TIN TỨC

Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh với Dấu thời gian

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-05-01 16:25:07
mail facebook google pos stwis
2029 lượt xem

NGÔ ĐỨC HÀNH

Là nhà báo nên Nguyễn Văn Mạnh có cơ hội đến với nhiều vùng, miền của đất nước. Với ông, cuộc sống luôn vỗ vào trái tim mà bật lên thành thơ. Nhiều khi đó là sự mách bảo, nhà thơ không chủ ý.

Dấu thời gian là tập thơ thứ hai của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh. Ông hiện là Trưởng ban biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, kiêm Trưởng Văn phòng đại diện Thời báo VHNT tại Hải Phòng.

Tên tập thơ cho thấy đó đó là tập thơ của những hồi ức, trong đó có quê hương - thành phố Hải Phòng, thành phố "cửa biển" và những hồi ức về tuổi thơ, bạn bè.... Hay nói cách khác Dấu thời gian là vùng ký ức của tác giả. Tập thơ gồm 54 bài, được tác giả bố cục thành các phần: Phần I có tên “Tiếng quê hương” gồm 16 bài; Phần II có tên “Hành trình ký ức” gồm 19 bài; Phần III có tên “Ngẫm với dòng đời” gồm 18 bài.

Tiếng quê hương”, (phần I) đúng như dụng công sắp xếp của tác giả, là những cung bậc cảm xúc về cố thổ, những hoài niệm đẹp – kể cả dang dở của một mối tình. Thường, con người ta khi đã ở một độ tuổi nhất định thì ký ức càng sống dậy, ngọ nguậy trong tâm hồn.

Bây giờ trút hết bụi đường / Về quê nhung nhớ yêu thương tìm về / Đón mây rụng xuống sông quê / Thuyền trăng neo giữa bốn bề mênh mông...”, đấy là quy luật tâm lý khi nhận ra “Lợi danh thành khói hư không” như trong bài thơ Về quê của tác giả.

Trải qua bến bể nương dâu
Lòng nghe tiếng bạn trên đầu sương phơi
Lại về bên dậu mồng tơi
Tiếng lòng xếp chặt một cơi với trầu

(Bạn quê)

Không chỉ Về quê, cảm thức Nguyễn Văn Mạnh miên man trong Đêm Cát Bà, Mái trường, Trở lại tuổi hai mươi, Bạn quê, Một thoáng Thủy Nguyên, Thuở học trò, Ao làng mùa hạn, Thành phố bên bờ sóng...

Thơ về thời quá vãng, hồi ức về “thời cánh phượng hồng ngẩn ngơ” của Nguyễn Văn Mạnh trong sáng, hồn hậu, chân thành, dẫu bồi lở nhưng hào sảng, kiêu hãnh. Đó chính là “Tiếng quê hương”.

Đảo xa nổi chìm trong sóng / Đèn câu nhấp nháy sao sa / Rực rỡ biển đêm thăm thẳm / Hải đăng Tổ quốc: Cát Bà!”. Đây là khổ cuối trong bài thơ Cát Bà của ông. Chỉ chừng ấy câu thơ thôi, nhưng Hải Phòng hiện lên với tư cách một thành phố cảng, từ trong lịch sử biết bao thế hệ người dân quê ông đã biết vượt sóng ra khơi vì cuộc sống, vì những giá trị thiêng liêng của biển đảo, chủ quyền biển đảo đất nước.

Nơi ta cất tiếng chào đời ở đó
Mái phố rung lên bao cuộc thăng trầm
Nơi ta biết tự mình ra mở cửa
Trơì đất ùa về muôn tiếng tri âm

(Thành phố bên bờ sóng)

Thơ Nguyễn Văn Mạnh, về thi pháp cũng có nhiều loại, có lục bát, có bài thể 5 chữ kết hợp 6 chữ và tự do, điều đấy nói lên rằng Nguyễn Văn Mạnh hoàn toàn phóng túng với cảm xúc. Hay nói cách khác, cảm thức thơ với quê hương trước hết là sự chân thành. Nhờ vậy, Nguyễn Văn Mạnh có nhiều câu thơ hay, nhiều thi ảnh vụt hiện có giá trị mới. ”Cát Bà cô đơn đầu sóng / Tưởng như quên lãng giữa đời / Tụ lửa của lòng dân biển / Thắp lên ngọn đuốc ven trời”, (Đêm Cát Bà). “Ngọn đuốc ven trời” là thi ảnh đẹp, giàu chất thơ.

Là nhà báo nên Nguyễn Văn Mạnh có cơ hội đến với nhiều vùng, miền của đất nước. Và đó là những bài thơ ở phần II, có tên “Hành trình ký ức”. Với nhà thơ luôn vậy, cuộc sống luôn vỗ vào trái tim mà bật lên thành thơ. Nhiều khi đó là sự mách bảo, nhà thơ không chủ ý.

Hoàng hôn nhuộm Kỳ Cùng đến tím
Tóc gió thả hương thắt buộc đến xao lòng
Người ngọc liếc ánh nhìn bịn rịn
Nửa nụ cười, men rượu cũng bằng không.

(Hành trình Xứ Lạng)

Đất mới là nơi ta đến tìm nhau
Làn điệu dân ca nối liền khoảng cách
Hương cà phê gọi đàn ong tìm đến
Tiếng hát em gọi đất hóa nông trường

(Dân ca vùng đất mới)

Từ trái: nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh, nhà văn nhà báo Hoàng Dự , nhà thơ Đoàn Mạnh Phương và nhà thơ Ngô Đức Hành tại Lễ ra mắt Văn phòng đại diện Thời báo VHNT tại Hải Phòng

Trong Dấu thời gian, có mảng thơ về đề tài tình yêu, nhưng bao trùm tất cả đó là tình yêu quê hương, đất nước. Đặc biệt, với trách nhiệm xã hội của thi ca, chùm thơ về đề tài biên giới, hải đảo của ông khá ấn tượng. Có thể kể ra một số bài thơ về đề tài này như: AND của biển, Tiếng biển xanh, Chiều Chi Lăng em hát, Pha Đin, Chiều Ải Bắc tìm em, Bên mộ gió Cô Lin, Bên cột mốc 92...

Chiều nay bên đảo Cô Lin
Đứt từng khúc ruột lặng nhìn Gạc Ma
Một thời bão lửa mưa sa
Nỗi hờn nợ nước thù nhà còn đây

Các anh đã hóa thành mây
Tan vào biển nước vơi đầy nhớ thương
Hóa thành cột mốc biên cương
Cắm trên đầu sóng kiên cường ngàn năm

(Bên mộ gió Cô Lin)

Nếu ai từng có cơ hội đến với quần đảo Trường Sa, sẽ thấy đây là bài thơ xúc động, ám ảnh. Đảo Cô Lin cách Gạc Ma không xa, đứng ở đảo đá Cô Lin nhìn rõ những công trình của Trung Quốc xây dựng trên đảo Gạc Ma mà họ đang chiếm giữ trái phép.

35 năm trước, vào ngày 14/3/1988, trong một cuộc chiến không cân sức, 64 chiến sỹ Hải quân Việt Nam đã vĩnh viễn nằm lại giữa biển sâu để bảo vệ chủ quyền của đất nước tại các bãi đá Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Hôm tôi đến Cô Lin (tháng 4/2023), tôi ấn tượng mãi với đàn chó của các chiến sỹ Hải quân đang làm nhiệm vụ giữ đảo ở đây. Không hiểu sao, đàn chó cứ thay nhau ngồi trên bậc xi măng được xây sát mặt nước biển nhìn về đảo Gạc Ma. Tôi đã viết bài thơ Đàn chó ở đảo Cô Lin. Đúng, chúng không chỉ là vật nuôi thân thiết, người bạn của lính đảo, mà còn là những “chiến sỹ không tên” hàng ngày cùng bộ đội cảnh giới bảo vệ “Biển là quê hương, đảo là nhà”.

Đúng là biển ở đây cũng có linh hồn. 64 chiến sỹ Hải quân đã ngã xuống “Hóa thành cột mốc biên cương / Cắm trên đầu sóng kiên cường ngàn năm”, như câu thơ Nguyễn Văn Mạnh đã viết. Cám ơn ông.

Thực ra, không phải đến Phần III của Dấu thời gian có tên “Ngẫm với dòng đời”, nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh mới “ngẫm”. Ở Phần II, ông đã “ngẫm”, suy tư, ưu tư khi viết những bài thơ dành cho nội thân trong Nỗi đau của cha tôi, “Và chiến tranh tàn khốc / Để lại nỗi đau không nói được thành lời" ; Bến thơ (viết cho con) "Cõi đời thương giận mênh mông / Hiện trong hương cốt trầu không của bà / Biết yêu giận, biết xót xa… / Bắt đầu từ truyện của bà đêm đêm".

Nói như thế để thấy, sự phân chia chỉ mang nghĩa tương đối. "Cửa thiền đâu rồi / Dù tiếng chuông vẫn còn ngân nức nở / Giữa ồn ã tiếng nói cười / Khách rời chùa sao như tan hội?", (Nghĩ trước cổng chùa). Hoặc "Cuộc đời như một cõi mê / Đời quan muôn nỗi ê chề nổi lênh / Đem thơ thả giữa mông mênh / Để thơ quyện với buồn tênh khúc đàn”, (Qua bến Tầm Dương). Không ai "bứng" mình ra được khỏi thời gian, với tư cách là vùng ký ức.

Với nhà thơ, hiện thực chiếu xạ vào tâm hồn, qua ngẫm, ngộ mơi trở thành thơ. Điều này góp phần tạo nên thiên chức của thi ca, đi ra từ cái buồn, cứu rỗi mình, cứu rỗi thân phận bằng cái đẹp.

Là nhà báo nên thơ Nguyễn Văn Mạnh, có tư duy hiện thực. Hay nói cách khác, thơ Nguyễn Văn Mạnh ám ảnh trước hết ở những dữ dội từ cuộc đời. Nói như nhà thơ, TS. Lê Tuấn Lộc, thơ không phản ánh hiện thực thì phản ánh cái gì ? Hoặc như "Ông Hoàng thơ tình" Xuân Diệu từng nói "Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”. Cảm xúc thơ bắt đầu phải là hiện thực.

Trong tập thơ của mình, Nguyễn Văn Mạnh có những bài thơ ám ảnh như Nghĩ về một mặt của chiến tranh...

Chiến tranh
Là quyền uy của những chính trị gia đổi bằng giá máu
Chiếc ghế được tạo thành từ xương và da đồng loại
Nó to và cao hơn khi mỗi quốc gia và dân tộc tan tành.

(Nghĩ về một mặt của chiến tranh)

Bài thơ này làm người đọc suy ngẫm và hiểu được nỗi đau nhân loại khi hơn một năm qua họ được chứng kiến những biến động địa chính trị ở châu Âu, bom vẫn rơi vào máu vẫn đổ. Chiến tranh không bao giờ là trò đùa.

Đọc Dấu thời gian của Nguyễn Văn Mạnh thấy được biên độ cảm xúc của ông. Ông đi từ riêng đến chung, từ mình đến nhân loại. Đó là mạch cảm xúc có tính logic, hay nói cách khác đó là mỹ triết trong thơ. Một số bài thơ như Người đàn bà sau cửa kính, Thơ tặng người công nhân cao su, Người đàn ông hóa đá, Rừng cao su hát..cho thấy Nguyễn Văn Mạnh đã và đang chứng minh thơ ông thuộc về thân phận, không tách rời thân phận.

Gừng cay, muối mặn đinh ninh
Đường xa cái nghĩa cái tình thấm sâu
Qua sông tôi nhớ nhịp cầu
Qua đồng tôi nhớ sắc màu đất quê

(Đến mùa xuân)

Thơ Nguyễn Văn Mạnh cứ thế, xác tín rằng, ông gắn bó với cố thổ, quê hương đất nước; từ đó tiếng thơ cất lời!

Nguồn: https://vlr.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm