TIN TỨC

Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh với Dấu thời gian

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-05-01 16:25:07
mail facebook google pos stwis
1930 lượt xem

NGÔ ĐỨC HÀNH

Là nhà báo nên Nguyễn Văn Mạnh có cơ hội đến với nhiều vùng, miền của đất nước. Với ông, cuộc sống luôn vỗ vào trái tim mà bật lên thành thơ. Nhiều khi đó là sự mách bảo, nhà thơ không chủ ý.

Dấu thời gian là tập thơ thứ hai của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh. Ông hiện là Trưởng ban biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, kiêm Trưởng Văn phòng đại diện Thời báo VHNT tại Hải Phòng.

Tên tập thơ cho thấy đó đó là tập thơ của những hồi ức, trong đó có quê hương - thành phố Hải Phòng, thành phố "cửa biển" và những hồi ức về tuổi thơ, bạn bè.... Hay nói cách khác Dấu thời gian là vùng ký ức của tác giả. Tập thơ gồm 54 bài, được tác giả bố cục thành các phần: Phần I có tên “Tiếng quê hương” gồm 16 bài; Phần II có tên “Hành trình ký ức” gồm 19 bài; Phần III có tên “Ngẫm với dòng đời” gồm 18 bài.

Tiếng quê hương”, (phần I) đúng như dụng công sắp xếp của tác giả, là những cung bậc cảm xúc về cố thổ, những hoài niệm đẹp – kể cả dang dở của một mối tình. Thường, con người ta khi đã ở một độ tuổi nhất định thì ký ức càng sống dậy, ngọ nguậy trong tâm hồn.

Bây giờ trút hết bụi đường / Về quê nhung nhớ yêu thương tìm về / Đón mây rụng xuống sông quê / Thuyền trăng neo giữa bốn bề mênh mông...”, đấy là quy luật tâm lý khi nhận ra “Lợi danh thành khói hư không” như trong bài thơ Về quê của tác giả.

Trải qua bến bể nương dâu
Lòng nghe tiếng bạn trên đầu sương phơi
Lại về bên dậu mồng tơi
Tiếng lòng xếp chặt một cơi với trầu

(Bạn quê)

Không chỉ Về quê, cảm thức Nguyễn Văn Mạnh miên man trong Đêm Cát Bà, Mái trường, Trở lại tuổi hai mươi, Bạn quê, Một thoáng Thủy Nguyên, Thuở học trò, Ao làng mùa hạn, Thành phố bên bờ sóng...

Thơ về thời quá vãng, hồi ức về “thời cánh phượng hồng ngẩn ngơ” của Nguyễn Văn Mạnh trong sáng, hồn hậu, chân thành, dẫu bồi lở nhưng hào sảng, kiêu hãnh. Đó chính là “Tiếng quê hương”.

Đảo xa nổi chìm trong sóng / Đèn câu nhấp nháy sao sa / Rực rỡ biển đêm thăm thẳm / Hải đăng Tổ quốc: Cát Bà!”. Đây là khổ cuối trong bài thơ Cát Bà của ông. Chỉ chừng ấy câu thơ thôi, nhưng Hải Phòng hiện lên với tư cách một thành phố cảng, từ trong lịch sử biết bao thế hệ người dân quê ông đã biết vượt sóng ra khơi vì cuộc sống, vì những giá trị thiêng liêng của biển đảo, chủ quyền biển đảo đất nước.

Nơi ta cất tiếng chào đời ở đó
Mái phố rung lên bao cuộc thăng trầm
Nơi ta biết tự mình ra mở cửa
Trơì đất ùa về muôn tiếng tri âm

(Thành phố bên bờ sóng)

Thơ Nguyễn Văn Mạnh, về thi pháp cũng có nhiều loại, có lục bát, có bài thể 5 chữ kết hợp 6 chữ và tự do, điều đấy nói lên rằng Nguyễn Văn Mạnh hoàn toàn phóng túng với cảm xúc. Hay nói cách khác, cảm thức thơ với quê hương trước hết là sự chân thành. Nhờ vậy, Nguyễn Văn Mạnh có nhiều câu thơ hay, nhiều thi ảnh vụt hiện có giá trị mới. ”Cát Bà cô đơn đầu sóng / Tưởng như quên lãng giữa đời / Tụ lửa của lòng dân biển / Thắp lên ngọn đuốc ven trời”, (Đêm Cát Bà). “Ngọn đuốc ven trời” là thi ảnh đẹp, giàu chất thơ.

Là nhà báo nên Nguyễn Văn Mạnh có cơ hội đến với nhiều vùng, miền của đất nước. Và đó là những bài thơ ở phần II, có tên “Hành trình ký ức”. Với nhà thơ luôn vậy, cuộc sống luôn vỗ vào trái tim mà bật lên thành thơ. Nhiều khi đó là sự mách bảo, nhà thơ không chủ ý.

Hoàng hôn nhuộm Kỳ Cùng đến tím
Tóc gió thả hương thắt buộc đến xao lòng
Người ngọc liếc ánh nhìn bịn rịn
Nửa nụ cười, men rượu cũng bằng không.

(Hành trình Xứ Lạng)

Đất mới là nơi ta đến tìm nhau
Làn điệu dân ca nối liền khoảng cách
Hương cà phê gọi đàn ong tìm đến
Tiếng hát em gọi đất hóa nông trường

(Dân ca vùng đất mới)

Từ trái: nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh, nhà văn nhà báo Hoàng Dự , nhà thơ Đoàn Mạnh Phương và nhà thơ Ngô Đức Hành tại Lễ ra mắt Văn phòng đại diện Thời báo VHNT tại Hải Phòng

Trong Dấu thời gian, có mảng thơ về đề tài tình yêu, nhưng bao trùm tất cả đó là tình yêu quê hương, đất nước. Đặc biệt, với trách nhiệm xã hội của thi ca, chùm thơ về đề tài biên giới, hải đảo của ông khá ấn tượng. Có thể kể ra một số bài thơ về đề tài này như: AND của biển, Tiếng biển xanh, Chiều Chi Lăng em hát, Pha Đin, Chiều Ải Bắc tìm em, Bên mộ gió Cô Lin, Bên cột mốc 92...

Chiều nay bên đảo Cô Lin
Đứt từng khúc ruột lặng nhìn Gạc Ma
Một thời bão lửa mưa sa
Nỗi hờn nợ nước thù nhà còn đây

Các anh đã hóa thành mây
Tan vào biển nước vơi đầy nhớ thương
Hóa thành cột mốc biên cương
Cắm trên đầu sóng kiên cường ngàn năm

(Bên mộ gió Cô Lin)

Nếu ai từng có cơ hội đến với quần đảo Trường Sa, sẽ thấy đây là bài thơ xúc động, ám ảnh. Đảo Cô Lin cách Gạc Ma không xa, đứng ở đảo đá Cô Lin nhìn rõ những công trình của Trung Quốc xây dựng trên đảo Gạc Ma mà họ đang chiếm giữ trái phép.

35 năm trước, vào ngày 14/3/1988, trong một cuộc chiến không cân sức, 64 chiến sỹ Hải quân Việt Nam đã vĩnh viễn nằm lại giữa biển sâu để bảo vệ chủ quyền của đất nước tại các bãi đá Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Hôm tôi đến Cô Lin (tháng 4/2023), tôi ấn tượng mãi với đàn chó của các chiến sỹ Hải quân đang làm nhiệm vụ giữ đảo ở đây. Không hiểu sao, đàn chó cứ thay nhau ngồi trên bậc xi măng được xây sát mặt nước biển nhìn về đảo Gạc Ma. Tôi đã viết bài thơ Đàn chó ở đảo Cô Lin. Đúng, chúng không chỉ là vật nuôi thân thiết, người bạn của lính đảo, mà còn là những “chiến sỹ không tên” hàng ngày cùng bộ đội cảnh giới bảo vệ “Biển là quê hương, đảo là nhà”.

Đúng là biển ở đây cũng có linh hồn. 64 chiến sỹ Hải quân đã ngã xuống “Hóa thành cột mốc biên cương / Cắm trên đầu sóng kiên cường ngàn năm”, như câu thơ Nguyễn Văn Mạnh đã viết. Cám ơn ông.

Thực ra, không phải đến Phần III của Dấu thời gian có tên “Ngẫm với dòng đời”, nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh mới “ngẫm”. Ở Phần II, ông đã “ngẫm”, suy tư, ưu tư khi viết những bài thơ dành cho nội thân trong Nỗi đau của cha tôi, “Và chiến tranh tàn khốc / Để lại nỗi đau không nói được thành lời" ; Bến thơ (viết cho con) "Cõi đời thương giận mênh mông / Hiện trong hương cốt trầu không của bà / Biết yêu giận, biết xót xa… / Bắt đầu từ truyện của bà đêm đêm".

Nói như thế để thấy, sự phân chia chỉ mang nghĩa tương đối. "Cửa thiền đâu rồi / Dù tiếng chuông vẫn còn ngân nức nở / Giữa ồn ã tiếng nói cười / Khách rời chùa sao như tan hội?", (Nghĩ trước cổng chùa). Hoặc "Cuộc đời như một cõi mê / Đời quan muôn nỗi ê chề nổi lênh / Đem thơ thả giữa mông mênh / Để thơ quyện với buồn tênh khúc đàn”, (Qua bến Tầm Dương). Không ai "bứng" mình ra được khỏi thời gian, với tư cách là vùng ký ức.

Với nhà thơ, hiện thực chiếu xạ vào tâm hồn, qua ngẫm, ngộ mơi trở thành thơ. Điều này góp phần tạo nên thiên chức của thi ca, đi ra từ cái buồn, cứu rỗi mình, cứu rỗi thân phận bằng cái đẹp.

Là nhà báo nên thơ Nguyễn Văn Mạnh, có tư duy hiện thực. Hay nói cách khác, thơ Nguyễn Văn Mạnh ám ảnh trước hết ở những dữ dội từ cuộc đời. Nói như nhà thơ, TS. Lê Tuấn Lộc, thơ không phản ánh hiện thực thì phản ánh cái gì ? Hoặc như "Ông Hoàng thơ tình" Xuân Diệu từng nói "Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”. Cảm xúc thơ bắt đầu phải là hiện thực.

Trong tập thơ của mình, Nguyễn Văn Mạnh có những bài thơ ám ảnh như Nghĩ về một mặt của chiến tranh...

Chiến tranh
Là quyền uy của những chính trị gia đổi bằng giá máu
Chiếc ghế được tạo thành từ xương và da đồng loại
Nó to và cao hơn khi mỗi quốc gia và dân tộc tan tành.

(Nghĩ về một mặt của chiến tranh)

Bài thơ này làm người đọc suy ngẫm và hiểu được nỗi đau nhân loại khi hơn một năm qua họ được chứng kiến những biến động địa chính trị ở châu Âu, bom vẫn rơi vào máu vẫn đổ. Chiến tranh không bao giờ là trò đùa.

Đọc Dấu thời gian của Nguyễn Văn Mạnh thấy được biên độ cảm xúc của ông. Ông đi từ riêng đến chung, từ mình đến nhân loại. Đó là mạch cảm xúc có tính logic, hay nói cách khác đó là mỹ triết trong thơ. Một số bài thơ như Người đàn bà sau cửa kính, Thơ tặng người công nhân cao su, Người đàn ông hóa đá, Rừng cao su hát..cho thấy Nguyễn Văn Mạnh đã và đang chứng minh thơ ông thuộc về thân phận, không tách rời thân phận.

Gừng cay, muối mặn đinh ninh
Đường xa cái nghĩa cái tình thấm sâu
Qua sông tôi nhớ nhịp cầu
Qua đồng tôi nhớ sắc màu đất quê

(Đến mùa xuân)

Thơ Nguyễn Văn Mạnh cứ thế, xác tín rằng, ông gắn bó với cố thổ, quê hương đất nước; từ đó tiếng thơ cất lời!

Nguồn: https://vlr.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm