TIN TỨC

Nhà thơ lê Đình Hòa chỉ thấy hoa phượng trắng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-05-04 17:00:03
mail facebook google pos stwis
257 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Thi ca có giá trị gì trên cuộc đời? Câu hỏi ấy có lẽ không dành cho kẻ thờ ơ. Với nhiều người may mắn và thực dụng, thi ca hoàn toàn vô nghĩa. Thế nhưng, với nhà thơ khiếm thị Lê Đình Hòa, thì thi ca là tất cả. Thi ca không chỉ cho anh điểm tựa vượt qua những ngày buồn thương, mà thi ca còn giúp anh có được lương duyên hạnh phúc. Trong bóng tối hẩm hiu của số phận, thi ca giống như đôi mắt cho Lê Đình Hòa nhìn thấy cuộc sống ấm áp, mà thi ca cũng giống như lăng kính để những tâm hồn đồng điệu sẻ chia với từng nhịp đập trái tim Lê Đình Hòa!


Nhà thơ Lê Đình Hòa

Sáng tạo không phân biệt sang hèn, và văn bản nghệ thuật cũng không dành chỗ cho những ái ngại và xót xa. Tôi tin như vậy, khi viết về nhà thơ khiếm thị Lê Đình Hòa, bởi lẽ tác phẩm của Lê Đình Hòa đủ sức để đại diện cho khát khao của anh, mơ ước của anh, run rủi của anh, xao xác của anh. Sinh ra trong gia đình có 6 người con, từ nhỏ Lê Đình Hòa đã có năng khiếu văn chương.

Hiền lành, chăm chỉ và học giỏi, Lê Đình Hòa từng là niềm hy vọng của cả nhà. Bố của anh mất sớm, mẹ của anh - bà Huỳnh Thị Lài chịu đựng góa bụa làm lụng nuôi các con khôn lớn. Không phụ công mẹ, Lê Đình Hòa trúng tuyển vào Trường Đại học Sư phạm Qui Nhơn. Thế nhưng, dự định trở thành giáo viên của Lê Đình Hòa bị cắt ngang vì một biến cố quái ác.

Năm thứ hai ở giảng đường, Lê Đình Hòa cứ thấy mắt mình mờ dần, mờ dần từng ngày. Thương con, bà Huỳnh Thị Lài bán chiếc nhẫn cưới - di vật duy nhất người chồng để lại, hòng chữa chạy cho anh. Những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, bác sĩ chỉ có thể xác định Lê Đình Hòa bị teo dây thần kinh thị giác, nhưng không có phương pháp điều trị.

Lê Đình Hòa nhớ lại: "Tháng 6/1984, tui quay lại ký túc xá để thu dọn hành trang và giã biệt thời sinh viên. Bạn bè ôm tui khóc nức nở, mà tui vẫn chưa hết bàng hoàng vì định mệnh nghiệt ngã ập xuống bản thân nên không rơi được giọt nước mắt nào. Đêm cuối cùng ở Qui Nhơn, tui ra mộ Hàn Mặc Tử ngồi đến sáng. 21 tuổi, tui không biết ngày mai của mình ra sao". Bơ vơ và hoang mang, Lê Đình Hòa trở về mái nhà xưa sống với người mẹ héo mòn vì đau khổ, ở thị trấn Phú Lâm (bây giờ là phường Phú Lâm, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên)

Bóng tối và bóng tối bủa vây, chàng trai Lê Đình Hòa hoạt bát hôm nào chỉ còn biết co ro ngồi trong bóng tối. Bà Huỳnh Thị Lài cũng đã trải qua rất nhiều cơ cực, đôi vai bà đã quá mệt mỏi trước bao nhiêu giông bão tảo tần. Đôi mắt Lê Đình Hòa đột ngột bị cướp đi, thực sự là một đòn chí mạng khiến bà ngỡ như đổ quỵ. Tuy nhiên, với tấm lòng của một người mẹ, bà không nỡ nhìn con trai cứ suy sụp triền miên.

Bà Huỳnh Thị Lài muốn đứa con trai bất hạnh tiếp tục một cuộc sống khác, dẫu mịt mờ hơn, dẫu thiệt thòi hơn. Bà lục tung đống sách vở cũ của Lê Đình Hòa, để tìm lại những bài thơ mà Lê Đình Hòa đã sáng tác thuở mộng mơ mái trường trung học. Bà vốn dân quê chân lấm tay bùn, không thể rạch ròi cái hay cái đẹp của thơ, nhưng bà mong con trai có thể nhờ thơ để giãi bày, nhờ thơ để buông bớt tủi hờn, nhờ thơ để có lối thoát tương lai.

Lắng tai nghe người mẹ quanh năm buôn thúng bán bưng cất giọng nghẹn ngào đọc những câu thơ mình viết dạo nào: "Nhà em ở phía chân trời ấy/ Thương nhớ đi vòng mấy xóm quê/ Những hội ngày xuân nay đã vãn/ Bươm bướm trễ mùa bay ngẩn ngơ", Lê Đình Hòa chợt nhận ra mình còn có thơ. Lê Đình Hòa biết rằng đã đến lúc phải dựa vào thơ để đứng dậy, vì mẹ và vì mình.

Chấp nhận nghịch cảnh, Lê Đình Hòa làm thơ về chính khoảnh khắc đen đủi nhất của mình: “Ta bỏ trường nhung nhớ để ngàn sau/ Làm xa lạ bỏ tình yêu giữa phố/ Chiều nghiêng môi uống cùng ta bão tố/ Trời rưng rưng trăng chín sắp rơi rồi/ Sóng làm ta hoảng sợ chạy mòn hơi/ Ta vấp ngã bên vỉa hè đại học”. Và Lê Đình Hòa làm thơ về cái đêm anh tạ từ Hàn Mặc Tử đắng đót ở đồi gió Quy Hòa: "Chút hương vị phong cùi trên mặt đất/ Ta còn gì giữ lại Quy Nhơn ơi”.

Từ đó, thi ca trở thành người bạn đồng hành với Lê Đình Hòa. Và người mẹ của Lê Đình Hòa bao giờ cũng ngân ngấn khóe lệ khi con trai nhờ chép lại những câu thơ vừa được hình thành trong tâm trí, dù lắm lúc là những lời buồn váng vất khôn nguôi: “Cuộc chơi đến nỗi mía trổ bông cũng hóa thành lau trắng/ May mà cõi thơ còn sót một nhành trăng/ Mùi hương gần quá không thơm nữa/ Riêng đóa vô ưu nở vĩnh hằng”.

Tôi quen Lê Đình Hòa đã hơn 30 năm, có tình đồng hương và có tình văn chương. Mỗi dịp về Phú Yên, tôi đều ghé thăm Lê Đình Hòa và cố gắng thu xếp đưa anh đi chơi đâu đó. Nhà của Lê Đình Hòa cách trung tâm thành phố Tuy Hòa khoảng 5 cây số, phân định bằng bên này và bên kia sông Đà Rằng.

Có lần ngồi sau xe tôi, Lê Đình Hòa bất chợt ngâm nga: “Một khúc sông bốn cây cầu lữ thứ/ Ta và em cuộc gặp tình cờ”, khiến tôi giật thót. Đúng là có bốn cây cầu nối dọc nối ngang ở khu vực này, nhưng tôi chưa bao giờ để ý. Tôi tỏ vẻ thán phục, Lê Đình Hòa thật thà: “Tui bị mù, dễ gì được ra khỏi nhà, nên mỗi khi đi phải luôn cố gắng cảm nhận và thu nạp xung quanh để tự bù đắp cho mình”.

Các anh chị em của Lê Đình Hòa lần lượt lập gia đình riêng. Lê Đình Hòa lủi thủi ở nhà với mẹ già. Mỗi ngày, ngoài thời gian nghe đài, Lê Đình Hòa dò dẫm trong ngõ hẻm quanh co bên hông chợ Phú Lâm. Anh thuộc từng mảng tường loang lổ, và thuộc từng căn hộ láng giềng cách xa bao nhiêu bước chân.

Từng tháng từng năm trôi qua trong thơ Lê Đình Hòa, như những trang nhật ký. Lê Đình Hòa nghe được sự chuyển mùa lặng lẽ: “Một chút mơ màng trong sương tím/ Hồ thu vừa khép cánh sen thơm/ Mình có ai đâu mà lỡ hẹn/ Chiều ngồi bó gối đợi trăng lên”, nghe được sự thay đổi bần thần: “Hôm nay mưa xóa mờ phong cảnh/ Trắng cả cành dâu sẫm lá tơ/ Nào hay thoáng chốc đàn chim lạnh/ Mang cả mùa đông vội vã về” và nghe được cả sự hiu quạnh cá nhân: “Chao ôi, ngày đuối trên sông cạn/ Tóc dại hồn nhiên ngập trắng đầu”.

Không khó nhận ra, thơ Lê Đình Hòa thường xuất hiện từ "trắng", đấy là màu sắc lờ mờ ám ảnh cuối cùng trước khi anh mất hẳn ánh sáng. Lê Đình Hòa thổ lộ: “Người ta nhìn thấy hoa phượng đỏ, còn mùa hè chấm dứt giai đoạn bút mực của tui chỉ có hoa phượng trắng”.

Tôi dám chắc, những ai đọc thơ Lê Đình Hòa cũng vẫn thấy sức quyến rũ của hoa phượng trắng, khi anh rộn ràng: “Mây trắng nhập vào hoa phượng trắng/ Ta ngồi xếp lại giấc mơ xưa/ Người đi về phía vang rền nắng/ Phố cũ nhìn theo mộng hải hồ” và khi anh tư lự: “Hai con mắt chói lòa hoa phượng trắng/ Tóc mấy sợi nhàu chờ hóa mây bay”.

Lê Đình Hòa nói chuyện nhỏ nhẹ và sâu sắc. Tôi dám chắc trước khi bị mù thì anh cũng được không ít cô gái thầm thương trộm nhớ. Lê Đình Hòa chân thành xác nhận, tuổi cập kê anh cũng có mối tình với nữ sinh cùng trường, nhưng từ ngày anh khiếm thị thì không còn liên lạc nữa. Mối tình đang nồng nàn bỗng bất ngờ cách ngăn trớ trêu ấy, lâm ly như thơ anh viết: “Một lần liều mạng đến thăm em/ Chiều đã cài then nắng ngủ thềm/ Lơ mơ tôi đứng bên hàng giậu/ Thiên lý u buồn phảng phất hương”, và cũng đành cầu chúc cho người xưa an vui lấy chồng: “Những áng mây bay rối nửa trời/ Những hình dung cũ em xa xôi/ Đèn hoa hòa bóng hoa giăng mắc/ Anh biết làm sao thương nhớ ơi”.

Cứ ngỡ Lê Đình Hòa phải vò võ một mình với ngổn ngang lận đận “Nghe gió mách những lời ác độc/ Tôi buồn vì cô hàng xóm ở không/ Ba năm tu chùa không bằng một ngày tu chợ/ Soi gương không thấy bóng mình, chỉ thấy bóng cô đơn”, thì có một ngẫu nhiên long lanh cổ tích. Tình cờ đọc được một bài báo viết về Lê Đình Hòa, cô giáo Trần Thị Hạnh đang dạy mầm non ở thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, Bắc Kạn đã viết thư làm quen và động viên anh.

Thư đi thư lại cũng thấy bất tiện vì anh phải nhờ người đọc giùm, Trần Thị Hạnh quyết định thu âm những tâm sự của mình để gửi vào miền Trung cho anh nghe. Cô giáo Trần Thị Hạnh cũng có làm thơ với bút danh Hạnh Vân, nên hai trái tim nhanh chóng có cùng nhịp đập.

Có được hồng nhan tri kỷ, Lê Đình Hòa quyết định tỏ tình: “Có ai về Bắc Kạn anh nhắn thăm/ Em không thể chỉ là em gái/ Ước gì cha mẹ đừng già, chúng mình trẻ mãi/ Chân trời góc bể tìm nhau”. Thấu hiểu hoàn cảnh Lê Đình Hòa “Đêm thật buồn, đêm như vực sâu/ Anh đăm đắm nhìn về phương Bắc/ Anh sống được nhờ thơ, nhờ hoa và nhờ ảo giác/ Và nhiều khi anh sống nhờ nước mắt”, Trần Thị Hạnh ngồi xe đò vượt hơn ngàn cây số tìm đến tận nhà anh cho thỏa mong ngóng. Bàn tay nắm lấy bàn tay, ấp iu và gần gũi, không ai nỡ chia lìa.

Biết bản thân tự xoay xở đã khó, mà Trần Thị Hạnh cũng phải đối mặt với sự khuyên can của dòng họ, Lê Đình Hòa ngậm ngùi cho cơ duyên trùng phùng: “Thôi đừng buồn nữa Hạnh Vân/ Đêm màu trắng, người phân thân tìm người/ Vết thương gào xé trêu ngươi/ Xót xa ai biết, ngậm ngùi ai hay”. Thế nhưng, Trần Thị Hạnh vẫn quyết định làm dâu đất Phú Yên. Đám cưới của họ được tổ chức giản dị vào cuối năm 2004. Chuyện tình đẹp như một truyện phim của họ được đánh dấu bằng sự ra đời của đứa con gái Lê Trần Phương Anh!

20 năm qua, vợ chồng nhà thơ khiếm thị Lê Đình Hòa đỡ đần và che chở nhau vượt qua những chật vật cơm áo với niềm tin "bên dốc kia vẫn còn dung dăng nắng". Đôi khi hạnh phúc chênh chao, Lê Đình Hòa xoa dịu bằng thơ: “Thưa em chuyện đã lỡ rồi/ Xin em bỏ quá cho người chiêm bao". Thương chồng và tháo vát, Trần Thị Hạnh ngược xuôi vun đắp cho tổ ấm của mình ngày thêm vững bền. Đáp đền ơn vợ, Lê Đình Hòa chắt lọc tài sản thi ca sống trong bóng tối vừa qua của mình, để in tập thơ lấy tên là “Cõi Hạnh”.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nơi sâu thẳm trái tim vị tướng
Bài viết của Trung tướng, PGS-TS NGUYỄN ĐỨC HẢI, Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược quốc phòng, Bộ Quốc phòng
Xem thêm
Đan Thanh - nghệ sĩ kết nối thi ca và hội họa
Với hiểu biết khiêm tốn của một nhà giáo hâm mộ văn học nghệ thuật, tôi được biết thầy giáo - nhà văn Nguyễn Thanh. Thầy Nguyễn Thanh tên thật là Nguyễn Tấn Thành sinh ra tại xã Tân Quới, quận Bình Minh, Cần Thơ (nay thuộc Vĩnh Long). Khi làm văn nghệ, thầy Nguyễn Thanh còn dùng những bút danh khác để viết cho nhiều thể loại bài khác nhau : Thanh Huyền, Ngũ Lang, Đan Thanh, Phương Đình, Tương Như, Diễm Thi, Minh Khuê, Minh Văn, Lan Đình, Chàng Văn… Thầy tốt nghiệp Đại học Sư phạm - Cử nhân Văn khoa và đã qua 3 năm chưong trình Cao học Văn chương và Ngoại ngữ tại Đại học Văn khoa Sài Gòn (1975).
Xem thêm
Giao hưởng Điện Biên – thành tựu mới của nhà thơ Hữu Thỉnh
Chiến thắng Điện Biên là một chiến thắng vĩ đại của chúng ta “Lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu” (Tố Hữu). Chiến thắng đó làm rạng danh nước Việt trên thế giới. “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi). Ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ Quyết chiến Quyết thằng bay trên nóc hầm tướng Đờ cát, ngày 12 tháng 5 Bác Hồ đã có bài thơ dài đăng trên báo Nhân Dân : “Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ”. Rồi sau đó Tố Hữu mới có bài thơ nổi tiếng “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”. Điện Biên còn được các nhà thơ, nhà văn Việt Nam nhắc đến nhiều trong các bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết. Điện Biên cũng được nhắc đến trong các cuốn sách của đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh, nhà báo của ta và phương Tây.
Xem thêm
“Chia lửa” với chiến dịch Điện Biên Phủ
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 122, thứ năm 2-5-2024
Xem thêm
Lãng tử trong đời, chí thú trong văn
Bài viết về nhà văn Nguyễn Hoàng Thu trên báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam
Xem thêm
Trong màu xanh Vàm Cỏ
Nhà văn Hào Vũ, sinh năm 1950. Quê quán: An Hải, Hải Phòng. Dân tộc: Kinh. Hiện thường trú tại 6/3 Cư xá phường 3, thành phố Tân An, tỉnh Long An. Vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984.
Xem thêm
Đỗ Thành Đồng và chuyển động đường thơ
Sau gần 15 năm đắm say đến điên cuồng với thi ca, nhà thơ Đỗ Thành Đồng, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đã xuất bản 7 tập thơ.
Xem thêm
Chuyện tình khó quên của Trịnh Công Sơn
Bài viết của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn
Xem thêm
Nhà văn Di Li: Tôi bị hấp dẫn bởi người đàn ông nhân văn, tử tế
Tôi nghĩ rằng, là người văn minh thì phải chấp nhận sống chung với sự khác biệt, tuy nhiên, sự khác biệt đó nếu không tốt, muốn người ta thay đổi thì mình sẽ góp ý. Và cách góp ý của mình cũng khá hài hước nên người nghe không mấy khi khó chịu.
Xem thêm
Người tốt trại Vân Hồ
Nhà văn Trung Trung Đỉnh, Giải A cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn, 1998 – 2000) với tiểu thuyết Lạc rừng. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Xem thêm
Nhớ nhà báo Phú Bằng
Đọc bác Phú Bằng từ lâu, khi tôi còn trực tiếp cầm súng ở Trung đoàn 174 Sư đoàn 5 thời chống Mỹ. Lúc ấy bác Phạm Phú Bằng là phóng viên báo QĐND được tăng cường cho báo Quân Giải phóng Miền Nam.
Xem thêm
Nhà văn - dịch giả Trần Như Luận với tác phẩm “Tuyển tập 12 truyện ngắn Anh - Mỹ kinh điển, lừng danh”
Tháng Sáu 2022, trên Báo Thanh Niên rồi Tạp chí Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, nhà báo Hà Tùng Sơn và nhà phê bình văn học Vân Phi giới thiệu tác phẩm thứ 7 của nhà văn Trần Như Luận (TNL): tiểu thuyết Gương Mặt Loài Homo Sapiens. Trước đó, anh từng gây tiếng vang nhờ giá trị đáng kể của bộ tiểu thuyết Thầy Gotama và 8000 Đệ Tử dày tới 1.200 trang, trình làng năm 2014. Chúng tôi cũng biết tới cả trăm tác phẩm dịch của anh, cả thơ và truyện, xuất hiện trên các tạp chí Văn nghệ Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, Văn nghệ Quân đội, Non Nước, Sông Hương, v.v… Xuân Giáp Thìn 2024, nhà văn ra mắt một “dịch phẩm” hoàn toàn mới: Tuyển tập 12 truyện ngắn Anh – Mỹ kinh điển, lừng danh. Sách dày 320 trang, bìa bắt mắt. Sách được Liên hiệp các Hội Văn học-nghệ thuật Việt Nam thẩm định chất lượng và hỗ trợ kinh phí; NXB Hội Nhà văn cấp phép. Nhân một cuộc hẹn thú vị tại Quận 7, TP Hồ Chí Minh, trong một quán cà phê tao nhã, không bỏ lỡ cơ hội, tôi đã thực hiện cuộc phỏng vấn này.
Xem thêm
Nhớ anh Mai Quốc Liên
Bài viết của nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam
Xem thêm