanh.

Lại một đêm không ngủ/ đêm dài trên những ngón tay” (Tôi ngã vào tôi). Người làm thơ luôn sống cùng cô đơn, sở hữu cô đơn, lấy cô đơn làm vẻ đẹp, hiển nhiên, mất ngủ luôn hiện diện trên tác phẩm.

Điều đau đớn nhất là

không còn nhận ra tiếng Người

giữa những thân quen

tôi buộc sự lặng thinh vào khung cửa nhỏ

ngắm thiên hạ múa cọ

màu tranh xấu hổ

(Ý niệm)

Trong “Phút bù giờ” có phần “Lương tâm cô đơn” gồm 6 bài. “Tôi cháy trên từng trang thơ, bằng trách nhiệm và lương tâm, bằng niềm tin chưa bao giờ ngơi nghỉ là nguyện mong những điều tốt đẹp, hạnh phúc nhất cho dân, cho đất nước”, Minh Đan viết. Tôi gọi đây là phần thơ “2 trong 1” vừa thế sự, vừa thân phận; vừa vĩnh cửu vừa hiện sinh ngay trong một tác phẩm như “Sông trôi”,“Phận người trên sông Pô Kô”,“Lời cầu cứu”...

Minh Đan từng ao ước: “ước mình là viên đá cuội/ thanh thản ngồi tĩnh lặng ngắm trời cao” (Thức tỉnh). Chắc nhiều người ao ước như chị? Nhưng không, “trời đày”, chị phải tiếp tục lên tiếng vì cái đẹp, trên những trang viết.

 (Theo Thời báo Văn học Nghệ thuật – Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm