TIN TỨC

Anh hùng nơi làng quê

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-05-10 11:36:10
mail facebook google pos stwis
3505 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

VŨ ĐẢM

Từ cõi chết trở về

Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới”, năm 1979, bài hát của nhạc sĩ Phạm Tuyên ngay sau khi phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam đã lay động hàng chục triệu con tim của nhân dân cả nước, hàng vạn lá đơn tình nguyện đã được viết ra bằng trái tim và bằng cả máu; trong những lá đơn tình nguyện ra trận để chống quân xâm lược biên giới ấy có lá đơn của chàng trai trẻ 17 tuổi Đào Viết Thoàn, khi ấy anh đang làm công nhân của Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí (Quảng Ninh). Từ công nhân trở thành người lính xe tăng thuộc Lữ đoàn 408 Quân khu 3, người lính trẻ Đào Viết Thoàn nhanh chóng hòa mình với đồng đội, tham dự nhiều trận đánh ác liệt. Trong một cuộc chiến, anh bị đạn pháo của địch bắn trúng và bị thương rất nặng, đồng đội anh tất cả đều nghĩ anh sẽ hy sinh nhưng còn nước còn tát, họ đưa anh về cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện 108 và Bệnh viện 103 Quân đội tại Hà Nội. Thân thể anh từ đầu đến chân đầy rẫy những vết thương: chấn thương sọ não, vỡ mỏ xương thái dương bên phải, cắt bỏ 1/2 tai phải, khoét bỏ mắt trái, mất khớp gối chân phải và toàn bộ hai cơ dép, hai cơ mông, gẫy hai dẻ xương sườn bên phải, xẹp đốt xương sống D11, D12.

Các bác sĩ cũng đều nghĩ 10 phần thì 9 phần chết 1 phần sống và trải qua 2 năm với hơn 10 lần lên bàn đại phẫu, người lính trẻ Đào Viết Thoàn đã cắn răng chịu bao đau đớn, có lúc chịu không nổi, anh đã ngất đi, rồi tỉnh lại, nén nỗi đau, nén nước mắt trong lòng, anh tự hứa với chính bản thân mình, là người lính Cụ Hồ thì không được gục ngã, phải chiến đấu để sống như từng dũng cảm trên chiến trường để đánh thắng kẻ thù. Thế rồi bằng ý chí, nghị lực phi thường của bản thân; được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của các y bác sĩ; được sự động viên chăm nom của bố mẹ, của người vợ trẻ, người lính Đào Viết Thoàn đã tập tễnh tự đi được nhưng cuộc chiến với thương tật chưa kết thúc. Vết thương ở bàn chân phải của anh tuy đã được ghép da nhiều lần mà không liền, vẫn bị hoại tử và lộ xương. Sau đó anh được các bác sĩ Bệnh viện Quân y 103 giới thiệu ở chùa Trắng – thôn Hữu Lê, xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, Hà Nội, có sư cụ Thích Đàm Lương đang sở hữu bài thuốc đắp cứu chữa vết thương rất hay. Thế rồi tiếng chuông chùa đã đưa anh đến chùa Trắng.


Lương y Đào Viết Thoàn đang khám cho bệnh nhân nhi (ngày 3/3/2022). Ảnh do tác giả cung cấp.

- Nam mô A di đà Phật! Con là Đào Viết Thoàn đang điều trị vết thương tại Bệnh viện 103, nghe nói nhà chùa có phương thuốc hay, con tìm đến để sư cụ rủ lòng cứu giúp.

- Mô Phật, con vào đây để ta coi vết thương cho!

Sau khi xem xét vết thương ở chân của anh, sư cụ Thích Đàm Lương đã lấy thuốc nam đắp vào chân anh, một cảm giác mát mẻ ập đến, vết thương dịu đau hẳn đi. Từ đó sư cụ dành cho anh một chỗ ăn ở tại chùa rồi ngày ngày thăm hỏi, bôi thuốc cho anh; còn anh thì vừa luyện tập, vừa quét dọn chùa như một chú tiểu siêng năng. Cảm phục nghị lực của người thương binh, lại thấy anh rất hiền lành, chăm chỉ, có cái tâm trong sáng nên sư cụ Thích Đàm Lương quyết định trao cho anh bí quyết bài thuốc chữa vết thương gia truyền này. Anh vô cùng xúc động, chắp tay vái:

- Nam mô A di đà Phật, con cảm ơn sư cụ đã tin tưởng trao cho bài thuốc gia truyền này, con xin hứa sẽ ra tay chữa bệnh cứu người.

- Ta tin tưởng con sẽ nghe theo lời dạy bảo của Phật, cứu giúp người bệnh nghèo!

Chữa bệnh cứu người

Sau 5 năm vừa chữa bệnh vừa học hỏi sư cụ Thích Đàm Lương, anh thương binh Đào Viết Thoàn đã hiểu biết khá kỹ càng cách chế thuốc và biện pháp điều trị. Sư cụ mừng lắm, vậy là bài thuốc quý của mình đã trao truyền cho đúng người, họ sẽ tiếp tục thay mình chữa bệnh cứu người. Và ngày 10/4/1986 âm lịch, sư cụ Thích Đàm Lương viên tịch về cõi Phật, hưởng thọ 94 tuổi. Chịu tang sư cụ xong, anh Đào Viết Thoàn còn ở lại chùa thêm nửa năm rồi quay lại Quân y viện. Năm 1987, sau 8 năm đằng đẵng điều trị vết thương ở Hà Nội, anh thương binh trẻ đề nghị với các bác sĩ quân y cho mình về quê để tự điều trị.

Trở về quê trong cảnh nghèo đói, bệnh tật; mỗi khi trái gió trở trời những vết thương, nhất là vết thương trong não lại hành hạ anh, phải vay mượn tứ tung để thuốc thang và nuôi 3 đứa con nhỏ. Nhà anh được giao 4 sào ruộng khoán, cộng với 13 kg gạo tiêu chuẩn thương binh hạng đặc biệt ¼ của anh, nhiều khi nhà hết gạo, vợ chồng phải vác rá sang hàng xóm để vay thóc, vay gạo, thậm chí vay lãi, 1 thùng thóc vay đến mùa trả thành 2 thùng. Chị Hơn, vợ anh Thoàn nhớ lại, có lần anh Thoàn chống nạng sang nhà hàng xóm vay gạo, đến ngõ thấy xấu hổ, mình thì trẻ lại đi vay của người già nên anh quay về. Thế là chị Hơn lại cắp rá sang vay nhà khác. Chị Hơn cũng từng là Thanh niên xung phong tận Đắk Lắk vừa đồng áng, vừa nuôi dạy con và phụ giúp chồng khi thì thay băng, khi thì bôi thuốc, cơm nước cho bệnh nhân.

Mưa. Những cơn mưa mùa hạ khiến căn nhà tranh vách đất của vợ chồng anh càng thêm dột nát, nhiều đêm ngồi hứng mưa trong nhà mà lòng xót xa; thấy vậy chính quyền xã, thôn và bà con xúm vào xây cho anh một căn nhà tình nghĩa. Anh thương bố mẹ, thương vợ con và để tránh bớt đi tiền thuốc, anh Thoàn tiếp tục nghiên cứu, phát triển bài thuốc chữa vết thương sinh cơ của sư cụ Thích Đàm Lương thành bài thuốc bỏng. Vết thương bỏng thường rất đau rát, khi lau rửa vết thương, bôi thuốc, thay băng hay bị dính cũng khiến bệnh nhân đau đớn, vậy mình phải nghiên cứu làm ra cho thuốc bôi vào cũng không bị rát, mau lành vết thương. Trời không phụ lòng anh, bài thuốc do anh sáng tạo từ bài thuốc sinh cơ ở chùa Trắng thành bài thuốc chữa bỏng rất hiệu quả, bệnh nhân bôi vào không bị rát, nhanh lành. Trong ngành y có một thứ không cần quảng cáo mà bệnh nhân vẫn tìm đến, đó chính là hiệu quả của thuốc. Anh ở một vùng quê xa xôi tận Thái Bình nhưng bệnh nhân bỏng trong tỉnh, ngoài tỉnh vẫn vượt qua bao xa xăm, khốn khó tìm đến lương y Đào Viết Thoàn để chữa bỏng.

Không chỉ có thuốc hay mà thấm nhuần lời dạy sư cụ Thích Đàm Lương, chữa bệnh cứu đời, nhất là những người nghèo khổ chứ không được làm giàu trên nỗi đau của bệnh nhân nên lương y Đào Viết Thoàn nhiều khi cơ thể đang bị bệnh tật hành hạ nhưng vì sự đau đớn xé lòng của bệnh nhân, anh đã khám chữa bệnh cho người bỏng từ 6 giờ sáng đến tận chiều tối. Có rất nhiều đêm, bệnh nhân đến gõ cửa, anh cũng không nề hà, bắt tay vào khám chữa cho bệnh nhân ngay.

Chị Lê Thị Nhàn ở xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, Thái Bình có con là Nguyễn Thị Nhật Mai, sinh 2018, bị bỏng nước sôi độ 3 nói với tôi, con chị được bác Thoàn cứu chữa, nay đã khỏi được 80%. Lúc đầu mới đến cháu đau khóc suốt nhưng khi bôi thuốc của bác Thoàn vào thì cháu hết đau, thật là may mắn cho cháu được gặp bác Thoàn. Lương y Đào Viết Thoàn cho biết, cháu Mai còn nhẹ chứ như cháu Trần Đăng Khôi, 2 tuổi ở Quảng Trị bị bỏng do cháy nhà, gia đình đưa cháu vào TP.HCM chữa chạy rất tốn kém nhưng đầu vẫn lộ xương sọ, được mọi người mách bảo, bố cháu là Trần Đăng Quyền đã đưa con ra Bắc để lương y Thoàn cứu chữa, nhờ đó mà cháu đã khôi phục được cơ bản và trở về quê sinh sống. Thương gia đình cháu nghèo khó, anh Thoàn đã bao toàn bộ chi phí thuốc thang, ăn ở cho hai bố con.

Chị Nguyễn Thị Soi, 50 tuổi, ở xã Đông Đô, huyện Hưng Hà, Thái Bình bị bỏng xăng cả hai tay hai chân vô cùng đau đớn. Chị được gia đình đưa đến ngay lương y Thoàn chữa trị, hơn một tháng thì vết bỏng cơ bản đã khỏi, giờ chị quay lại để phục hồi chức năng. Con gái chị đi theo để phục vụ mẹ, được ở trong một căn phòng sạch sẽ, được anh Thoàn miễn tiền ở, điện nước, còn tiền ăn thì đặt cơm cho bộ phận nấu ăn. Tôi hỏi chị Soi:

- Điều trị ở đây chị thấy thế nào?

- Thuốc tốt lắm anh ạ, bôi vào mát rượi, thay băng không bị dính. Bác Thoàn lại tận tâm, vui vẻ, miễn phí tiền nhà, tiền điện nước chứ như nằm viện không có bảo hiểm y tế như em thì có nước mà vay nợ hay bán nhà.

Dãy nhà khám và điều trị cho bệnh nhân của lương y Thoàn mà bệnh nhân hay gọi là ngôi nhà tình thương, gồm 8 phòng, 1 phòng khám, 7 phòng ở, mỗi phòng 2 giường, tất cả đều sạch sẽ, có mắc điều hòa hai chiều. Ngày đông nhất có đến 50, 60 bệnh nhân đến khám, nặng thì ở lại điều trị nội trú, nhẹ thì tự mua thuốc về điều trị. Cho đến nay, sau hơn 30 năm chữa bệnh cứu người, lương y Đào Viết Thoàn đã khám và điều trị cho hơn 30.728 bệnh nhân bị bỏng và vết thương lâu liền mà không để lại di chứng gì, đem lại hạnh phúc vô bờ bến cho hàng vạn người. Anh cũng miễn tiền thuốc, tiền công, tiền nhà ở, điện nước cho 11.574 bệnh nhân là đối tượng chính sách, Mẹ Việt Nam anh hùng, bố mẹ liệt sĩ, anh chị em thương binh, bệnh binh, nạn nhân chất độc da cam, người tàn tật, trẻ mồ côi, trẻ em dưới 6 tuổi, bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân nghèo số tiền 8 tỷ 650 triệu đồng. Anh cũng gom góp được 250 triệu cho xã để làm con đường vào thôn Đồng Ấu và làm nhiều từ thiện khác.

Tôi tò mò làm phép tính và nói với lương y Thoàn:

- Gần 40.000 bệnh nhân nếu anh chỉ thu mỗi người 1 triệu cũng được gần 40 tỷ.

- Bệnh nhân, mình bắt thu thế nào họ cũng phải chịu, nhưng họ hầu hết là nông dân nghèo, có những người không có tiền ăn, tiền đi xe về quê, tôi còn phải giúp họ thì làm sao dám làm giàu trên nỗi đau của bệnh nhân.

Không chỉ được bệnh nhân trong khắp cả nước ghi ơn công đức của lương y Đào Viết Thoàn mà anh cũng được tỉnh và Trung ương đánh giá cao, anh là chiến sĩ thi đua toàn quốc, được tặng nhiều huân, huy chương, bằng khen trong đó có Huân chương Lao động hạng Nhì và ngày 30/11/2015, anh được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động.

Hàng năm cứ đến ngày Lễ Phật đản hoặc giỗ sư cụ Thích Đàm Lương, lương y Đào Viết Thoàn lại lên Hà Nội, đến chùa Trắng để thắp hương tưởng nhớ đến sư cụ – người thầy từ bi của mình.

- Boong, boong, boong…

Lương y Đào Viết Thoàn thỉnh một hồi chuông, tiếng chuông ngân nga nhắc nhở anh hãy luôn luôn nhớ lời sư cụ dạy: Chữa bệnh để cứu người!

Nguồn: Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 18.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm