TIN TỨC

Sức hấp dẫn của nhà văn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-21 08:43:08
mail facebook google pos stwis
2656 lượt xem

NGUYỄN TRƯỜNG

(Đọc “Qua sông nhặt bóng”, tập bút ký chân dung văn học của Lê Huy Mậu - NXB Thanh niên 2022)

Bạn đọc cả nước biết đến Lê Huy Mậu với 12 tập thơ và trường ca đã xuất bản, một nhà thơ nặng lòng với quê hương, xứ sở;  anh còn là cây bút văn xuôi có sức nặng của chữ nghĩa. Ngoài tập truyện ngắn “Giá người”, tập tản văn “Trang viết nét người”, anh còn có mấy chục bài bút ký chân dung văn học hợp thành tập “Qua sông nhặt bóng” viết về các nhà văn, nhà thơ, người thân, người sơ nhưng với tinh thần trách nhiệm cao, đã trở thành tập bút ký chân dung nhà văn hấp dẫn bởi  giọng văn “vừa chân tình, vừa uyên bác”, đôi khi nhận định, khái quát thành triết luận.

Trước hết tác giả phải sống thật với nhân vật của mình, quan sát, suy nghĩ, tìm tòi về họ. Có nhân vật nhà thơ chơi thân, rất thân, hàn huyên vui đùa, chia sẻ... mà chưa đọc của nhau, chưa biết “cái thằng bạn thân” có tác phẩm nào, nhưng khi bạn qua đời, anh mới đọc lại những sáng tác của bạn, vào mạng tìm thông tin về bạn, để viết và bình luận một cách xúc động. Những bài như: “Về Vinh nhớ Chính Tâm”; “Thạch Quỳ- hạt bụi người”; “Trầm tích Hoàng Trần Cương”; “Nhớ nhà thơ Nguyễn Huy Hoàng và chữ “gut”; “Về Đoàn Xuân Hòa”; “ Với Giáp Văn Chung: dịch và viết là sự trả ơn hai miền đất” v.v... Nhân vật được khắc họa rõ nét  từ tính cách, lối sống, đến suy nghĩ, hành động, trong đó có mâu thuẫn, có đúc kết thành tư tưởng; xum xuê, sinh động chẳng kém gì truyện ngắn. Những bài viết về chân dung nhà văn thường khô khan, kể ra những tác phẩm của nhân vật, có khi tếu táo vài nét tốt xấu, mà thường tốt nhiều hơn xấu, còn nếu có xấu thì cũng chỉ là nhân vật chân thành đến ngây thơ nên vướng phải. Nghĩa là đọc thể loại này rất mệt. Nhưng ở “Qua sông nhặt bóng” của Lê Huy Mậu lại khác. Đọc những nhân vật là nhà văn, nhà thơ qua cách thể hiện của anh có cái gì đó cuốn hút tôi, cứ muốn đọc hết nhân vật nhà văn này sang nhà thơ nọ mà không biết chán. Tôi cứ tưởng, ngoài đời Lê Huy Mậu sống lành hiền, ít nói, tránh tranh luận; xù xì, thô ráp của một bác nông dân cần cù trên ruộng đồng xứ Nghệ, hơn là nhà thơ. Một người “Đi cạn đời chưa ra khỏi bụi tre gai” (Thơ Lê Huy Mậu). Nhưng tôi đã nhầm, đọc những bài viết của anh, thấy anh có một phông văn hóa đủ rộng, một triết lý thâm thúy, đặc biệt là tài khái quát về  nhà văn, nhà thơ, có khi một câu thôi đã điểm được thần thái, phong cách sáng tác của người đó. Còn ngoài đời, “Lướt qua một ai đó thôi là Lê Huy Mậu “đọc vị” khá chuẩn” (Vũ Thanh Hoa). Khả năng đó giúp anh tạo dựng chân dung nhà văn: “Tôi đã viết về hàng chục nhà văn, mỗi nhà văn có một sức hấp dẫn văn hóa khác nhau. Muốn viết về họ cần phải, trước hết  là, phát hiện ra sức hấp dẫn văn hóa đó. Nhưng như thế chưa đủ, còn một cần thiết khác, là sau đó, cần phải có những chi tiết quan sát bằng mắt và bằng giao tiếp trực tiếp với họ, cuối cùng mới đến tác phẩm của họ”. Bởi quan niệm đúng đắn đó, Lê Huy Mậu khắc họa về ai là điểm đúng thần thái của người đó. Viết về Nguyễn Duy, anh nhận xét: “Trong thơ chống Mỹ của Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Nhuận Cầm, Trần Mạnh Hảo v.v... là thơ trực tiếp nóng hổi, thì thơ chống Mỹ của Nguyễn Duy chỉ là thứ thơ “gián tiếp” với chiến trường, với chiến đấu, chiến tranh. Đó là “Hơi ấm ổ rơm”. Đó là “Bát nước ngô của bà mẹ Quảng Trị”. Đó là “Cây tre Việt Nam”... Ngay như bài “Bầu trời vuông” viết giữa chiến trường cũng là viết về phút giây yên tĩnh trong chiến tranh. Cái sáng tạo, cái phát hiện mới mẻ trong thơ Nguyễn Duy cũng nằm gọn trong thơ “truyền thống”. Thơ Nguyễn Duy làm phong phú sinh động và lấp lánh thơ truyền thống”.

Với bạn văn Nguyễn Quang Lập, anh viết: “Đọc truyện ngắn Nguyễn Quang Lập, thấy nó phảng phất chuyện núi đồi thảo nguyên của Aimatop. Nó lung linh huyền ảo, ly kỳ và hấp dẫn từ đầu chí cuối.” Anh so sánh: “Tôi bị ám ảnh văn chương của Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Quang Lập. Nguyễn Huy Thiệp sắc sảo, bạo liệt. Còn Nguyễn Quang Lập thì chân thành, trong trẻo đến tận đáy tâm hồn”.

Lê Huy Mậu có “duyên” với  nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, kể từ khi nhà thơ tài hoa Nguyễn Trọng Tạo rút từ trường ca “Thời gian khắc khỏai” của Lê Huy Mậu, phổ thành ca khúc “ Khúc hát sông quê” vừa hay vừa “hot” trên các phương tiện truyền thông, giải trí. Lê Huy Mậu để nhiều tâm trí, nhận xét, so sánh thơ Nguyễn Trọng Tạo với các nhà thơ nổi tiếng khác, sự so sách ấy ngắn gọn, mỗi người anh chỉ dùng có hai từ mà khái quát đến thần tình: “Nguyễn Trọng Tạo thuộc lớp nhà thơ tiêu biểu thời kỳ chống Mỹ. Nếu phải phát biểu ngắn gọn về thơ của lớp nhà thơ này thì thơ Hữu Thỉnh là thơ lấp lánh, Thơ Phạm Tiến Duật là thơ thông minh. Thơ Nguyễn Đức Mậu là thơ đậm đà. Thơ Nguyễn Duy là thơ thuần Việt. Thơ Bằng Việt là thơ trí tuệ. Thơ Vũ Quần Phương là thơ sang trọng. Thơ Nguyễn Trọng Tạo là thơ tài hoa. Thơ tài hoa là thứ thơ khiến người ta có cảm tưởng như đó không phải là kết quả logic của tư duy mà là sự thăng hoa của ngôn từ.”

 Lê Huy Mậu dựng chân dung nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo khá sinh động. Đó là nhà thơ tài hoa - dĩ nhiên rồi, còn là nhà thơ dễ gần, không cố tạo khoảng cách để phân biệt đẳng cấp; biết nâng niu tất cả đối với các cây bút trẻ bằng cách viết lời bạt, lời giới thiệu cho các tập thơ trẻ; khen chê rất chân thành, nhiều khi chân thành  đến cực đoan; một nhà phát hiện tài năng văn học có đẳng cấp trong cả nước. Anh còn nể Nguyễn Trọng Tạo ở sức làm viêc, năng lực làm viêc quái kiệt. Phong cách làm việc đó có cái gì đó cũng nhập đồng, cũng thăng hoa khác thường: “Đành thì tài hoa, sự thăng hoa nào cũng đều bắt nguồn từ một kiến thức thượng thặng. Mà kiến thức thì không thể chỉ bằng cách nào khác có được ngoài sự học, sự đọc, sự tích lũy, sự cày cuốc chăm bẵm trên từng trang sách. Có chăng đó là sự hơn đời trong sự đọc, sự học của họ.”

Đã có nhiều người viết về nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam qua nhiều khóa, nhưng đến Lê Huy Mậu, một Hữu Thỉnh mới hiện lên rõ ràng những đường nét bên ngoài và cả bên trong tâm hồn: “Hữu Thỉnh là nhà thơ, là người lãnh đạo cao nhất của Hội Nhà văn. Anh “công chúng” như một chính khách, như một diễn viên “hot” ... Tài văn đất nước ta thời nào cũng không thiếu, nhưng tập hợp  những nhà văn đó lại thành một hội...lại không chỉ tập hợp không thôi mà còn hầm bà lằng những mối quan hệ quyền lợi, lại bình xét, tôn vinh, lại chấm giải, trao giải... không có một đại lừng khừng không làm được...Tôi gặp anh Thỉnh lần nào cũng thấy tất bật. Họp hành là một cực hình với người ngán họp. Nhưng anh Thỉnh họp quanh năm, họp liên tục, họp chồng lên họp vậy mà anh chịu được. Vậy mà anh vẫn khỏe, vẫn nhuận sắc, thế mới tài! Có nhà thơ nhận xét, Hữu thỉnh nhiều việc, bận bịu vất vã thế, nhưng không cho Hữu Thỉnh làm việc là nó chết luôn. Anh có tài tháo ngòi nổ một cách tài ba khi những bức xúc căng thẳng trước hội nghị, nhưng Hữu Thỉnh phát biểu cái, các lò lửa trong lòng người tự nhiên tắt ngóm...” Nhiều chuyện về nhà thơ Hữu Thỉnh rất vui, nhưng trên hết vẫn là thơ Hữu Thỉnh. Lê Huy Mậu nhận xét: “Thơ anh Thỉnh lấp lánh, ám tượng. Viết về cái gì cũng tìm ra được chi tiết độc đáo. Thơ mà sao nó xum xuê, tươi tốt như là một truyện ngắn. Nó đánh thức trong người đọc những liên tưởng về không gian, thời gian, về âm thanh, màu sắc. Nó hiện thực cụ thể, nó gần gũi thân thuộc, nhưng lại nghe xa vắng ảo mờ như trong huyền thoại... Những câu thơ hay của anh được nhắc tới nhiều là những câu thơ có “chất” và ý vị . Nó giống như trà ngon, uống xong có dư vị để lại...Hữu Thỉnh viết trường ca mạch lạc và giàu chi tiết như văn xuôi. Thơ anh đằm thắm và đẹp như văn xuôi của Đỗ Chu. Đọc thơ ta nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy và nếm được, nghĩa là thơ không chỉ tác động vào tri giác mà thơ tác động cả lên các giác quan của người đọc”.

Nhiều bài viết về các văn nghệ sỹ, Lê Huy Mậu có những cao hứng xuất thần như thế, trong bài ngắn này, tôi không thể kể hết ra được.

Đa số những chân dung trong tập sách này là người miền Trung, gần hơn là người xứ Nghệ. Người xứ Nghệ giỏi ở mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong văn chương. Đúng như Lê Huy Mậu nhận định: “Phải chăng, với các nhà văn, xuất thân từ những vùng quê càng khắc nghiệt về điều kiện tự nhiên bao nhiêu, càng cằn cỗi về điều kiện thổ nhưỡng bao nhiêu thì mảnh đất dành cho sáng tác của họ càng màu mỡ bấy nhiêu. Nói cách khác, con người phải căng ra, phải trui rèn cả về trí lực lẫn sức lực để chống chọi với hoàn cảnh sống để tồn tại, thì chính nhà văn đó, văn chương được hưởng lợi từ thực tế sống để viết. Những trải nghiệm đến một lúc nào đó, nó trở thành nhu cầu viết, nhu cầu được giải tỏa, nhu cầu được chuyển tải thành những tác phẩm văn chương”. Lê Huy Mậu là người Nghệ, nhận định đó ta hiểu thêm là dành cho cả tác giả nữa.

Thỉnh thoảng Lê Huy Mậu lại  trữ tình ngoài đề, nhiều khi đúc kết như một nhà lý luận văn học, lại có sự ngẫu hứng bay bỗng của hồn thơ, chỉ có nhà thơ mới nói chuẩn xác về nghề đến thế: “Mỗi nhà văn có phong cánh lao động sáng tạo riêng. Các nhà văn lớn theo chỗ tôi biết, thường có chút gì đó hơi đồng bóng, khác thường. Trời phú cho họ một trí nhớ tuyệt vời, một trí tưởng tượng tuyệt vời. Quá trình sáng tạo là quá trình nhập đồng, là sự thăng hoa của trí tưởng tượng”... “Sức nặng của văn chương, tôi cho rằng đó là sự kết hợp giữa tư tưởng và chữ. Chữ là đơn vị đong do. Chữ chắc, văn nặng.” ... “Thiên chức của nhà văn là phải nói lên cái khát vọng của nhân dân, của dân tộc thông qua các hình tượng văn học. Các nhà văn chân chính, dù muốn, dù không cũng phải chạm tới “ kinh mạch” của thời đại. Cho nên, làm nhà văn phải giữ thăng bằng khi đi trên dây sự thật. Tài năng nhà văn không chỉ thể hiện ở khả năng sử dụng nghệ thuật ngôn ngữ mà nhà văn cần phải xâu chuỗi được các hiện tượng ngẫu nhiên trong đời sống, tổng kết được thực tiễn, dự báo được tương lai.”

Có khi anh lý giải về sự sáng tạo văn chương của chủ thể nhà văn rất hình ảnh: “Kiến thức, theo tôi nó như thứ vật liệu cốt yếu, để kết cấu thành các tác phẩm của nhà văn. Chất “kết dính” hay “hồ keo” để kết nối các tri thức đó lại với nhau thành tác phẩm văn chương. Tôi hình dung nó giống như là “nước bọt” của loài chim Yến. Chim Yến “thổ huyết”  “nước bọt” từ trong cơ thể mình ra mà xây tổ. Và tương tự như thế, để tạo ra cái chất kết dính ấy, nhà văn giống như con chim Yến, trước hết phải chứng minh được mình là “chim Yến” đã, còn sau đó là tùy thuộc  vào đôi cánh, để có thể chao liệng hàng vạn dặm giữa bầu trời mênh mông gom nhặt những con côn trùng bé nhỏ trong không trung để lấy chất mà “thổ huyết” thành cái “tổ Yến” – tác phẩm quý giá giàu dinh dưỡng của mình”.

Tôi  trích những bình luận, những khái quát  của Lê Huy Mậu mà không cần chú thích nó ở phần nói về nhà văn, nhà thơ nào, bởi vì những nhận định đó chung cho văn học. Nó trở thành kinh nghiệm sáng tác đối với giới cầm bút.

Nhưng trên hết vẫn là tấm lòng của nhà thơ Lê Huy Mậu, nó như một tấm màng nhạy cảm, chỉ hơi tác động đã rung lên âm thanh của cảm xúc, đặc biệt là với thơ, với đời, với bạn văn một thời sống hết mình vì đam mê văn học. Nếu như trong thơ, Lê Huy Mậu cả đời ám ảnh với dòng sông quê, thì trong văn xuôi, có lẽ tâm hồn anh ám ảnh bởi những bạn văn- người còn, người mất với bao ân tình- được anh  thể hiện trong  “Qua sông nhặt bóng”. Anh đã nhặt được tâm hồn các bạn văn của mình làm hành trang kỷ niệm và tôi tin rằng nó sẽ trở thành “một dòng xanh trong chảy mãi đến vô cùng”.

 Sài Gòn Tháng 6/2022.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm