TIN TỨC

Ngôi nhà chung của dân tộc Việt

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-07-15 19:57:20
mail facebook google pos stwis
1916 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

“Chuyện trên biển cần giờ” - Truyện ngắn của Nguyễn Trường in ở Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam số 2+3+4 (2023) Tết Quý Mão 2023.

Truyện khai thác tư liệu lịch sử dưới nhiều góc nhìn của tư duy phản biện.

Để có mạch logic, tạo nên sức hấp dẫn, tác giả đã xây dựng hình tượng đại diện văn hóa - Ông Chế Lan (để độc giả dễ liên tưởng đến vua Chế Mân). Tác giả cho ông nói về sự thật thế và lực hai bên lúc bấy giờ buộc phải hòa hoãn: “Người Chăm ta coi quốc vương Chế Mân lấy Huyền Trân làm vợ là cuộc hôn nhân chính trị. Lúc đầu  hai bên đều cho rằng nhờ cuộc hôn nhân này mà  hai nước sẽ tránh được việc binh đao.

Nhà văn đưa vào truyện sự thật lịch sử dưới góc nhìn của ông Chế Lan: “Nước Chiêm ta cũng có thời hùng mạnh, đã từng 12 lần bắc phạt Đại Việt nhằm chiếm lại châu Ô, châu Lý. Thời vua Chế Bồng Nga đã mang quân ra Bắc, đánh vào Cửa Đại An, tiến thẳng vào kinh thành Thăng Long làm vua tôi nhà Trần phải run sợ”.

Huyền Trân không phải là vương hậu chính thức, nên không được lên dàn hỏa thiêu cùng chồng.

Nó cho thấy góc nhìn thứ nhất của ông Chế Lan: người Chăm không đồng ý với việc giao đất và việc tiếp nhận Công chúa Huyền Trân như là đại sứ văn hóa của người Việt.

Nhưng để nói về sự thật lịch sử như sử ghi thì đọc sử sẽ tốt hơn.

Sáng tạo của nhà văn

Nguyễn Trường đưa đọc giả đi theo mạch hư cấu, vẫn bảo đảm tính logic, khi nói về hoàn cảnh Huyền Trân: “… ngoài người chồng, nàng không biết ai. Nàng bị nhiều thế lực thù ghét và hãm hại, nhất là tể tướng nước Chiêm móc nối với thế lực ngoại bang để cô lập, nhằm tiêu diệt nàng”.

Trong hoàn cảnh đó, tác giả xây dựng hình ảnh Huyền Trân “…đứng bên gốc cây thần hát dân ca nước Việt cho Chế Mân nghe” bài dân ca Cò Lả: “Con cò cò bay l l bay la, bay từ từ chợ phủ, bay ra ra cánh đồng...”. Quốc vương Chế Mân dù không biết tiếng Việt, nhưng vẫn tỏ ra thích thú làn dân ca có tiết tấu như vó ngựa ngài cưỡi khi ra trận lại từ miệng người vợ xinh đẹp yêu quý.

Đó là sức lan tỏa của văn hóa do có điểm chung dựng nước và giữ nước của cả hai dân tộc đã bắt đầu được giao thoa bởi tấm lòng người Việt mang từ kinh đô Thăng Long vào kinh thành Trà Kiệu.

Lịch sử không thể bao quát thời đại nên mới cần đến nhà văn viết dã sử

Ở góc nhìn thứ hai là của Trung và Mỹ Hương. Trong góc nhìn này có sự thật: Một số tàu có mã lực mạnh muốn áp sát con tàu Nghinh Ông, nhưng bị các tàu cảnh sát có tốc độ cao vượt lên dùng cờ lệnh chặn li, tất cả phải tuân theo quy ước, không con tàu nào được chạy vượt mặt tàu Nghinh Ông”. Nó là biểu tượng Nhà nước Việt Nam qua bao đời nay: luôn bảo vệ người Chăm và văn hóa Chăm Pa.

Định kiến mà Mỹ Hương tiếp thu từ người cha đã bị thay đổi do tác động của lịch sử và hiện tại để thành: “Tiếng trống trận, tiếng tù và rúc, tiếng súng thần công nổ vang trời bổng lịm tắt; trước mắt nàng cảnh thành Đồ Bàn đẫm máu, xác người Chăm, người Việt nằm ngổn ngang,...”. Nó là góc nhìn phản biện của lớp trẻ người Chăm trước kiến thức lịch sử của mình hòa quyện các hình ảnh giữ nước khi người Chăm tự nguyện sống chung và bảo vệ ngôi nhà Việt sau này.

Chuyện cho thấy nét nhân hậu của người Chăm qua thông điệp gửi con của ông Chế Lan: “Huyền Trân không có vinh quang được lên đàn hỏa thiêu để theo người hùng Chế Mân; việc trả Huyền Trân về Thăng Long là ý nguyện của Chăm Pa”.

Nó là sự nhân hậu, rành mạch của dân tộc Chăm và người Kinh, một bên muốn trả và một bên muốn đón lại người con đất Việt về lại quê hương, không phải sống lưu vong và có quá nhiều kẻ thù hảm hại.

Nó góp phần lý giải tại sao sau khi gia nhập đại gia đình văn hóa gồm hơn 54 dân tộc được gọi tên chung dân tộc Việt Nam; nhờ sự nhân hậu của các dân tộc; nguồn cội để trở thành ruột thịt, sống chết có nhau trong việc bảo vệ bờ cõi chung, đã thành công trong chống xâm lăng: Tàu, đế quốc Pháp, đế quốc Mỹ và đạo quân nhỏ của Trung Hoa buộc phải tuân lệnh Đặng Tiểu Bình xâm lược biên giới phía Bắc năm 1979.

Và khi Mỹ Hương, trong không hoàn thành nhiệm vụ thì đã có cô gái người Việt sống ở miền tây Nguyễn Hồng Loan làm tiếp. Họ là ruột thịt nên vỡ diễn là chung và nhờ đó, “Chế” Mỹ Hương cũng hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Truyện ngắn kết lại với hình ảnh ông Chế Lan thống lĩnh “đoàn quân của ông có cả người Kinh, người Khme… hòa lẫn với người Chăm thành đội hình vững như đồng” - biểu tượng của sự đoàn kết và bình đẳng của tất cả các dân tộc sống trên đất Việt: ai có tài cao, biết rộng, không phân chia theo tiêu chí dân tộc, mà phân chia theo tiêu chí tài đức; nếu có sức dẫn dắt con dân Việt Nam vì Tổ quốc giang san thì đều được tôn vinh.

Về góc nhìn nhân loại: Truyện ngắn lý giải cuộc chiến Nga – Ucraina hiện nay bắt nguồn từ xữ lý vấn đề dân tộc không đúng, đã dẫn đến chiến tranh giữa hai quốc gia, dân tộc vốn là láng giềng, đã từng sát cánh chống họa phát xít, coi nhau như ruột thịt…

Truyện ngắn cho ta sự hấp dẫn và kiến thức nhờ vào nhiều góc nhìn gọi là phản biện cộng với sự sáng tạo của nhà văn.

Hơi thở cuộc sống từ xưa đến nay thấm đẩm vào truyện ngắn của Nguyễn Trường lại được nhà văn sắp xếp, gọt giũa, sáng tạo thêm nhằm tăng tính logic trong văn học, tạo nên sự hấp dẫn./.

Mời đọc:

“Chuyện trên biển cần giờ”

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm