TIN TỨC

Người lính làm nên huyền thoại

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-08-25 22:21:36
mail facebook google pos stwis
1283 lượt xem

Trần Nguyên Trang 

 

Phải nói, Trần Ngọc Trác là một cây viết tâm huyết với đề tài truyền thống cách mạng. Gặp  ông cách nay đã vài chục năm, tôi vẫn nhớ dáng đi nhanh nhẹn, giọng nói trầm ấm và ánh nhìn thân thiện của nhà văn. Lúc ấy Trần Ngọc Trác là cán bộ của Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh Lâm Đồng. Đã đọc Trần Ngọc Trác nhưng thực sự khi ông đảm nhiệm làm phim " Người lính làm nên huyền thoại "  về Đại tá Lê Kích (cậu ruột thứ Tám của vợ tôi), chúng tôi mới gắn bó  như anh em thân thiết. 

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp về Đại tá Lê Kích

 

Mới đây, Trần Ngọc Trác gửi tặng tôi tập sách mới - tập bút ký " Người nặng tình với đất nước Triệu Voi" ( NXB Hội Nhà văn- 2023) viết về Đại tá 

Lê Kích. Cuốn sách mỏng,  nhưng thông tin và nghĩa tình dầy nặng. Tôi càng trân quý tấm lòng và nhiệt huyết của một người cầm viết luôn tâm nguyện tôn vinh, lan tỏa những con người, những điều không thể mất.

 

 NGƯỜI LÍNH LÀM NÊN HUYỀN THOẠI

 

Đó là lời nhận xét của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về Đại tá Lê Kích. Cách đây hơn hai 

chục năm, tôi có may mắn được "mục sở thị"  cuộc gặp giữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tá Lê Kích do chính biên tập viên Trần Ngọc Trác thu xếp. Trong cuộc gặp thân tình, ấm áp ấy, tổ làm phim của Trần Ngọc Trác và chúng tôi được chứng kiến tình cảm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với người cán bộ mà Đại tướng luôn tin tưởng và trực tiếp giao nhiệm vụ nhiều lần. Sách đã dẫn của Trần Ngọc Trác kể lại, cuộc gặp cuối cùng của Đại tướng và ông Lê Kích vào năm 2001 tại nhà khách T78 (TP HCM).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ôm Đại tá Lê Kích nhận xét: " Tôi đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Lê Kích nhiều lần. Nhưng tôi nhớ mãi 3 lần. Lần thứ nhất trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954. Tiểu đoàn 436 do Lê Kích làm tiểu đoàn trưởng là đơn vị thọc sâu chiến lược của Bộ, mở ra một hướng quan trọng trong chiến cục Đông Xuân, góp phần thiết thực vào chiến thắng Điện Biên Phủ. Lần thứ 2, tháng 12 năm 1960, khi Lê Kích đang làm Tư lệnh Pháo binh Quân khu Tây Bắc, chỉ trong vài giờ tôi gọi Lê Kích về Hà Nội và ngay lập tức điều anh bay sang giúp bạn Lào tiến công thần tốc đập tan căn cứ quân sự Cánh Đồng Chum, giải phóng tỉnh Xiêng Khoảng và khai thông đường số 7. Lần thứ 3, tháng 4 năm 1961, Lê Kích đang làm Trưởng đoàn cố vấn quân sự Quân khu Hạ Lào, tôi giao nhiệm vụ cho Lê Kích làm Chỉ huy trưởng Mặt trận đường 9, khai thông đường Tây Trường Sơn. Sau này, Lê Kích làm Tư lệnh Sư đoàn 2 bộ binh, Tư lệnh Sư đoàn 325 C ở Quảng Trị mùa hè năm 1972..., tôi luôn theo dõi quá trình chỉ huy của đồng chí. Do đó, tôi cho rằng Lê Kích là một con người kiên cường, có quyết tâm lớn, không lùi bước trước khó khăn; là một con người hoàn thành tốt nhiệm vụ trong những lúc khó khăn nhất." Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhìn sâu vào mắt người lính già ( đang khóc ), giọng Đại tướng hào sảng : " Dân tộc ta đã làm được những việc mà có lúc chúng ta tưởng không làm được. Coi như là huyền thoại. Lê Kích là một trong những người của dân tộc Việt Nam làm nên huyền thoại ấy".

Với hơn 100 trang sách nhỏ, "Người nặng tình với đất nước Triệu Voi " của Trần Ngọc Trác không chỉ kể về những tháng năm gian khổ ác liệt của Đại tá Lê Kích trên đất bạn Lào mà những gì lấp lánh nhất trong cuộc đời quân ngũ của " người lính làm nên huyền thoại " Lê Kích được tác giả lột tả sâu sắc. 

 

Sinh ra tại làng An Thạch, xã Phổ An, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Lê Kích tham gia đội du kích Ba Tơ chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Ngày 23 tháng 10 năm 1945, chi đội Lê Trung Đình do Lê Kích chỉ huy đã cho nổ quả mìn đầu tiên , mở đầu cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nha Trang. Cứ thế, ông Lê Kích được giao những nhiệm vụ khi khó khăn nhất trong các chiến dịch lớn của quân đội ta: Chỉ huy trưởng đơn vị thọc sâu chiến lược của Bộ trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954; Cố vấn  Bộ Tổng Tham mưu Bộ đội Pha thét Lào; Chỉ huy trưởng mặt trận  tiến công và giải phóng Cánh đồng Chum- Xiêng Khoảng; Chỉ huy trưởng Mặt trận đường 9; Tư lệnh hai Sư đoàn bộ binh số 2 và số 325C...

Những người lính tham gia Chiến dịch Quảng Trị - mùa hè đỏ lửa năm 1972 không thể nào quên vị Tư lệnh Sư đoàn kiên cường và giàu lòng nhân ái . Những mẩu chuyện đời thường về Tư lệnh Lê Kích 

đến nay vẫn như huyền thoại.

 

NHƯ NGƯỜI CHA THÂN YÊU CỦA CHÚNG TÔI.

 

Tôi gặp ông Lê Kích lần đầu năm 1980 khi tôi quen cháu gái của ông là vợ tôi bây giờ. Tôi nhớ mãi, hôm ấy ông mặc quân phục màu xám mang quân hàm Thượng tá, mũ vải mền có ngôi sao lấp lánh. Ông bắt tay và nhìn thẳng vào mắt tôi: " Thế nào nhà báo quân đội định làm rể nhà này phải không ?" . Câu chuyện giữa chúng tôi càng lúc càng sôi nổi. Ông hỏi thăm gia cảnh, công việc của tôi. Cả những ý định sắp tới của tôi khi cuộc chiến ở biên giới Tây Nam chưa dứt.

Một năm sau, đúng như ông đã hứa,  ngày cưới của chúng tôi, ông có mặt. Ông vẫn bận bộ quân phục màu xám, đội mũ vải mền có ngôi sao lấp lánh. Thời ấy đám cưới bộ đội hầu hết đều thế. Tôi còn nhớ các thủ trưởng trực tiếp của tôi: Trung tá Minh Khoa, Trung tá Đoàn Thành, Đại úy Mai Bá Thiện...cũng " quân phục chỉnh tề " đón dâu và dự tiệc cưới.  

 

Năm 1988 về báo QĐND, tôi thường xuyên lên Học viện Lục quân, nơi ông Lê Kích - Cậu Tám của chúng tôi đang làm Cục trưởng Cục Huấn luyện - Tác chiến. Cậu cháu người lính gặp nhau chuyện chiến trường, chuyện hậu phương không dứt. Khi ông Tám nghỉ hưu, lần nào lên Đà Lạt, chúng tôi cũng đến thăm ông. Nghỉ hưu, ông ở nhà chăm vợ và con gái- cả hai người đều ốm yếu, có hoàn cảnh đặc biệt. 

Nhìn vị Tư lệnh Sư đoàn chỉ huy đánh Nam dẹp Bắc, được coi là Sapaep của Việt Nam lọm khọm chăm vợ con giữa chiều đông cao nguyên mà tôi không cầm lòng được. Ông tự đi chợ, nấu ăn, giặt giũ và làm tất cả những gì có thể làm được cho vợ và con. Có chuyến, sắp xếp được tôi mời ông theo xe của đơn vị về TP HCM thăm cháu con hoặc vào kiểm tra sức khỏe tại Quân y viện 175. Ông thường chọn ngôi nhà nhỏ của chúng tôi cạnh bệnh viện làm nơi lưu trú. Chúng tôi coi ông như người cha thân yêu ruột thịt của mình. Đáp lại, ông cũng tự nhiên như ở nhà mình nên tôi có dịp cùng ông tiếp khách, đó là những người bạn chiến đấu một thời của ông. Câu  chuyện của thế hệ cha anh giúp ích cho tôi rất nhiều trong công việc. Những năm cuối đời, ông Lê Kích mắc căn bệnh khó chữa phải về Quân y viện 175 điều trị dài ngày. Như  con gái của ông, hàng ngày vợ tôi đi chợ, nấu các món mà ông ưa thích. Chăm sóc ông như thân phụ của mình.

Ngày ông về với tổ tiên,chúng tôi " hành quân " cấp tốc lên Đà Lạt để vĩnh biệt ông. Nhìn dòng người như dòng sông cuộn chảy từ khắp nơi đổ về tiễn biệt ông mà lòng trào dâng cảm xúc.

Một người lính làm nên huyền thoại như Đại tướng Võ Nguyên Giáp ban tặng - một chỉ huy quân sự xuất sắc gắn liền với những dấu mốc lịch sử quan trọng của đất nước và QĐND VN...,lại là một người lính Bộ đội Cụ Hồ bình dị. 

Theo thói quen, sau ngày ông đi xa, mỗi lần lên thành phố ngàn hoa, chúng tôi đều  ra nghĩa trang  thắp hương, trò chuyện cùng ông.

Trong tiếng thông reo như gió hú và cái lạnh ngọt ngào, chúng tôi vẫn thấy như ông đang nheo mắt, mỉm cười.

 

Cảm ơn nhà văn Trần Ngọc Trác đã khơi gợi,lan tỏa những con người, những cuộc đời và những điều không thể mất./.

 

Mùa Thu 2023

T.N.T 

 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Xem thêm
Tết này các anh đã về mái nhà chung
Sau gần 60 năm thân phận còn chìm trong bóng tối lịch sử vì những đặc thù khốc liệt của chiến trường đô thị, 49 chiến sĩ Biệt động Sài Gòn quả cảm năm xưa nay đã chính thức được công nhận là Liệt sĩ.
Xem thêm
Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời
65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.
Xem thêm
Thèm sách - Bút ký của nhà thơ Thanh Thảo
Những gì mỗi quyển sách đem lại cho ta, chính ta cũng không biết hết, nhớ hết. Nhưng chắc chắn là có. Và cái có ấy, cái được ấy, sẽ còn lại trong ta cho đến cuối cuộc đời.
Xem thêm
Xuân tha hương..
Bao năm sống nơi xứ người, tóc đã thay màu, đôi chân mòn mõi theo từng bước đường lập nghiệp, trái tim kẻ tha hương vẫn quay quắt hướng về mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Giữa nhịp sống ồn ã của trời Tây, nhiều lúc tôi thấy lòng mình chùng xuống, như ai đó vừa gọi khẽ tên mình từ bờ sông tuổi thơ xa lắc.
Xem thêm
Vó ngựa vùng quê - Bút ký Nguyễn Sự
Cù lao Thới Sơn, phường Thới Sơn (tỉnh Đồng Tháp) được khai thác du lịch từ năm 1988. Do đặc thù vùng sông nước, miệt vườn cho nên doanh nghiệp đã liên kết hộ nhà vườn để đầu tư khai thác du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng với nhiều sản phẩm đặc trưng. Đặc biệt, du khách đến đây được đi xe ngựa len lỏi vào các tuyến đường nông thôn, vườn cây ăn trái.
Xem thêm
Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch
Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.
Xem thêm
Những người yêu rùa biển
Bài đăng Văn nghệ TPHCM số Xuân Bính Ngọ 2026
Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm
Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn
Bài đăng Tạp chí Sông Lam Online
Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm
Chân mây - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Trước khi nghỉ hưu dăm bảy năm. Mình chuyển về phòng làm việc có cửa sổ rộng quay ra mặt hồ. Đó là một hồ nước lớn. Cây cổ thụ xanh mướt vây quanh. Bên hồ là công viên cây xanh nổi tiếng của thành phố. Mùa thu những vòm cây bừng nở những sắc hoa. Khi đó hương hoa ngào ngạt tràn ngập không gian. Hương hoa tràn ngập căn phòng của mình.
Xem thêm