TIN TỨC

Một tình thơ đằm thắm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-30 09:04:00
mail facebook google pos stwis
1955 lượt xem

PHẠM VÂN ANH

Nếu dùng một câu để nhận xét về nhà thơ Trần Thị Nương, với tôi có lẽ không gì xác đáng hơn khi nói chị là một nữ thi sỹ đôn hậu với hồn thơ nhạy cảm, tràn ngập tình yêu cuộc sống.

Gần chị, có cảm giác lúc nào cũng được cộng hưởng sự nhiệt thành, thấu cảm của một người mẹ, một người chị trong một nhà giáo, nhà báo, nhà thơ đã qua biết bao thăng trầm của cuộc sống cùng những trải nghiệm bằng ngôn ngữ thi ca mà không phải ai cũng có được. Nên khi cầm trên tay tuyển thơ chọn lọc có tựa đề rất gợi là “Men lửa” của chị, tôi hoàn toàn đắm mình trong dòng thi cảm cuộn chảy chưa từng ngơi nghỉ suốt trên 50 năm đam mê với nghề cầm bút. Trên 700 bài thơ ở nhiều đề tài, thể loại khác nhau song điểm chung là tình cảm chân phương, sâu sắc, giản dị mà lắng đọng, không quá cầu kỳ về hình thức, cách tân nhưng lại đạt được sự rung cảm bởi được viết từ tài hoa và tình yêu văn chương đích thực của tác giả.

Tôi đã thực sự bất ngờ khi chứng kiến “gia tài văn chương” khá đồ sộ của chị với 16 tập thơ và 1 tập bút ký. Với những cái tên chị đặt cũng rất gợi như “Đừng đánh mất, Cánh buồm ngọn gió, Giếng khát, Tiếng gọi từ trăng núi, Bão không mùa, Sóng khát, Trầu thơm cau đắng, Biển không bao giờ lẻ, Hương mạy may…”. Điều đó cho thấy nữ thi sĩ với thiên chức sáng tạo của mình đã dành nhiều thời gian để làm việc một cách nghiêm cẩn và tận hiến. Như Giáo sư Hà Minh Đức đã viết trong cuốn “Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại” như sau: “Thơ ca chân chính luôn là tiếng nói yêu thương, là lời ca chiến đấu, giàu ước mơ và khát vọng, có thể nói các tác phẩm của Trần Thị Nương đều hướng tới những giá trị nhân bản của cuộc sống, của con người. Hẳn là vì thế mà các tập thơ của chị đều có sức thuyết phục. Chị đã đạt 14 giải thưởng Văn học Nghệ thuật ở Trung ương và địa phương.

Một yếu tố then chốt góp phần gây tác động đến người đọc là ngữ âm và nhịp điệu, sự hàm xúc và tính triết lý nhân sinh trong thơ Trần Thị Nương dù chị ít khi sử dụng thủ pháp “lạ hóa” trong văn bản thơ của mình. Nhiều tác phẩm giàu liên tưởng dân gian, có chứa nhiều điển tích, phương ngữ độc đáo. Vì thế mà làm cho sự cảm thụ thơ chị trở nên gần gũi với bạn đọc. Dù có sở trường về thơ lục bát song chị cũng không ngại “thay áo mới cho thơ” với nhiều thể nghiệm khác nhau. Cách nhấn nhá, xuống dòng thơ hay luyến láy vần điệu ở hầu hết các bài thơ đều nhằm mục đích tạo nên tứ thơ, hình tượng thơ mà chị hướng đến. Từ các chi tiết, câu chuyện, thông điệp gửi gắm trong mỗi bài thơ đều được chị thái nghén qua độ chín của cảm xúc, qua sự lĩnh hội của lý trí và rồi thể hiện qua thơ bằng thứ ngôn ngữ thơ chắt lọc. Đọc những bài thơ chị viết về miền núi, biên giới, về vùng trung du Bắc Bộ hay quê hương Phú Thọ của chị, từ trang giấy với những con chữ được cấu tứ thanh nhẹ, không gồng mình khoe chữ hoặc rối rắm thủ pháp, có thể nhắm mặt và cảm nhận về những miền đất sóng sánh thơm như tảng mật ong rừng.

Tôi thực sự thích thú khi đọc thơ chị theo vệt đề tài và theo hướng liên văn bản, nghĩa là khi đọc tự mình có tư duy kết nối thi tứ của nhiều tác phẩm. Đơn cử như khi đọc Hồn làng, Trầu biếc, Giếng chùa, Ở phía bên này, Mưa rơi miền Đất Tổ, Tình anh – cao nguyên, Ngườm ngao, Bên sông Kỳ cùng, Về Tây Nguyên, Gọi mãi Điện Biên, Tìm em giữa hội xòe, Nhịp đập thảo nguyên… theo hướng tiếp cận này, tôi dường như thấy trong thơ chị hiển hiện mạch đập của cuộc sống đó là: người dân hối hả trên nương, dưới ruộng cho kịp mùa gặt rộ, le lói bóng áo hoa đỏ rực, áo xanh đằm thắm. Những trảng lúa vàng, những vạt bắp sữa hòa trong sắc xanh của núi rừng phủ kín đồng bãi hay những dòng sông, dáng núi bao bọc cuộc sống và tâm hồn của dân tộc Việt. Có lẽ chính nhờ thế, tôi nhận ra rằng, chị đã rất thành công khi cho ta sức gợi những hình dung về một bình địa lắng sâu trầm tích văn hóa bản địa của đất Tổ nhưng đầy khoáng đạt với sắc thái sơn cước cửa ngõ biên khu hoài chứa trong mình trùng trùng trầm tích.

Trong miền ký ức của chị, ta dễ dàng đồng cảm với “Quê tôi nặng tình nặng nghĩa/ trong từng lá cỏ non tươi” hay cùng chị đau đáu nhớ về quê hương, nguồn cội. “Có phải anh là núi Tản/ Mùa qua vết cắt nảy mầm/ Yêu em hóa thành đàn đá/ Một đời thăm thẳm vang ngân” (Núi nhớ).  Trong chị, những sự vật, hiện tượng rất đỗi thường nhật cũng được thơ hóa một cách dung dị nhưng có sức cộng hưởng đến người đọc. Đơn cử như tiếng điếu cày và hương thuốc lào cũng đã trở nên thật khác biệt qua câu thơ của chị: “Từ khi về thành phố mới/ Rưng rưng nghe tiếng điếu cày/ Ai kéo núi non gần lại/ Tình người thêm đượm thêm say/…/Bâng khuâng điếu cày ai hút/ Chạm vào tôi mối tình quê” (Tiếng điều cày). Chị có những câu thơ ấn tượng về đề tài này như “Hun hút đồng xưa đâu dáng núi/ Hăm hở gió sương giục trâu cày/Bão lũ trớ trêu… oằn vai mẹ/ Hồn làng vời vợi cánh con bay(Hồn làng).

Là một phụ nữ đôn hậu, nên Trần Thị Nương luôn dành những tình cảm nồng ấm cho mọi mối quan hệ mà chị gọi đó là “duyên đời” ban tặng. Dù là bạn bè, đồng nghiệp, gia đình hay tình yêu nam nữ, chị hết thảy đều trân trọng và lặng lẽ vun đắp. Vì thế, hoàn toàn dễ hiểu khi thơ tình là mảng đề tài chiếm tỷ lệ lớn trong các sáng tác của chị, biểu lộ một tâm hồn mãnh liệt, một con tim đắm say và một tinh thần đầy lạc quan. Yêu đến độ: “Trái tim em tù trong nỗi nhớ/ Muối không vò xót tận trong tâm” hay “Nếu phải lặn xuống biển/ Nếu phải bay lên trời/ Người qua cơn hoạn nạn/ Tôi sẵn lòng quên tôi” và sẵn sàng “Nếu được chết/ Để đời anh hết khổ/ Xin trời/ Em được chết anh ơi!” và “Tháng năm dù sụt lở/ Mình vẫn hồi sinh nhau” … khiến những người trẻ, có tư duy khá “thoáng” như tôi cũng phải giật mình.

Trong thơ chị giầu lòng nhân ái, bởi chị đã xác tín được: “Niềm tin như nắng mai/ Ngời ngời trên mặt đất/ Cuộc đời thi vị nhất/ Khi chúng mình tin nhau!” (Niềm tin) và “Núi nặng tình sông/ hạt nhớ tích hương/ người thương tích đức/ Duyên kỳ ngộ/ nằm mơ chẳng được/ cái nhìn đầu tiên rất lạ trong đời” (Mặt trời xanh). Chị khẳng định “Không có con đường nào không có lối đi/ Không có đại dương nào không dễ vượt/ Đêm giá lạnh ngàn lần vẫn là đêm không lạnh/ Tin yêu thành lửa thắp trong nhau” (Cất sóng). Tin vào những điều lành, tin vào sự bền bỉ của yêu thương sẽ có xoa dịu mọi đau thương, buồn nản, vượt lên mọi chướng ngại vật giữa đời thường: “Trên bức tường mảnh chai/ Dây bầu xanh than thản…/ Mảnh vỡ sinh ra từ vỏ nào rỗng tuếch?/ Dây bầu sinh ra từ đất mẹ xửa xưa…/ Mảnh chai nhọn hoắt. Hoa cười hồn nhiên/ Đom đóm bay qua bức tường mảnh chai/ Gặp dây bầu bật lên thành đốm lửa/ Đàn chim bay qua bức tường mảnh chai/ Gặp dây bầu hát lên thành cung bậc/ Mặt trời đi qua bức tường mảnh chai trổ những nụ trắng ngần hóa thành dây ánh sáng…/ Trên bức tường mảnh chai cứa vào không gian/ Dây bầu ung dung trĩu quả…” (Trên bức tường mảnh chai).

Và còn đó cả những câu thơ dịu nhẹ như ban mai khiến trái tim tôi mềm lại. Bởi chị luôn tôn thờ tình yêu bằng những nỗi niềm thanh khiết nên thơ của chị cũng vì thế mà đầy tinh tế: “Ngày anh sang nắng vô tình dát ngọc/ Chiếc mũ người cầm hay lá sen thơm/…/Có phải tình yêu là ngọn đuốc/ Cháy tận cùng trong mắt người yêu” (Thiên thần tình yêu) và “Bao nhiêu khuyết để một rằm/ Dư ba ghềnh thác nghìn năm một ngày” (Lặng nghe). Niềm yêu trong chị rất thực và rất thơ: “Khát nhau như khát nước lành/ Mà vờ trốn chạy vòng quanh cả đời/ Sương sa thấm bạc kiếp người/ Vài giây phút đợi mấy đời chờ mong” (Nhật thực). “Bóng hình ai cất ngăn riêng/ Mà con tim thức đập nghiêng chợ tình”(Lời yêu chưa tròn). Là người từng ruổi rong khắp mọi miền biên viễn, tôi vô cùng thú vị trước phát hiện của chị: “Núi mềm như lụa nghiêng câu hát/ Đậu xuống vành môi thuở dại khờ/… Núi cười ngà ngọc xanh mùa bắp/ Rút ruột đại ngàn quên nắng mưa”.

Người đàn bà làm thơ ấy có những câu thơ như rỉ máu nhưng cũng đầy bản ngã và nghị lực phi thường: “Anh đừng “chém” em mà nhức rễ vàng cành/ Em có phải là cây đâu để đem về làm củi/ Anh đừng “vạc’” em như trúc rừng nhiệt đới/ Em có rỗng đâu mà làm sáo trưa hè/ Em chỉ là hạt cát dưới lòng khe/ Trôi từ núi qua đường mỏm thác/ Hạt cát âm thầm bên vồng khoai luống mật/ Sống cùng cỏ rơm nghe lúa trổ đóng đòng/ Em chỉ là hạt cát quãng đường cong/ Giáp vịnh rồi nên bờ em phải thế…/ Hạt cát em hóa thân trên chảo lửa/ Ngô nổ rồi… Em vẫn cát mà anh…” (Em vẫn cát mà anh). Và cũng có khi thuần hậu, đầy tận hiến trong men tình: “Em khoan đá gọi mạch trong/ Anh men núi thẳm hứng long lanh giời/ Thoáng buồn anh thoắt tìm vui/ Em tâm giao với đất trời dịu êm/ Đau anh – nén khúc đàn đêm/ Đau em – Nhỏ máu chữ miền nhân gian…” (Cung bậc).

Không chỉ có thế mạnh ở đề tài tình yêu, dọc qua hàng trăm tác phẩm của Trần Thị Nương, mới thấy phẩm giá nhà thơ – công dân của chị cũng rất đáng trân trọng. Trong “Biên độ của trí tưởng tượng”, nhà phê bình Đông La khẳng định “Thơ ca không chỉ tạo nên sự xúc động, sự khoái cảm, sự tâm đắc mà còn gợi lên những suy tư, trăn trở, ý thức trách nhiệm lớn lao đối với đồng loại”. Ta có thể nhận rõ điều này qua nhiều thi phẩm của chị như: “Chớp thời gian như thực như mơ/ Dấu vết Liễu Thăng/ Còn nguyên ải Bắc…/ Sông cuộn sống/ Trào dâng thời đánh giặc/ Nuôi niềm tin/ Ngút ngát đôi bờ..” (Bên sông Kỳ Cùng) hay “Đất nước ơi!/ Con yêu Người như Mẹ/ Xích lại những khoảng đời/ Từng tích tắc xuân sang” (Mắt lá). Chị tri ân và đồng cảm với những người dấn thân vì độc lập, tự do và bình yên cho Tổ quốc: “Tâm nhang quặn trước mộ Người/ Rưng rưng nghĩa Nước – mạch đời mang theo/ Biển trời linh thẳm… dương reo/ Lê-ki-ma nở ngát chiều thời gian” (Chị Sáu)“Mai đi giữ miền biên giới/ Đem theo biển thẳm lên ngàn/ Có trái tim người đỉnh núi/ Đêm ngày gọi mãi Nha Trang” (Gọi mãi Nha Trang)

Chậm rãi đọc và cảm nhận tình thơ, hồn thơ Trần Thị Nương qua bút pháp đầy biểu cảm và gửi gắm tình yêu cuộc sống của chị, tôi dường như được tỉnh thức về nhiều vấn đề trong cuộc sống cũng như sứ mệnh của người viết. Cái “dây bầu” Trần Thị Nương chính là một “dây ánh sáng” mở lối cho chị trên con đường văn chương đầy nhọc nhằn và đòi hỏi sự trăn trở sáng tạo không ngừng. Dường như nhận thức rất rõ điều ấy, Trần Thị Nương tâm niệm “Đời trao ta làm  Chức Người cao quí. Ta trao đời lẽ sống, niềm tin. Thứ lộc vàng biết trao và biết nhận… Thanh thoát diệu kỳ giữa cung bậc mùa Đông”. Sức mạnh nội tâm và khát vọng hiến dâng cho tình yêu, cho cái đẹp và thơ ca đã giúp chị “Tháng năm gieo chữ âm thầm/ Li ti… nuôi cả mạch ngầm đất đai (Có một cánh đồng) dù cũng có lúc băn khoăn “Rừng bao cây gọi rừng thưa/ Giấy bao nhiêu chữ cho vừa nhân gian?” (Cầu vồng sau mưa).

“Men lửa” – Tập thơ chọn lọc trong đời người cầm bút. Đọc và ngẫm, ta gặp nữ sỹ Trần Thị Nương, gặp đời trong thơ – một tình yêu nồng nàn như thế.

(Rút từ phần II - Những bài viết về thơ Trần Thị Nương trong tập Men lửa).

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm