TIN TỨC

Anh hùng nơi làng quê

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-05-10 11:36:10
mail facebook google pos stwis
3298 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

VŨ ĐẢM

Từ cõi chết trở về

Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới”, năm 1979, bài hát của nhạc sĩ Phạm Tuyên ngay sau khi phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam đã lay động hàng chục triệu con tim của nhân dân cả nước, hàng vạn lá đơn tình nguyện đã được viết ra bằng trái tim và bằng cả máu; trong những lá đơn tình nguyện ra trận để chống quân xâm lược biên giới ấy có lá đơn của chàng trai trẻ 17 tuổi Đào Viết Thoàn, khi ấy anh đang làm công nhân của Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí (Quảng Ninh). Từ công nhân trở thành người lính xe tăng thuộc Lữ đoàn 408 Quân khu 3, người lính trẻ Đào Viết Thoàn nhanh chóng hòa mình với đồng đội, tham dự nhiều trận đánh ác liệt. Trong một cuộc chiến, anh bị đạn pháo của địch bắn trúng và bị thương rất nặng, đồng đội anh tất cả đều nghĩ anh sẽ hy sinh nhưng còn nước còn tát, họ đưa anh về cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện 108 và Bệnh viện 103 Quân đội tại Hà Nội. Thân thể anh từ đầu đến chân đầy rẫy những vết thương: chấn thương sọ não, vỡ mỏ xương thái dương bên phải, cắt bỏ 1/2 tai phải, khoét bỏ mắt trái, mất khớp gối chân phải và toàn bộ hai cơ dép, hai cơ mông, gẫy hai dẻ xương sườn bên phải, xẹp đốt xương sống D11, D12.

Các bác sĩ cũng đều nghĩ 10 phần thì 9 phần chết 1 phần sống và trải qua 2 năm với hơn 10 lần lên bàn đại phẫu, người lính trẻ Đào Viết Thoàn đã cắn răng chịu bao đau đớn, có lúc chịu không nổi, anh đã ngất đi, rồi tỉnh lại, nén nỗi đau, nén nước mắt trong lòng, anh tự hứa với chính bản thân mình, là người lính Cụ Hồ thì không được gục ngã, phải chiến đấu để sống như từng dũng cảm trên chiến trường để đánh thắng kẻ thù. Thế rồi bằng ý chí, nghị lực phi thường của bản thân; được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của các y bác sĩ; được sự động viên chăm nom của bố mẹ, của người vợ trẻ, người lính Đào Viết Thoàn đã tập tễnh tự đi được nhưng cuộc chiến với thương tật chưa kết thúc. Vết thương ở bàn chân phải của anh tuy đã được ghép da nhiều lần mà không liền, vẫn bị hoại tử và lộ xương. Sau đó anh được các bác sĩ Bệnh viện Quân y 103 giới thiệu ở chùa Trắng – thôn Hữu Lê, xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, Hà Nội, có sư cụ Thích Đàm Lương đang sở hữu bài thuốc đắp cứu chữa vết thương rất hay. Thế rồi tiếng chuông chùa đã đưa anh đến chùa Trắng.


Lương y Đào Viết Thoàn đang khám cho bệnh nhân nhi (ngày 3/3/2022). Ảnh do tác giả cung cấp.

- Nam mô A di đà Phật! Con là Đào Viết Thoàn đang điều trị vết thương tại Bệnh viện 103, nghe nói nhà chùa có phương thuốc hay, con tìm đến để sư cụ rủ lòng cứu giúp.

- Mô Phật, con vào đây để ta coi vết thương cho!

Sau khi xem xét vết thương ở chân của anh, sư cụ Thích Đàm Lương đã lấy thuốc nam đắp vào chân anh, một cảm giác mát mẻ ập đến, vết thương dịu đau hẳn đi. Từ đó sư cụ dành cho anh một chỗ ăn ở tại chùa rồi ngày ngày thăm hỏi, bôi thuốc cho anh; còn anh thì vừa luyện tập, vừa quét dọn chùa như một chú tiểu siêng năng. Cảm phục nghị lực của người thương binh, lại thấy anh rất hiền lành, chăm chỉ, có cái tâm trong sáng nên sư cụ Thích Đàm Lương quyết định trao cho anh bí quyết bài thuốc chữa vết thương gia truyền này. Anh vô cùng xúc động, chắp tay vái:

- Nam mô A di đà Phật, con cảm ơn sư cụ đã tin tưởng trao cho bài thuốc gia truyền này, con xin hứa sẽ ra tay chữa bệnh cứu người.

- Ta tin tưởng con sẽ nghe theo lời dạy bảo của Phật, cứu giúp người bệnh nghèo!

Chữa bệnh cứu người

Sau 5 năm vừa chữa bệnh vừa học hỏi sư cụ Thích Đàm Lương, anh thương binh Đào Viết Thoàn đã hiểu biết khá kỹ càng cách chế thuốc và biện pháp điều trị. Sư cụ mừng lắm, vậy là bài thuốc quý của mình đã trao truyền cho đúng người, họ sẽ tiếp tục thay mình chữa bệnh cứu người. Và ngày 10/4/1986 âm lịch, sư cụ Thích Đàm Lương viên tịch về cõi Phật, hưởng thọ 94 tuổi. Chịu tang sư cụ xong, anh Đào Viết Thoàn còn ở lại chùa thêm nửa năm rồi quay lại Quân y viện. Năm 1987, sau 8 năm đằng đẵng điều trị vết thương ở Hà Nội, anh thương binh trẻ đề nghị với các bác sĩ quân y cho mình về quê để tự điều trị.

Trở về quê trong cảnh nghèo đói, bệnh tật; mỗi khi trái gió trở trời những vết thương, nhất là vết thương trong não lại hành hạ anh, phải vay mượn tứ tung để thuốc thang và nuôi 3 đứa con nhỏ. Nhà anh được giao 4 sào ruộng khoán, cộng với 13 kg gạo tiêu chuẩn thương binh hạng đặc biệt ¼ của anh, nhiều khi nhà hết gạo, vợ chồng phải vác rá sang hàng xóm để vay thóc, vay gạo, thậm chí vay lãi, 1 thùng thóc vay đến mùa trả thành 2 thùng. Chị Hơn, vợ anh Thoàn nhớ lại, có lần anh Thoàn chống nạng sang nhà hàng xóm vay gạo, đến ngõ thấy xấu hổ, mình thì trẻ lại đi vay của người già nên anh quay về. Thế là chị Hơn lại cắp rá sang vay nhà khác. Chị Hơn cũng từng là Thanh niên xung phong tận Đắk Lắk vừa đồng áng, vừa nuôi dạy con và phụ giúp chồng khi thì thay băng, khi thì bôi thuốc, cơm nước cho bệnh nhân.

Mưa. Những cơn mưa mùa hạ khiến căn nhà tranh vách đất của vợ chồng anh càng thêm dột nát, nhiều đêm ngồi hứng mưa trong nhà mà lòng xót xa; thấy vậy chính quyền xã, thôn và bà con xúm vào xây cho anh một căn nhà tình nghĩa. Anh thương bố mẹ, thương vợ con và để tránh bớt đi tiền thuốc, anh Thoàn tiếp tục nghiên cứu, phát triển bài thuốc chữa vết thương sinh cơ của sư cụ Thích Đàm Lương thành bài thuốc bỏng. Vết thương bỏng thường rất đau rát, khi lau rửa vết thương, bôi thuốc, thay băng hay bị dính cũng khiến bệnh nhân đau đớn, vậy mình phải nghiên cứu làm ra cho thuốc bôi vào cũng không bị rát, mau lành vết thương. Trời không phụ lòng anh, bài thuốc do anh sáng tạo từ bài thuốc sinh cơ ở chùa Trắng thành bài thuốc chữa bỏng rất hiệu quả, bệnh nhân bôi vào không bị rát, nhanh lành. Trong ngành y có một thứ không cần quảng cáo mà bệnh nhân vẫn tìm đến, đó chính là hiệu quả của thuốc. Anh ở một vùng quê xa xôi tận Thái Bình nhưng bệnh nhân bỏng trong tỉnh, ngoài tỉnh vẫn vượt qua bao xa xăm, khốn khó tìm đến lương y Đào Viết Thoàn để chữa bỏng.

Không chỉ có thuốc hay mà thấm nhuần lời dạy sư cụ Thích Đàm Lương, chữa bệnh cứu đời, nhất là những người nghèo khổ chứ không được làm giàu trên nỗi đau của bệnh nhân nên lương y Đào Viết Thoàn nhiều khi cơ thể đang bị bệnh tật hành hạ nhưng vì sự đau đớn xé lòng của bệnh nhân, anh đã khám chữa bệnh cho người bỏng từ 6 giờ sáng đến tận chiều tối. Có rất nhiều đêm, bệnh nhân đến gõ cửa, anh cũng không nề hà, bắt tay vào khám chữa cho bệnh nhân ngay.

Chị Lê Thị Nhàn ở xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, Thái Bình có con là Nguyễn Thị Nhật Mai, sinh 2018, bị bỏng nước sôi độ 3 nói với tôi, con chị được bác Thoàn cứu chữa, nay đã khỏi được 80%. Lúc đầu mới đến cháu đau khóc suốt nhưng khi bôi thuốc của bác Thoàn vào thì cháu hết đau, thật là may mắn cho cháu được gặp bác Thoàn. Lương y Đào Viết Thoàn cho biết, cháu Mai còn nhẹ chứ như cháu Trần Đăng Khôi, 2 tuổi ở Quảng Trị bị bỏng do cháy nhà, gia đình đưa cháu vào TP.HCM chữa chạy rất tốn kém nhưng đầu vẫn lộ xương sọ, được mọi người mách bảo, bố cháu là Trần Đăng Quyền đã đưa con ra Bắc để lương y Thoàn cứu chữa, nhờ đó mà cháu đã khôi phục được cơ bản và trở về quê sinh sống. Thương gia đình cháu nghèo khó, anh Thoàn đã bao toàn bộ chi phí thuốc thang, ăn ở cho hai bố con.

Chị Nguyễn Thị Soi, 50 tuổi, ở xã Đông Đô, huyện Hưng Hà, Thái Bình bị bỏng xăng cả hai tay hai chân vô cùng đau đớn. Chị được gia đình đưa đến ngay lương y Thoàn chữa trị, hơn một tháng thì vết bỏng cơ bản đã khỏi, giờ chị quay lại để phục hồi chức năng. Con gái chị đi theo để phục vụ mẹ, được ở trong một căn phòng sạch sẽ, được anh Thoàn miễn tiền ở, điện nước, còn tiền ăn thì đặt cơm cho bộ phận nấu ăn. Tôi hỏi chị Soi:

- Điều trị ở đây chị thấy thế nào?

- Thuốc tốt lắm anh ạ, bôi vào mát rượi, thay băng không bị dính. Bác Thoàn lại tận tâm, vui vẻ, miễn phí tiền nhà, tiền điện nước chứ như nằm viện không có bảo hiểm y tế như em thì có nước mà vay nợ hay bán nhà.

Dãy nhà khám và điều trị cho bệnh nhân của lương y Thoàn mà bệnh nhân hay gọi là ngôi nhà tình thương, gồm 8 phòng, 1 phòng khám, 7 phòng ở, mỗi phòng 2 giường, tất cả đều sạch sẽ, có mắc điều hòa hai chiều. Ngày đông nhất có đến 50, 60 bệnh nhân đến khám, nặng thì ở lại điều trị nội trú, nhẹ thì tự mua thuốc về điều trị. Cho đến nay, sau hơn 30 năm chữa bệnh cứu người, lương y Đào Viết Thoàn đã khám và điều trị cho hơn 30.728 bệnh nhân bị bỏng và vết thương lâu liền mà không để lại di chứng gì, đem lại hạnh phúc vô bờ bến cho hàng vạn người. Anh cũng miễn tiền thuốc, tiền công, tiền nhà ở, điện nước cho 11.574 bệnh nhân là đối tượng chính sách, Mẹ Việt Nam anh hùng, bố mẹ liệt sĩ, anh chị em thương binh, bệnh binh, nạn nhân chất độc da cam, người tàn tật, trẻ mồ côi, trẻ em dưới 6 tuổi, bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân nghèo số tiền 8 tỷ 650 triệu đồng. Anh cũng gom góp được 250 triệu cho xã để làm con đường vào thôn Đồng Ấu và làm nhiều từ thiện khác.

Tôi tò mò làm phép tính và nói với lương y Thoàn:

- Gần 40.000 bệnh nhân nếu anh chỉ thu mỗi người 1 triệu cũng được gần 40 tỷ.

- Bệnh nhân, mình bắt thu thế nào họ cũng phải chịu, nhưng họ hầu hết là nông dân nghèo, có những người không có tiền ăn, tiền đi xe về quê, tôi còn phải giúp họ thì làm sao dám làm giàu trên nỗi đau của bệnh nhân.

Không chỉ được bệnh nhân trong khắp cả nước ghi ơn công đức của lương y Đào Viết Thoàn mà anh cũng được tỉnh và Trung ương đánh giá cao, anh là chiến sĩ thi đua toàn quốc, được tặng nhiều huân, huy chương, bằng khen trong đó có Huân chương Lao động hạng Nhì và ngày 30/11/2015, anh được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động.

Hàng năm cứ đến ngày Lễ Phật đản hoặc giỗ sư cụ Thích Đàm Lương, lương y Đào Viết Thoàn lại lên Hà Nội, đến chùa Trắng để thắp hương tưởng nhớ đến sư cụ – người thầy từ bi của mình.

- Boong, boong, boong…

Lương y Đào Viết Thoàn thỉnh một hồi chuông, tiếng chuông ngân nga nhắc nhở anh hãy luôn luôn nhớ lời sư cụ dạy: Chữa bệnh để cứu người!

Nguồn: Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 18.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm