TIN TỨC

Một tình thơ đằm thắm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-30 09:04:00
mail facebook google pos stwis
2033 lượt xem

PHẠM VÂN ANH

Nếu dùng một câu để nhận xét về nhà thơ Trần Thị Nương, với tôi có lẽ không gì xác đáng hơn khi nói chị là một nữ thi sỹ đôn hậu với hồn thơ nhạy cảm, tràn ngập tình yêu cuộc sống.

Gần chị, có cảm giác lúc nào cũng được cộng hưởng sự nhiệt thành, thấu cảm của một người mẹ, một người chị trong một nhà giáo, nhà báo, nhà thơ đã qua biết bao thăng trầm của cuộc sống cùng những trải nghiệm bằng ngôn ngữ thi ca mà không phải ai cũng có được. Nên khi cầm trên tay tuyển thơ chọn lọc có tựa đề rất gợi là “Men lửa” của chị, tôi hoàn toàn đắm mình trong dòng thi cảm cuộn chảy chưa từng ngơi nghỉ suốt trên 50 năm đam mê với nghề cầm bút. Trên 700 bài thơ ở nhiều đề tài, thể loại khác nhau song điểm chung là tình cảm chân phương, sâu sắc, giản dị mà lắng đọng, không quá cầu kỳ về hình thức, cách tân nhưng lại đạt được sự rung cảm bởi được viết từ tài hoa và tình yêu văn chương đích thực của tác giả.

Tôi đã thực sự bất ngờ khi chứng kiến “gia tài văn chương” khá đồ sộ của chị với 16 tập thơ và 1 tập bút ký. Với những cái tên chị đặt cũng rất gợi như “Đừng đánh mất, Cánh buồm ngọn gió, Giếng khát, Tiếng gọi từ trăng núi, Bão không mùa, Sóng khát, Trầu thơm cau đắng, Biển không bao giờ lẻ, Hương mạy may…”. Điều đó cho thấy nữ thi sĩ với thiên chức sáng tạo của mình đã dành nhiều thời gian để làm việc một cách nghiêm cẩn và tận hiến. Như Giáo sư Hà Minh Đức đã viết trong cuốn “Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại” như sau: “Thơ ca chân chính luôn là tiếng nói yêu thương, là lời ca chiến đấu, giàu ước mơ và khát vọng, có thể nói các tác phẩm của Trần Thị Nương đều hướng tới những giá trị nhân bản của cuộc sống, của con người. Hẳn là vì thế mà các tập thơ của chị đều có sức thuyết phục. Chị đã đạt 14 giải thưởng Văn học Nghệ thuật ở Trung ương và địa phương.

Một yếu tố then chốt góp phần gây tác động đến người đọc là ngữ âm và nhịp điệu, sự hàm xúc và tính triết lý nhân sinh trong thơ Trần Thị Nương dù chị ít khi sử dụng thủ pháp “lạ hóa” trong văn bản thơ của mình. Nhiều tác phẩm giàu liên tưởng dân gian, có chứa nhiều điển tích, phương ngữ độc đáo. Vì thế mà làm cho sự cảm thụ thơ chị trở nên gần gũi với bạn đọc. Dù có sở trường về thơ lục bát song chị cũng không ngại “thay áo mới cho thơ” với nhiều thể nghiệm khác nhau. Cách nhấn nhá, xuống dòng thơ hay luyến láy vần điệu ở hầu hết các bài thơ đều nhằm mục đích tạo nên tứ thơ, hình tượng thơ mà chị hướng đến. Từ các chi tiết, câu chuyện, thông điệp gửi gắm trong mỗi bài thơ đều được chị thái nghén qua độ chín của cảm xúc, qua sự lĩnh hội của lý trí và rồi thể hiện qua thơ bằng thứ ngôn ngữ thơ chắt lọc. Đọc những bài thơ chị viết về miền núi, biên giới, về vùng trung du Bắc Bộ hay quê hương Phú Thọ của chị, từ trang giấy với những con chữ được cấu tứ thanh nhẹ, không gồng mình khoe chữ hoặc rối rắm thủ pháp, có thể nhắm mặt và cảm nhận về những miền đất sóng sánh thơm như tảng mật ong rừng.

Tôi thực sự thích thú khi đọc thơ chị theo vệt đề tài và theo hướng liên văn bản, nghĩa là khi đọc tự mình có tư duy kết nối thi tứ của nhiều tác phẩm. Đơn cử như khi đọc Hồn làng, Trầu biếc, Giếng chùa, Ở phía bên này, Mưa rơi miền Đất Tổ, Tình anh – cao nguyên, Ngườm ngao, Bên sông Kỳ cùng, Về Tây Nguyên, Gọi mãi Điện Biên, Tìm em giữa hội xòe, Nhịp đập thảo nguyên… theo hướng tiếp cận này, tôi dường như thấy trong thơ chị hiển hiện mạch đập của cuộc sống đó là: người dân hối hả trên nương, dưới ruộng cho kịp mùa gặt rộ, le lói bóng áo hoa đỏ rực, áo xanh đằm thắm. Những trảng lúa vàng, những vạt bắp sữa hòa trong sắc xanh của núi rừng phủ kín đồng bãi hay những dòng sông, dáng núi bao bọc cuộc sống và tâm hồn của dân tộc Việt. Có lẽ chính nhờ thế, tôi nhận ra rằng, chị đã rất thành công khi cho ta sức gợi những hình dung về một bình địa lắng sâu trầm tích văn hóa bản địa của đất Tổ nhưng đầy khoáng đạt với sắc thái sơn cước cửa ngõ biên khu hoài chứa trong mình trùng trùng trầm tích.

Trong miền ký ức của chị, ta dễ dàng đồng cảm với “Quê tôi nặng tình nặng nghĩa/ trong từng lá cỏ non tươi” hay cùng chị đau đáu nhớ về quê hương, nguồn cội. “Có phải anh là núi Tản/ Mùa qua vết cắt nảy mầm/ Yêu em hóa thành đàn đá/ Một đời thăm thẳm vang ngân” (Núi nhớ).  Trong chị, những sự vật, hiện tượng rất đỗi thường nhật cũng được thơ hóa một cách dung dị nhưng có sức cộng hưởng đến người đọc. Đơn cử như tiếng điếu cày và hương thuốc lào cũng đã trở nên thật khác biệt qua câu thơ của chị: “Từ khi về thành phố mới/ Rưng rưng nghe tiếng điếu cày/ Ai kéo núi non gần lại/ Tình người thêm đượm thêm say/…/Bâng khuâng điếu cày ai hút/ Chạm vào tôi mối tình quê” (Tiếng điều cày). Chị có những câu thơ ấn tượng về đề tài này như “Hun hút đồng xưa đâu dáng núi/ Hăm hở gió sương giục trâu cày/Bão lũ trớ trêu… oằn vai mẹ/ Hồn làng vời vợi cánh con bay(Hồn làng).

Là một phụ nữ đôn hậu, nên Trần Thị Nương luôn dành những tình cảm nồng ấm cho mọi mối quan hệ mà chị gọi đó là “duyên đời” ban tặng. Dù là bạn bè, đồng nghiệp, gia đình hay tình yêu nam nữ, chị hết thảy đều trân trọng và lặng lẽ vun đắp. Vì thế, hoàn toàn dễ hiểu khi thơ tình là mảng đề tài chiếm tỷ lệ lớn trong các sáng tác của chị, biểu lộ một tâm hồn mãnh liệt, một con tim đắm say và một tinh thần đầy lạc quan. Yêu đến độ: “Trái tim em tù trong nỗi nhớ/ Muối không vò xót tận trong tâm” hay “Nếu phải lặn xuống biển/ Nếu phải bay lên trời/ Người qua cơn hoạn nạn/ Tôi sẵn lòng quên tôi” và sẵn sàng “Nếu được chết/ Để đời anh hết khổ/ Xin trời/ Em được chết anh ơi!” và “Tháng năm dù sụt lở/ Mình vẫn hồi sinh nhau” … khiến những người trẻ, có tư duy khá “thoáng” như tôi cũng phải giật mình.

Trong thơ chị giầu lòng nhân ái, bởi chị đã xác tín được: “Niềm tin như nắng mai/ Ngời ngời trên mặt đất/ Cuộc đời thi vị nhất/ Khi chúng mình tin nhau!” (Niềm tin) và “Núi nặng tình sông/ hạt nhớ tích hương/ người thương tích đức/ Duyên kỳ ngộ/ nằm mơ chẳng được/ cái nhìn đầu tiên rất lạ trong đời” (Mặt trời xanh). Chị khẳng định “Không có con đường nào không có lối đi/ Không có đại dương nào không dễ vượt/ Đêm giá lạnh ngàn lần vẫn là đêm không lạnh/ Tin yêu thành lửa thắp trong nhau” (Cất sóng). Tin vào những điều lành, tin vào sự bền bỉ của yêu thương sẽ có xoa dịu mọi đau thương, buồn nản, vượt lên mọi chướng ngại vật giữa đời thường: “Trên bức tường mảnh chai/ Dây bầu xanh than thản…/ Mảnh vỡ sinh ra từ vỏ nào rỗng tuếch?/ Dây bầu sinh ra từ đất mẹ xửa xưa…/ Mảnh chai nhọn hoắt. Hoa cười hồn nhiên/ Đom đóm bay qua bức tường mảnh chai/ Gặp dây bầu bật lên thành đốm lửa/ Đàn chim bay qua bức tường mảnh chai/ Gặp dây bầu hát lên thành cung bậc/ Mặt trời đi qua bức tường mảnh chai trổ những nụ trắng ngần hóa thành dây ánh sáng…/ Trên bức tường mảnh chai cứa vào không gian/ Dây bầu ung dung trĩu quả…” (Trên bức tường mảnh chai).

Và còn đó cả những câu thơ dịu nhẹ như ban mai khiến trái tim tôi mềm lại. Bởi chị luôn tôn thờ tình yêu bằng những nỗi niềm thanh khiết nên thơ của chị cũng vì thế mà đầy tinh tế: “Ngày anh sang nắng vô tình dát ngọc/ Chiếc mũ người cầm hay lá sen thơm/…/Có phải tình yêu là ngọn đuốc/ Cháy tận cùng trong mắt người yêu” (Thiên thần tình yêu) và “Bao nhiêu khuyết để một rằm/ Dư ba ghềnh thác nghìn năm một ngày” (Lặng nghe). Niềm yêu trong chị rất thực và rất thơ: “Khát nhau như khát nước lành/ Mà vờ trốn chạy vòng quanh cả đời/ Sương sa thấm bạc kiếp người/ Vài giây phút đợi mấy đời chờ mong” (Nhật thực). “Bóng hình ai cất ngăn riêng/ Mà con tim thức đập nghiêng chợ tình”(Lời yêu chưa tròn). Là người từng ruổi rong khắp mọi miền biên viễn, tôi vô cùng thú vị trước phát hiện của chị: “Núi mềm như lụa nghiêng câu hát/ Đậu xuống vành môi thuở dại khờ/… Núi cười ngà ngọc xanh mùa bắp/ Rút ruột đại ngàn quên nắng mưa”.

Người đàn bà làm thơ ấy có những câu thơ như rỉ máu nhưng cũng đầy bản ngã và nghị lực phi thường: “Anh đừng “chém” em mà nhức rễ vàng cành/ Em có phải là cây đâu để đem về làm củi/ Anh đừng “vạc’” em như trúc rừng nhiệt đới/ Em có rỗng đâu mà làm sáo trưa hè/ Em chỉ là hạt cát dưới lòng khe/ Trôi từ núi qua đường mỏm thác/ Hạt cát âm thầm bên vồng khoai luống mật/ Sống cùng cỏ rơm nghe lúa trổ đóng đòng/ Em chỉ là hạt cát quãng đường cong/ Giáp vịnh rồi nên bờ em phải thế…/ Hạt cát em hóa thân trên chảo lửa/ Ngô nổ rồi… Em vẫn cát mà anh…” (Em vẫn cát mà anh). Và cũng có khi thuần hậu, đầy tận hiến trong men tình: “Em khoan đá gọi mạch trong/ Anh men núi thẳm hứng long lanh giời/ Thoáng buồn anh thoắt tìm vui/ Em tâm giao với đất trời dịu êm/ Đau anh – nén khúc đàn đêm/ Đau em – Nhỏ máu chữ miền nhân gian…” (Cung bậc).

Không chỉ có thế mạnh ở đề tài tình yêu, dọc qua hàng trăm tác phẩm của Trần Thị Nương, mới thấy phẩm giá nhà thơ – công dân của chị cũng rất đáng trân trọng. Trong “Biên độ của trí tưởng tượng”, nhà phê bình Đông La khẳng định “Thơ ca không chỉ tạo nên sự xúc động, sự khoái cảm, sự tâm đắc mà còn gợi lên những suy tư, trăn trở, ý thức trách nhiệm lớn lao đối với đồng loại”. Ta có thể nhận rõ điều này qua nhiều thi phẩm của chị như: “Chớp thời gian như thực như mơ/ Dấu vết Liễu Thăng/ Còn nguyên ải Bắc…/ Sông cuộn sống/ Trào dâng thời đánh giặc/ Nuôi niềm tin/ Ngút ngát đôi bờ..” (Bên sông Kỳ Cùng) hay “Đất nước ơi!/ Con yêu Người như Mẹ/ Xích lại những khoảng đời/ Từng tích tắc xuân sang” (Mắt lá). Chị tri ân và đồng cảm với những người dấn thân vì độc lập, tự do và bình yên cho Tổ quốc: “Tâm nhang quặn trước mộ Người/ Rưng rưng nghĩa Nước – mạch đời mang theo/ Biển trời linh thẳm… dương reo/ Lê-ki-ma nở ngát chiều thời gian” (Chị Sáu)“Mai đi giữ miền biên giới/ Đem theo biển thẳm lên ngàn/ Có trái tim người đỉnh núi/ Đêm ngày gọi mãi Nha Trang” (Gọi mãi Nha Trang)

Chậm rãi đọc và cảm nhận tình thơ, hồn thơ Trần Thị Nương qua bút pháp đầy biểu cảm và gửi gắm tình yêu cuộc sống của chị, tôi dường như được tỉnh thức về nhiều vấn đề trong cuộc sống cũng như sứ mệnh của người viết. Cái “dây bầu” Trần Thị Nương chính là một “dây ánh sáng” mở lối cho chị trên con đường văn chương đầy nhọc nhằn và đòi hỏi sự trăn trở sáng tạo không ngừng. Dường như nhận thức rất rõ điều ấy, Trần Thị Nương tâm niệm “Đời trao ta làm  Chức Người cao quí. Ta trao đời lẽ sống, niềm tin. Thứ lộc vàng biết trao và biết nhận… Thanh thoát diệu kỳ giữa cung bậc mùa Đông”. Sức mạnh nội tâm và khát vọng hiến dâng cho tình yêu, cho cái đẹp và thơ ca đã giúp chị “Tháng năm gieo chữ âm thầm/ Li ti… nuôi cả mạch ngầm đất đai (Có một cánh đồng) dù cũng có lúc băn khoăn “Rừng bao cây gọi rừng thưa/ Giấy bao nhiêu chữ cho vừa nhân gian?” (Cầu vồng sau mưa).

“Men lửa” – Tập thơ chọn lọc trong đời người cầm bút. Đọc và ngẫm, ta gặp nữ sỹ Trần Thị Nương, gặp đời trong thơ – một tình yêu nồng nàn như thế.

(Rút từ phần II - Những bài viết về thơ Trần Thị Nương trong tập Men lửa).

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm