TIN TỨC
  • Truyện
  • Mùa moan nở – Truyện ngắn Lê Đình Trung

Mùa moan nở – Truyện ngắn Lê Đình Trung

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-08 22:33:38
mail facebook google pos stwis
1747 lượt xem

Cỏ moan có lá thon dẹp màu xanh nhạt, cạnh lá có những cái răng cưa be bé có thể làm chảy máu nếu cứa vào da.

Sông Sương bốn mùa luôn đầy nước – thứ nước chẳng trong xanh như mọi con sông khác mà nhờ nhợ một màu đỏ quạch. Nhờ phù sa sông Sương bồi đắp mà những luống bắp, bãi khoai của xóm Lèn luôn xanh ngút tầm mắt. Ở cái xóm nhỏ biệt lập trên mô đất giữa lòng sông, người ta không biết ai là người đầu tiên đến đây, cũng chẳng biết cái tên Lèn từ đâu mà có. Chỉ biết một điều: cái mô đất nhỏ này vô cùng rộng lượng. Nó cưu mang đủ mọi cảnh đời.

Dù người ta lặng lẽ đến với những vết thương lòng để lánh đời hay ồn ã với khát vọng đổi đời, nó đều đón nhận. Để rồi khi vết thương lành, khi giấc mơ giàu sang thành hiện thực hoặc tan vỡ, họ bỏ nó ra đi, xóm Lèn vẫn nhẹ nhàng vỗ những con sóng ì oạp chia tay. Cuối cùng, bám trụ lại nơi xóm nhỏ đìu hiu là vỏn vẹn hai mươi nóc nhà.

Ông già bó gối ngồi thu lu trong chiếc lán kê dưới cây sung cổ thụ với phần thân đổ nghiêng về mé sông. Ánh mắt ông bần thần nhìn về phía dòng nước đang lặng lờ chảy. Gió thổi từng cơn làm mớ tóc trắng lưa thưa của người đàn ông tuổi bát tuần bay phất phơ trong gió. Bên cạnh ông là tờ báo nhàu nát mới được đứa cháu đi thị trấn mua về, mang ra cho ông lúc đem cơm tối. Trước khi rời đi, thằng nhóc hỏi ông già:

– Hay thôi ông vào bờ với cha con cháu, chứ để người ta nói…

Xóm Lèn từng một thời nổi tiếng khắp vùng với giống cá trắm trứ danh. Thời đó, người dân làng trên xóm dưới nô nức kéo về xóm Lèn dựng bè, làm lồng thả cá. Giống cá này chẳng xa lạ gì nhưng chỉ mỗi ở xóm Lèn, cá mới đen tuyền, thịt chắc nịch và không hề bị tanh như ở những nơi khác.

Ngày ấy, những chuyến đò chở người từ thị trấn về xóm Lèn lấy cá, rồi người xóm Lèn đi thị trấn mua hàng hóa cứ nườm nượp hai bên bờ sông Sương. Dù đến tận bốn, năm người lái đò mà người ta vẫn cứ phải chen chúc nhau mới có chỗ. Ông già làm nghề lái đò từ cái thời ấy, tính ra cũng ngót nghét gần 30 năm.

Bên bờ sông Sương có một loại cỏ dại mọc tua tủa từng bãi đan xen nhau thành những tấm thảm xanh rộng lớn. Mùa xuân, loại cỏ này nở những bông hoa trắng li ti rung rinh trong những cơn mưa phùn. Người dân xóm Lèn gọi loại cỏ này là moan. Cỏ moan có lá thon dẹp màu xanh nhạt, cạnh lá có những cái răng cưa be bé có thể làm chảy máu nếu cứa vào da. Ngoài làm thức ăn cho cá, chúng không còn công dụng gì khác. Người dân xóm Lèn từng đau đầu tìm cách phá bỏ cỏ moan nhưng đành bất lực trước khả năng sinh sôi và phát triển của nó. Có người nói cỏ moan như người dân xóm Lèn – tuy mỏng manh nhưng cứ bám lấy nhau mà sống kiên cường giữa vùng sông nước. Ấy vậy mà từ khi bị phát hiện là nhân tố chính giúp thịt cá trở nên đặc biệt, cỏ moan bị cắt bỏ ráo riết, triệt hạ không thương tiếc.

Từng bao cỏ được chất thành đống để phục vụ những bè cá không ngừng sinh sôi. Nhiều người cố lai trồng cỏ moan để phục vụ mục đích công nghiệp nhưng chẳng rõ do không biết canh tác hay do thổ nhưỡng mà cứ đem khỏi xóm Lèn là chúng trở nên còi cọc, lá vàng vọt, héo dần rồi chết. Cỏ moan bị cắt nhiều đến mức chẳng kịp sinh sôi để rồi khi nguồn thức ăn cạn kiệt, nhà bè đào luôn cả rễ của chúng lên chứ không chỉ cắt phần lá để làm thức ăn. Một ngày, người xóm Lèn ra bãi ngỡ ngàng khi thấy nơi bờ sông, đám cỏ moan đã biến mất như chưa từng hiện diện.

Những nhà bè nháo nhác tìm đủ loại cỏ thay thế để nuôi cá, thậm chí dùng các loại bột tăng trọng, thuốc để kích thích. Những con cá ăn bột lớn nhanh hơn hẳn nhưng thịt cá nhão nhoẹt, tanh nồng. Nhiều lứa cá bị thương lái trả về, danh tiếng của cá xóm Lèn cũng theo đó mà tàn lụi. Bè bị phá dần, những nhà lồng bỏ không mặc cho nắng mưa. Xóm Lèn quay lại với những ngày vắng lặng. Nhiều hộ dân phất lên nhờ nuôi cá bỏ xóm Lèn lên thị trấn mua đất, mua nhà để kinh doanh. Bến đò dần thưa vắng, những người lái đò nghỉ hết, chỉ còn lại mỗi ông già vẫn miệt mài đón đưa người xóm Lèn đi đi về về hai bên bờ sông Sương.

***

Hôm đó, sau những ngày mưa buốt lạnh, cuối cùng mặt trời đã chịu ló dạng, chiếu những tia nắng sưởi ấm xóm Lèn. Đang đung đưa chân sảng khoái tận hưởng những tia nắng ấm, ông già giật mình vì có tiếng gọi đò. Ông nghĩ bụng: “Kỳ lạ, sao lại có người gọi đò vào giữa buổi sáng như thế này?”. Nghĩ vậy nhưng tay ông vẫn thoăn thoắt tháo sợi dây thừng đang buộc đò vào gốc cây sung rồi nhảy lên thuyền đẩy về phía bên kia bờ sông. Là một thanh niên trẻ. Ông già vừa nhìn đã biết ngay cậu ta không phải người xóm Lèn.

Cái xóm Lèn này ông quen mặt đến mức có thể thuộc cả từng nốt ruồi trên mặt từng người. Cậu thanh niên đeo chiếc máy ảnh đằng trước bước lên đò, vồn vã hỏi han ông già: “Ông bao nhiêu tuổi? Làm lái đò có đông khách không ông? Khách có áo phao không ạ?”… Cậu ta hỏi nhiều lắm, ông già chả nhớ hết. Lâu lắm mới có khách lạ đến thăm xóm Lèn. Ông già thật thà trả lời những câu hỏi của cậu trai trẻ:

– Tôi lái đò cũng gần 30 năm rồi, người đi đò chủ yếu là dân xóm Lèn thôi, hiếm lắm mới có khách lạ như cậu. Ui dào, xóm Lèn bốn bề là nước sông Sương, trẻ con đẻ ra chưa kịp biết đi đã biết bơi thì áo phao, áo phiếc làm gì. Tôi ở đây đến ngần này tuổi mà chưa thấy trường hợp nào người dân xóm Lèn bị đuối nước, đi đò đuối nước lại càng không.

Chiếc máy ảnh của cậu trai trẻ chụp lia lịa. Ông già giới thiệu về xóm Lèn của mình một cách hào hứng. Thế nhưng, khi ông già đang say sưa kể thì cậu thanh niên nhờ ông đưa ngược trở lại vì có việc đột xuất, hẹn lần khác đến thăm xóm Lèn sau. Chia tay ông già, cậu ta còn xin được chụp ông một tấm ảnh làm kỷ niệm. Ông già vui lắm, miệng cười móm mém lộ ra hàm răng rụng gần hết.

***

Ông cứ suy nghĩ mãi về câu nói của thằng nhỏ. Nếu không vì trả ơn xóm Lèn thì với số tiền tích cóp được từ cái thời khách khứa còn đến xóm nườm nượp, ông dư sức mua một miếng đất, xây một căn nhà tiện nghi ở giữa thị trấn tấp nập để tận hưởng tuổi già cùng cháu con. Năm đó, người đàn bà áo quần rướm máu dắt theo một thằng nhóc năm tuổi đã nhảy lên chuyến đò cầu xin người đàn ông lái đò cứu giúp. Anh lái đò còn chưa biết sự tình đã thấy phía xa có ánh đuốc bập bùng cùng tiếng hô hoán giận dữ của đám người đang đuổi theo. Anh nhẹ đẩy sào cho con thuyền trôi ra xa. Hóa ra người đàn bà đó bị người đàn ông có vợ lừa có con với ông ta, mãi đến khi bà vợ ở nhà mang theo anh em họ hàng đến tận nhà tìm, cô mới hay mình trở thành người thứ ba phá gia cang người khác.

Nhân lúc hàng xóm chạy ra can ngăn, cô kịp bế theo thằng bé chạy một mạch về phía dòng sông thì gặp chiếc đò nên liền nhảy lên. Đứa bé năm tuổi đó chính là ông già bây giờ. Người đàn ông đó mang hai mẹ con người đàn bà xa lạ về xóm Lèn, cùng bà con chòm xóm dựng cho căn nhà tre và cưu mang họ. Ông già lớn lên với lòng biết ơn dân xóm Lèn và món nợ ân tình mà có lẽ ông dành cả phần đời còn lại cũng chẳng thể trả hết.

Những dòng chữ in đậm nơi tiêu đề bài báo đập vào mắt ông già: “Mối nguy hiểm của những chuyến đò tự phát”. Nội dung bài báo phản ánh việc những chuyến đò không được trang bị các phương tiện bảo hộ như áo phao, phao cứu hộ tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho hành khách qua sông. Câu chuyện và hình ảnh ông già 80 tuổi răng và tóc đã rụng gần hết được in chình ình giữa trang báo như càng khiến mức độ nguy hiểm của những chuyến đò tăng lên bội phần.

Bài báo dài lắm, nào là ông thiếu giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng, máy trưởng; nào là phải có dụng cụ nổi cứu sinh… Mấy cái đó ông già đọc vào cứ thấy lùng bùng. Gần 30 năm nay, ông cứ cặm cụi với cái thuyền con con buộc thêm cái mủng được làm bằng luồng mà ông cất công vô tận sâu trong rừng lựa từng cây mang về. Vỏn vẹn có vậy mà ông đưa đón bao nhiêu lượt người xóm Lèn qua khúc sông Sương này. Thấy ông già bần thần khi đọc tờ báo, thằng nhỏ kể sáng nay trên chợ thị trấn người ta đồn ầm lên về một ông già gần kề miệng lỗ mà vẫn còn tham tiền, bất chấp tính mạng của hành khách, cơi nới cái thuyền nhỏ xập xệ để chở được nhiều khách sang sông. Nghe đâu ông già đó còn làm luôn cái lều bên bến để canh khách. Thằng bé đang thao thao kể thì bất chợt thấy nơi khóe mắt nhăn nheo của ông có gì đó ươn ướt. Nó kêu lên:

– Ông khóc đấy à?

– Gió sông nay lớn quá thổi cát vào mắt ông thôi, khóc gì mà khóc.

***

Đêm đó, ông già trằn trọc mãi trong lều. Gió sông thổi làm tấm bạt đã bị nắng mưa bào mủn một phần bay phần phật, hết lật bên này lại sang bên kia; chiếc chõng tre kẽo kẹt theo từng lần trở mình của ông lão. Bao nhiêu năm qua, người ta lần lượt bỏ bến đò hết, chỉ còn lại mỗi ông. Nhiều khi trái gió trở trời, xương khớp ê buốt nhưng có ngày nào ông nỡ để bến vắng đò.

Người xóm Lèn ngày nào cũng ra chợ sớm, đem những trái bắp, củ khoai đổi về ít tiền cho lũ trẻ đóng học phí. Cái thuyền con mỗi chuyến chở được chừng ba, bốn người là chòng chành biểu tình, nếu không có cái mủng chắc bọn con nít xóm Lèn đã bỏ học từ lâu vì ngày nào cũng đi học muộn. Hai ngàn đồng cho hai lượt đi về chẳng đủ tiền cho ông lão mua dầu gió về bôi vào những chỗ đau nhức khi đêm lạnh.

Ông có nhà nhưng chẳng dám về vì sợ như cái lần nghe lời bà già về nhà ngủ cho đỡ lạnh, nửa đêm có người đau bụng đi đẻ cần sang thị trấn vào viện gấp, gọi í ới mà chẳng thấy lái đò đâu. May lần đấy ông già chạy ra đưa sang kịp. Bác sĩ nói chỉ cần chậm một chút thôi là cả mẹ lẫn con đều không qua khỏi. Nghe mọi người kể lại mà ông vã mồ hôi hột. Kể từ đó, ông bám trụ luôn ở bến đò không rời nửa bước. Mắt ông cứ thao láo như vậy đến tận khi gần sáng thì lồm cồm bò dậy, ôm theo cái đài cát-xét bước từng bước khập khiễng về phía xóm Lèn.

Ông già trốn biệt trong nhà, ai hỏi sao cũng không nói. Chiếc đài bị chuyển hết kênh này đến kênh khác. Thi thoảng, ông lại thở dài thườn thượt. Thằng cháu út thấy ông về thì lân la lại để chơi với ông. Nó ngoan ngoãn ngồi cạnh ông, vui vẻ với xấp giấy tô màu. Đột nhiên, ông lão nói:

– Xóm Lèn này thiếu gì người phải không cháu?

Ông không làm thì khối người trẻ khỏe đứng ra làm mà nhỉ?

Thằng nhỏ ngẩng đầu ngơ ngác chẳng hiểu ông nói gì rồi lại cúi xuống tập giấy cặm cụi tô tô, vẽ vẽ. Bỗng ngoài ngõ, tiếng chó sủa inh ỏi, có người gọi tên ông già. Nghe tiếng ồn, ông già ước chừng phải đến cả chục người. Mấy giây sau, đám người đã nêm chặt căn nhà cấp bốn của thằng con trai ông già, người thì buồng chuối, người thúng gạo nếp, người con gà, người chục trứng… Thì ra dân xóm Lèn sáng nay ra bến đò ngơ ngác khi không thấy ông già đâu, tưởng ông bị ốm nên mang đồ đến thăm. Đám đông vồn vã, người này tranh người kia hỏi xem ông già bị làm sao.

Những câu chuyện từ cái thời xa lắc liên quan đến những chuyến đò của ông già mà ông đã quên từ lâu được họ lôi ra kể và cảm ơn mãi. Rồi họ bảo cũng đã đến lúc ông cần được nghỉ ngơi. Nghe đâu chính quyền sẽ làm một chiếc cầu để bà con đi lại an toàn. Nhìn mọi người, mắt ông lão chực trào như sắp khóc. Đám đông kéo đi, để lại chật cả góc nhà những món quà họ mang đến dù cho ông già bảo mình vẫn khỏe và kiên quyết không nhận.

Trưa đó, ăn xong bữa cơm vội với cả nhà, ông già khoác cái áo và xách cái đài chậm rãi đi ra thăm lại bến sông vì nhớ, dù ông mới chỉ vừa xa nó được nửa ngày. Đến gần bến, ông bất ngờ thấy một bông hoa moan bé xíu đang hé nở nơi căn lều của ông. Hóa ra mùa xuân đã về.

Theo PNO

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm
Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai
Nhà tôi ở sườn đồi, nhìn xuống dòng sông Mã. Cha tôi kể rằng, xưa kia đây vốn là vùng chuyên quy tập hài cốt bộ đội hy sinh.
Xem thêm
Chuyện lạ ngày Xuân “Ăn trộm đào”
LTS: Mỗi độ Tết đến, giữa không khí lễ hội tưng bừng, không ít người phương Đông vẫn còn niềm tin mơ hồ rằng thực và ảo có thể bất chợt giao nhau. “Ăn Trộm Đào” là một câu chuyện như thế — vừa mang dáng dấp hội hè, vừa phảng phất trò ảo thuật dân gian. Truyện do nhà văn Bồ Tùng Linh (Pu Songling) ghi chép trong Liêu Trai Chí Dị vào đời Thanh. Bản tiếng Anh dùng để dịch ở đây là của Herbert A. Giles xuất bản năm 1880 trong cuốn Strange Stories from a Chinese Studio. Hiện nội dung được công khai trên Project Gutenberg, như một nhịp cầu nối kho tàng truyện cổ với độc giả quốc tế.
Xem thêm
Thương nhau ngày Tết - Truyện Võ Đào Phương Trâm
Mưa cuối mùa, tầm tã nặng hạt, như trút cho hết nước xuống từng ngõ ngách nội đô. Tiếng gió thốc mạnh, va vào tấm bạt như muốn xé toạc bằng cơn thịnh nộ. Mỗi lần gió lớn, tấm bạt tròng trành đổ ào đống nước nặng trịch xuống đường, văng tung tóe. Bên dưới, người đàn bà ngồi co ro, cái gánh chè đậu đen, đậu xanh còn nóng hổi nhưng chưa bán được một nửa, đành chịu cảnh vắng khách. Chiếc nón lá thỉnh thoảng bị gió thổi bật ra phía sau như một trò bỡn cợt với thân phận người nghèo, trượt giữa mặt đường đời, chông chênh và cam chịu.
Xem thêm
Quỳnh hương điện ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Dương Vân Nga lại tiến đến bên chiếc long bào. Tay đưa ra, rồi dừng lại giữa chừng. Vải gấm thêu chỉ vàng sáng lên lấp lánh dưới ánh nến. Mỗi sợi chỉ vàng là một lời thề, một trách nhiệm, một cái giá phải trả. Chiếc áo này của triều Đinh, của nhà Đinh. Nếu trao cho Lê Hoàn, nó sẽ thuộc về một triều đại khác, một dòng tộc khác. Nhưng nếu không trao? Bà nghĩ đến quân Tống đang rình rập. Nghĩ đến cảnh binh đao khói lửa ngút trời. Nước không còn, thì áo bào cũng mất. Nước không còn, thì ngai vàng cũng mất. Và mẹ con bà, làm sao toàn mạng? Không, vận nước phải lớn hơn vận mẹ con bà! Vận nước phải đặt lên trên hết! Lê Hoàn! Nếu ý trời đã định, nếu lòng người đã thuận, bà còn gì phải hoang mang?
Xem thêm