TIN TỨC

Anh hùng nơi làng quê

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-05-10 11:36:10
mail facebook google pos stwis
3663 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

VŨ ĐẢM

Từ cõi chết trở về

“Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới”, năm 1979, bài hát của nhạc sĩ Phạm Tuyên ngay sau khi phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam đã lay động hàng chục triệu con tim của nhân dân cả nước, hàng vạn lá đơn tình nguyện đã được viết ra bằng trái tim và bằng cả máu; trong những lá đơn tình nguyện ra trận để chống quân xâm lược biên giới ấy có lá đơn của chàng trai trẻ 17 tuổi Đào Viết Thoàn, khi ấy anh đang làm công nhân của Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí (Quảng Ninh). Từ công nhân trở thành người lính xe tăng thuộc Lữ đoàn 408 Quân khu 3, người lính trẻ Đào Viết Thoàn nhanh chóng hòa mình với đồng đội, tham dự nhiều trận đánh ác liệt. Trong một cuộc chiến, anh bị đạn pháo của địch bắn trúng và bị thương rất nặng, đồng đội anh tất cả đều nghĩ anh sẽ hy sinh nhưng còn nước còn tát, họ đưa anh về cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện 108 và Bệnh viện 103 Quân đội tại Hà Nội. Thân thể anh từ đầu đến chân đầy rẫy những vết thương: chấn thương sọ não, vỡ mỏ xương thái dương bên phải, cắt bỏ 1/2 tai phải, khoét bỏ mắt trái, mất khớp gối chân phải và toàn bộ hai cơ dép, hai cơ mông, gẫy hai dẻ xương sườn bên phải, xẹp đốt xương sống D11, D12.

Các bác sĩ cũng đều nghĩ 10 phần thì 9 phần chết 1 phần sống và trải qua 2 năm với hơn 10 lần lên bàn đại phẫu, người lính trẻ Đào Viết Thoàn đã cắn răng chịu bao đau đớn, có lúc chịu không nổi, anh đã ngất đi, rồi tỉnh lại, nén nỗi đau, nén nước mắt trong lòng, anh tự hứa với chính bản thân mình, là người lính Cụ Hồ thì không được gục ngã, phải chiến đấu để sống như từng dũng cảm trên chiến trường để đánh thắng kẻ thù. Thế rồi bằng ý chí, nghị lực phi thường của bản thân; được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của các y bác sĩ; được sự động viên chăm nom của bố mẹ, của người vợ trẻ, người lính Đào Viết Thoàn đã tập tễnh tự đi được nhưng cuộc chiến với thương tật chưa kết thúc. Vết thương ở bàn chân phải của anh tuy đã được ghép da nhiều lần mà không liền, vẫn bị hoại tử và lộ xương. Sau đó anh được các bác sĩ Bệnh viện Quân y 103 giới thiệu ở chùa Trắng – thôn Hữu Lê, xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, Hà Nội, có sư cụ Thích Đàm Lương đang sở hữu bài thuốc đắp cứu chữa vết thương rất hay. Thế rồi tiếng chuông chùa đã đưa anh đến chùa Trắng.


Lương y Đào Viết Thoàn đang khám cho bệnh nhân nhi (ngày 3/3/2022). Ảnh do tác giả cung cấp.

- Nam mô A di đà Phật! Con là Đào Viết Thoàn đang điều trị vết thương tại Bệnh viện 103, nghe nói nhà chùa có phương thuốc hay, con tìm đến để sư cụ rủ lòng cứu giúp.

- Mô Phật, con vào đây để ta coi vết thương cho!

Sau khi xem xét vết thương ở chân của anh, sư cụ Thích Đàm Lương đã lấy thuốc nam đắp vào chân anh, một cảm giác mát mẻ ập đến, vết thương dịu đau hẳn đi. Từ đó sư cụ dành cho anh một chỗ ăn ở tại chùa rồi ngày ngày thăm hỏi, bôi thuốc cho anh; còn anh thì vừa luyện tập, vừa quét dọn chùa như một chú tiểu siêng năng. Cảm phục nghị lực của người thương binh, lại thấy anh rất hiền lành, chăm chỉ, có cái tâm trong sáng nên sư cụ Thích Đàm Lương quyết định trao cho anh bí quyết bài thuốc chữa vết thương gia truyền này. Anh vô cùng xúc động, chắp tay vái:

- Nam mô A di đà Phật, con cảm ơn sư cụ đã tin tưởng trao cho bài thuốc gia truyền này, con xin hứa sẽ ra tay chữa bệnh cứu người.

- Ta tin tưởng con sẽ nghe theo lời dạy bảo của Phật, cứu giúp người bệnh nghèo!

Chữa bệnh cứu người

Sau 5 năm vừa chữa bệnh vừa học hỏi sư cụ Thích Đàm Lương, anh thương binh Đào Viết Thoàn đã hiểu biết khá kỹ càng cách chế thuốc và biện pháp điều trị. Sư cụ mừng lắm, vậy là bài thuốc quý của mình đã trao truyền cho đúng người, họ sẽ tiếp tục thay mình chữa bệnh cứu người. Và ngày 10/4/1986 âm lịch, sư cụ Thích Đàm Lương viên tịch về cõi Phật, hưởng thọ 94 tuổi. Chịu tang sư cụ xong, anh Đào Viết Thoàn còn ở lại chùa thêm nửa năm rồi quay lại Quân y viện. Năm 1987, sau 8 năm đằng đẵng điều trị vết thương ở Hà Nội, anh thương binh trẻ đề nghị với các bác sĩ quân y cho mình về quê để tự điều trị.

Trở về quê trong cảnh nghèo đói, bệnh tật; mỗi khi trái gió trở trời những vết thương, nhất là vết thương trong não lại hành hạ anh, phải vay mượn tứ tung để thuốc thang và nuôi 3 đứa con nhỏ. Nhà anh được giao 4 sào ruộng khoán, cộng với 13 kg gạo tiêu chuẩn thương binh hạng đặc biệt ¼ của anh, nhiều khi nhà hết gạo, vợ chồng phải vác rá sang hàng xóm để vay thóc, vay gạo, thậm chí vay lãi, 1 thùng thóc vay đến mùa trả thành 2 thùng. Chị Hơn, vợ anh Thoàn nhớ lại, có lần anh Thoàn chống nạng sang nhà hàng xóm vay gạo, đến ngõ thấy xấu hổ, mình thì trẻ lại đi vay của người già nên anh quay về. Thế là chị Hơn lại cắp rá sang vay nhà khác. Chị Hơn cũng từng là Thanh niên xung phong tận Đắk Lắk vừa đồng áng, vừa nuôi dạy con và phụ giúp chồng khi thì thay băng, khi thì bôi thuốc, cơm nước cho bệnh nhân.

Mưa. Những cơn mưa mùa hạ khiến căn nhà tranh vách đất của vợ chồng anh càng thêm dột nát, nhiều đêm ngồi hứng mưa trong nhà mà lòng xót xa; thấy vậy chính quyền xã, thôn và bà con xúm vào xây cho anh một căn nhà tình nghĩa. Anh thương bố mẹ, thương vợ con và để tránh bớt đi tiền thuốc, anh Thoàn tiếp tục nghiên cứu, phát triển bài thuốc chữa vết thương sinh cơ của sư cụ Thích Đàm Lương thành bài thuốc bỏng. Vết thương bỏng thường rất đau rát, khi lau rửa vết thương, bôi thuốc, thay băng hay bị dính cũng khiến bệnh nhân đau đớn, vậy mình phải nghiên cứu làm ra cho thuốc bôi vào cũng không bị rát, mau lành vết thương. Trời không phụ lòng anh, bài thuốc do anh sáng tạo từ bài thuốc sinh cơ ở chùa Trắng thành bài thuốc chữa bỏng rất hiệu quả, bệnh nhân bôi vào không bị rát, nhanh lành. Trong ngành y có một thứ không cần quảng cáo mà bệnh nhân vẫn tìm đến, đó chính là hiệu quả của thuốc. Anh ở một vùng quê xa xôi tận Thái Bình nhưng bệnh nhân bỏng trong tỉnh, ngoài tỉnh vẫn vượt qua bao xa xăm, khốn khó tìm đến lương y Đào Viết Thoàn để chữa bỏng.

Không chỉ có thuốc hay mà thấm nhuần lời dạy sư cụ Thích Đàm Lương, chữa bệnh cứu đời, nhất là những người nghèo khổ chứ không được làm giàu trên nỗi đau của bệnh nhân nên lương y Đào Viết Thoàn nhiều khi cơ thể đang bị bệnh tật hành hạ nhưng vì sự đau đớn xé lòng của bệnh nhân, anh đã khám chữa bệnh cho người bỏng từ 6 giờ sáng đến tận chiều tối. Có rất nhiều đêm, bệnh nhân đến gõ cửa, anh cũng không nề hà, bắt tay vào khám chữa cho bệnh nhân ngay.

Chị Lê Thị Nhàn ở xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, Thái Bình có con là Nguyễn Thị Nhật Mai, sinh 2018, bị bỏng nước sôi độ 3 nói với tôi, con chị được bác Thoàn cứu chữa, nay đã khỏi được 80%. Lúc đầu mới đến cháu đau khóc suốt nhưng khi bôi thuốc của bác Thoàn vào thì cháu hết đau, thật là may mắn cho cháu được gặp bác Thoàn. Lương y Đào Viết Thoàn cho biết, cháu Mai còn nhẹ chứ như cháu Trần Đăng Khôi, 2 tuổi ở Quảng Trị bị bỏng do cháy nhà, gia đình đưa cháu vào TP.HCM chữa chạy rất tốn kém nhưng đầu vẫn lộ xương sọ, được mọi người mách bảo, bố cháu là Trần Đăng Quyền đã đưa con ra Bắc để lương y Thoàn cứu chữa, nhờ đó mà cháu đã khôi phục được cơ bản và trở về quê sinh sống. Thương gia đình cháu nghèo khó, anh Thoàn đã bao toàn bộ chi phí thuốc thang, ăn ở cho hai bố con.

Chị Nguyễn Thị Soi, 50 tuổi, ở xã Đông Đô, huyện Hưng Hà, Thái Bình bị bỏng xăng cả hai tay hai chân vô cùng đau đớn. Chị được gia đình đưa đến ngay lương y Thoàn chữa trị, hơn một tháng thì vết bỏng cơ bản đã khỏi, giờ chị quay lại để phục hồi chức năng. Con gái chị đi theo để phục vụ mẹ, được ở trong một căn phòng sạch sẽ, được anh Thoàn miễn tiền ở, điện nước, còn tiền ăn thì đặt cơm cho bộ phận nấu ăn. Tôi hỏi chị Soi:

- Điều trị ở đây chị thấy thế nào?

- Thuốc tốt lắm anh ạ, bôi vào mát rượi, thay băng không bị dính. Bác Thoàn lại tận tâm, vui vẻ, miễn phí tiền nhà, tiền điện nước chứ như nằm viện không có bảo hiểm y tế như em thì có nước mà vay nợ hay bán nhà.

Dãy nhà khám và điều trị cho bệnh nhân của lương y Thoàn mà bệnh nhân hay gọi là ngôi nhà tình thương, gồm 8 phòng, 1 phòng khám, 7 phòng ở, mỗi phòng 2 giường, tất cả đều sạch sẽ, có mắc điều hòa hai chiều. Ngày đông nhất có đến 50, 60 bệnh nhân đến khám, nặng thì ở lại điều trị nội trú, nhẹ thì tự mua thuốc về điều trị. Cho đến nay, sau hơn 30 năm chữa bệnh cứu người, lương y Đào Viết Thoàn đã khám và điều trị cho hơn 30.728 bệnh nhân bị bỏng và vết thương lâu liền mà không để lại di chứng gì, đem lại hạnh phúc vô bờ bến cho hàng vạn người. Anh cũng miễn tiền thuốc, tiền công, tiền nhà ở, điện nước cho 11.574 bệnh nhân là đối tượng chính sách, Mẹ Việt Nam anh hùng, bố mẹ liệt sĩ, anh chị em thương binh, bệnh binh, nạn nhân chất độc da cam, người tàn tật, trẻ mồ côi, trẻ em dưới 6 tuổi, bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân nghèo số tiền 8 tỷ 650 triệu đồng. Anh cũng gom góp được 250 triệu cho xã để làm con đường vào thôn Đồng Ấu và làm nhiều từ thiện khác.

Tôi tò mò làm phép tính và nói với lương y Thoàn:

- Gần 40.000 bệnh nhân nếu anh chỉ thu mỗi người 1 triệu cũng được gần 40 tỷ.

- Bệnh nhân, mình bắt thu thế nào họ cũng phải chịu, nhưng họ hầu hết là nông dân nghèo, có những người không có tiền ăn, tiền đi xe về quê, tôi còn phải giúp họ thì làm sao dám làm giàu trên nỗi đau của bệnh nhân.

Không chỉ được bệnh nhân trong khắp cả nước ghi ơn công đức của lương y Đào Viết Thoàn mà anh cũng được tỉnh và Trung ương đánh giá cao, anh là chiến sĩ thi đua toàn quốc, được tặng nhiều huân, huy chương, bằng khen trong đó có Huân chương Lao động hạng Nhì và ngày 30/11/2015, anh được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động.

Hàng năm cứ đến ngày Lễ Phật đản hoặc giỗ sư cụ Thích Đàm Lương, lương y Đào Viết Thoàn lại lên Hà Nội, đến chùa Trắng để thắp hương tưởng nhớ đến sư cụ – người thầy từ bi của mình.

- Boong, boong, boong…

Lương y Đào Viết Thoàn thỉnh một hồi chuông, tiếng chuông ngân nga nhắc nhở anh hãy luôn luôn nhớ lời sư cụ dạy: Chữa bệnh để cứu người!

Nguồn: Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 18.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm