TIN TỨC

Nhà thơ Lê Thị Kim thắp cho mình ngọn lửa…

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-07-18 22:44:07
mail facebook google pos stwis
2963 lượt xem

Chung Tử

 Nói đến cái tên Lê Thị Kim, có người nhắc đến chuyện kinh doanh địa ốc, hay ai đó lại nhấn mạnh rằng chị làm thơ hay lắm. Rồi lại có người khen hội họa mới là tài năng thật sự của chị. Và có anh chàng nọ khen giọng hát hay ngâm thơ của Lê Thị Kim thật ngọt và như ru người ta vào giấc mộng vậy. Ôi, thật lãng mạn! Nhưng bất ngờ lại có một tin trên báo nọ rằng, thời học ở Đại học Khoa học Sài Gòn cũ, cô sinh viên Lê Thị Kim còn là vận động viên bóng bàn xuất sắc, vô địch toàn trường 4 năm liền. Nếu vậy, ắt Lê thị Kim còn là một nhà khoa học gì đó nữa chứ. Thì đúng thế! Quả đó là một khối rubic đa sắc, biến hóa đến kỳ ảo…


 

Nhà thơ Lê Thị Kim.

Duyên thơ và nhạc

Khi gặp Lê Thị Kim mới đây, ởtuổi 62, tôi mới hay chị còn là một phụ nữ đẹp và rất có duyên. Nét duyên ấyđánh át tất cả những hình dung mà mọi người đã thông báo cho tôi. Lúc này tôi chỉ còn nhớ thuở nào, có anh chàng say ngắm nhìn chị, với tình cảm kỳ lạ qua ánh mắt hết sức ám ảnh, đến nỗi đêm về chị phải làm một bài thơ để thầm đền đáp cho chàng trai chẳng bao giờ có thể gặp lại. Đó là bài thơ Đừng nhìn em nhưthế. Nó đã trở thành mốc son cho con đường thơ ca của Lê Thị Kim sau này. Đặc biệt là sau đó, bài thơ ngay lập tức được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ thành bài hát nổi tiếng qua giọng hát của ca sĩ Thu Hiền. Và thật không ngờ, bài thơ này cònđược thêm 4 nhạc sĩ khác cùng phổ, mỗi người một phong cách khác nhau. Bài thơ đã trở thành hiện tượng của những năm đầu thập niên 80. Dường như nhiều bạn trẻthuở đó đều nhớ đến khổ thơ mở đầu ca khúc: “Đừng nhìn em như thế/Cháy lòng em còn gì/Sự nồng nàn của bể/Cuốn mất hồn em đi…”. Điểm nhấn của bài thơ là đôi mắt, đó là nơi dễ khiến người ta xiêu lòng nhất.

Lại có chuyện, chợt nhớ chịkể, có lần khi đến nhà nhạc sĩ Hoàng Hiệp để đưa bài thơ Hư ảo tình ta, nhờ ông phổ nhạc. Nhưng khi ra về, bất ngờ gặp nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu. Ông hỏi nhà thơtrẻ Lê Thị Kim có bài thơ nào mới để phổ nhạc không. Ai dè, Lê Thị Kim nói có và ngồi ngay tại chỗ làm một bài thơ với ý tứ vừa lóe sáng trong đầu. Vừa nghĩvừa chép ra, như trời xui đất khiến vậy. Đúng hai mươi phút sau, Lê Thị Kim hoàn thành bài thơ Vu vơ. Và cũng thật như có cơ duyên hẹn trước, ngay lúc đó, nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu cầm bài thơ còn nóng con chữ, rồi hát luôn một giai điệu vui và tình tứ mang phong vị trẻ trung như một bông hoa phô bày chùm âm thanhđẹp hòa sắc với thiên nhiên. Có thể nói ít có những sự giao cảm lạ lùng giữa thơ và nhạc nhanh như hai dòng điện vậy. Sau này, ca khúc Vu vơ được nhiều ca sĩ trẻ biểu diễn trong một thời gian dài. Mở đầu cho một vệt nhạc và thơ Lê ThịKim được nhiều ca sĩ chọn lựa trong các đêm diễn. Cái tên Lê Thị Kim càng được khẳng định trong giới yêu thơ của TP. Hồ Chí Minh từ đó.

Duyên thơ của Lê Thị Kim ngày càng được nhiều nhạc sĩ phổ thành bài hát. Trong số đó có nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như Hoàng Hiệp, Trương Tuyết Mai, Phạm Trọng Cầu, Vũ Hoàng, Quỳnh Hợp, Quốc Bảo, Hoàng Cương, Giao Tiên…Có thể nói Lê Thị Kim là người được nhạc sĩphổ thơ nhiều nhất hiện nay ở TP. Hồ Chí Minh nếu không nói chị đã đánh dấu kỷlục gần một trăm bài thơ được phổ nhạc. Đã có lần chị chọn lọc 20 nhạc phẩm phổthơ của mình để cho các ca sĩ chuyên nghiệp hát trong buổi trình diễn thơ và nhạc Lê Thị Kim tại TP. Hồ Chí Minh. Chị có quan niệm về sáng tác thơ rất độc đáo:“Làm thơ là đi ngược chiều gió, là leo lên đỉnh tuyết. Không biết điều bất ngờnào đang ở phía trước”.

Tôi lại hình dung quan niệmấy của chị về thơ ca chính là câu chuyện của cuộc đời rất truân chuyên của chịkhi phải đi ngược chiều gió phong ba, bão táp của cuộc đời. Bởi cậu con trai của chị phải vất vả từng bước đi trên tay nạng, khi lâm bệnh; cùng với đó là sự đột ngột ra đi của người chồng yêu dấu – người mà chị nương tựa trong lúc cơhàn nhất và cũng là người tạo nên những nguồn cảm hứng thơ ca trong hàng chục năm chung sống. Thơ cũng như cuộc đời của Lê Thị Kim đều phải leo lên đỉnh núi tuyết để tìm đến ánh sáng mặt trời ấm áp.

Có thể chính vì thế mà thơcủa Lê Thị Kim có những điều mới lạ đối với bạn đọc. Sự dịu dàng cùng với độmẫn cảm đến bất ngờ. Những nhạc điệu bỗng vang lên trong từng câu thơ nồng nàn, thể hiện tình yêu với cuộc sống. Phải chăng vì thế cái duyên âm nhạc đến với thơ của Lê Thị Kim có sẵn trong từng câu thơ đầy sức quyến rũ của chị. Và chịcũng đã từng được chọn là một trong hai nhà thơ được các bạn trẻ yêu thích nhất năm 1990 do báo Tuổi Trẻ tổ chức cũng vì lẽ đó. Đồng thời, chị đoạt danh hiệu“Người phụ nữ tài năng” của TP. Hồ Chí Minh năm 1990. Và cũng chính thời điểm này chị còn là nhà thơ nữ đầu tiên của TP. Hồ Chí Minh, sau ngày Sài Gòn giải phóng, được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.

Hạnh phúc như sờ thấy được!

Đó là sự ngộ ra rất ẩn ý của Lê Thị Kim khi cầm cây cọ. Chị vẽ như lên đồng trong suốt một năm với tất cả sự đam mê, bất chấp mọi thứ lý luận có ở trên đời. Thật kỳ lạ, cái mầm của đường nét, màu sắc tự ùa đến, chị vẽ và vẽ không hề biết mình theo một trường phái nào và khởi động một cách thật sự bản năng, tự nhiên theo một đường dẫn vô thường của tâm linh mách bảo. Liên miên, đó là những đêm thức trắng với hình tượng trong tranh và những màu tím trong suốt. Ngờ đâu, tranh của Kim, như một số họa sĩ nhận xét, đằm thắm và tinh tế. Rồi ít người tưởng tượng nổi, vì ngay sau đó, kẻ “bôi sĩ” này dám mở một cuộc triển lãm cá nhân năm 1993 với một sự tự tinđến kỳ lạ. Lại càng khó hình dung hơn nữa khi Lê Thị Kim bày 38 bức tranh sơn dầu nhưng đã “bị” nhiều khách niêm phong ký tên mua liền 22 tác phẩm. Một thành công hiếm thấy ở một họa sĩ nữ lần đầu tiên bày tranh. Và thế là người ta làmđơn sẵn để đưa nhà thơ Lê Thị Kim ký tên xin vào Hội Mỹ thuật TP, nhưng chịkhông dám ký, vì nghĩ rằng mình chỉ liều chơi với màu sắc vậy thôi.

Hình tượng cô gái áo tím ngày nào khi học ở trường Gia Long, luôn luôn ám ảnh tạo nên một cảm quan sâu sắc trong thơ và tranh của Lê Thị Kim. Sau đó là những triển lãm riêng lần thứ hai và ba ở TP. Hồ Chí Minh (1995) và ở Mỹ (năm 2002), tranh của chị vẫn lấy chủ đạo màu tím trong hình tượng hay trong cảm xúc, ẩn giấu những nỗi niềm buồn vui, đau khổ, thất vọng cũng như sự khao khát cháy bỏng vượt qua những đổ vỡ,mất mát trong cuộc sống. Lê Thị Kim đã dựng nghiệp từ những thành công của màu sắc. Lần này, họ lại làm đơn và ký sẵn, thúc chị ký tên để vào Hội Mỹ thuật TP.Đây là một hiện tượng rất lạ trong giới Mỹ thuật TP khi chị hai lần được mời vào Hội một cách “sát sạt” đến vậy.

Nhà thơ Lê Thị Kim coi việc cầm cọ như một sự giải thoát. Tính đến nay, chị đã bán được tới 200 bức tranh; một kết quả rất khả quan đối với một người tay ngang ở tuổi 43. Sau này, khi bước sang lãnh địa kinh doanh địa ốc, chị đã có những day dứt khôn cùng vì chuyện mưu sinh và cứu rỗi những gì mất mát trong cuộc đời. Ấy thế rồi, đời người có được mấy cái mười năm. Mười năm làm thơ. Thành công! Mười năm vẽtranh. Thành công! Và mười năm kinh doanh. Cũng thành công! Nhưng giờ đây, mọi chuyện đã đóng băng với đất cát. Chị rối bời trước sự lựa chọn, như ngày nào chị đã viết những câu thơ chân thực trong bài Chông chênh. Nhưng rồi thơ lại thúc giục chị. Sắc màu lại lên tiếng kêu gọi khi chị vẫn ngày đêm vẽ và phụtrách CLB họa sĩ nữ Ngân Hà của TP. Hồ Chí Minh.

Mới đây nhất, trong triển lãm vào tháng 10/2012, chị đã trưng bày tác phẩm Đốm lửa hy vọng, vẫn với phong cách thực, ảo đan xen, bức tranh của chị thể hiện sức vượt lên những vấp ngã, khốn khó và bất hạnh. Ẩn sau hình tượng là những đốm lửa hy vọng và đó là điểm tựa cho ý chí tồn tại và tràn ngập niềm tin. Ngắm bức tranh mới của chị tôi chợt nhớ đến những câu thơ rất đời và cũng rất bay bổng của Lê Thị Kim. Bởi chịlàm thơ: “Để dấu trong hư ảo/Nửa vầng trăng không đầy/Để dấu trong hư ảo/Mảnh tình gày xót xa”. Còn chị vẽ: “Để trái tin hoang mạc/Thôi khóc cười bơ vơ/Thắp cho mình ngọn lửa/Thánh thiện và ước mơ”.

Hiện tại, chị vẫn phải tiếp tục “đi ngược chiều gió” với từng bước chân của người con trai hướng tới chân trời mới với nhiều hy vọng cùng những điều mới lạ còn ở phía trước. Bông hoa tím ngày nào vẫn ám ảnh trong thơ và tà áo tím vẫn dịu dàng tạo nên độ cong huyền ảo trong tranh Lê Thị Kim. Bởi vẻ đẹp của sự “thánh thiện và ước mơ” luôn luôn tràn ngập trong tâm hồn nữ sĩ.

C.T

* Đôi nét về nhà thơ Lê Thị Kim:

Tên khai sinh là Lê Thị Ngà, sinh ngày 31/3/1950, quê thị xã Cửa Tiền, tỉnh Thanh Hóa. Chị tốt nghiệp Khoa Hóa – Trường Đại học Khoa học Sài Gòn năm 1976, về làm việc tại Phân viện Khoa học Việt Nam – TP. Hồ Chí Minh. Từ năm 2001, chị chuyển sang ngành Quản trị Kinh doanh địa ốc, làm Phó Giám đốc Trung tâm Tư vấn tiếp thị Công ty CP Đầu tư kinh doanh nhà.

Những năm 1979 đến 1982, chị là nhà thơ nữ duy nhất trong nhóm ca khúc của Hội Trí thức yêu nước TP. Hồ Chí Minh và đã đi lưu diễn ở rất nhiều nơi, đặc biệt là ở các tỉnh miền Tây.

Năm 1981, Lê Thị Kim là hội viên sáng lập Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh, từng là Ủy viên Ban Chấp hành Hội khóa IV – V (2001 – 2010), Chủ nhiệm Câu lạc bộ Văn học, Phó Chủ tịch Hội đồng Thơ; Ủy viên Hội đồng Thơ khóa VI (2010 – 2015), Uỷ viên Ban Chấp hành – Trưởng ban Nhà văn nữ, Trưởng ban Câu lạc bộ Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh khóa VII (2015 – 2020). Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 1990, Ủy viên Ban Nhà thơ nữ phụ trách phía Nam. Đồng thời, chị còn là Chủ nhiệm Câu lạc bộ Họa sĩ nữ Ngân Hà thuộc Hội Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh từ 1998 tới nay.

Tác phẩm:

Thành phố tháng Tư – thơ (in chung với Nguyễn Nhật Ánh), NXB Hội Nhà văn 1986; Khi tình yêu đến – thơ, NXB Văn nghệ 1988; Đóa quỳ hư ảo – thơ, NXB Trẻ 1991 (tái bản 2 lần); Sương bụi tình yêu – thơ, NXB Văn nghệ 1997 (tái bản năm 2003, 2005); Em lạc đâu sao kim (2020)…

Giải thưởng:

  • Giải A thơ hay nhất năm 1978 của báo Văn Nghệ;
  • Danh hiệu Nhà thơ trẻ được yêu thích nhất TP. Hồ Chí Minh năm 1990, do bạn đọc báo Tuổi trẻ bình chọn;
  • Biểu dương 20 năm Văn học trẻ TP. Hồ Chí Minh (1975-1995);
  • Biểu dương 30 năm Văn học TP. Hồ Chí Minh (1975-2005).

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm