TIN TỨC

Nhà thơ Nguyễn Văn Song và sự kiến tạo thi giới trong “Mẹ và sen”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-03-19 22:12:46
mail facebook google pos stwis
6616 lượt xem

Thầy giáo, nhà thơ Nguyễn Văn Song đến với thơ có thể nói là khá muộn so với tuổi .  Nhưng đã trở thành một tác gia có tiếng trên văn đàn với những giải thưởng cao quý của các cuộc thi lớn. Và rất quen với bạn yêu thơ khi thường xuyên xuất hiện trên các trang báo và tạp chí từ trung ương đến địa phương.

Anh là người điềm đạm, nghiêm cẩn và không thích phô trương. Nên khi tôi có ý định xin phép anh liệt kê giải thưởng “khoe” với bạn đọc niềm tự hào của người cầm bút, anh đã từ chối. Dù đoán trước được điều này nhưng tôi vẫn cảm thấy hụt hẫng. Anh bảo với tôi anh  muốn  để người đọc thẩm định chất lượng tập thơ một cách tự nhiên nhất. Vì anh không theo đuổi thi nghiệp, mà chỉ viết để giải tỏa cảm xúc của mình, đơn giản vậy thôi. Có lẽ đó là lý do đầu năm 2022 anh quyết định in cùng lúc hai tập thơ là ” Đi từ phía cổng làng” và ”Mẹ và Sen” như một lời tri ân gửi đến người mẹ yêu dấu (cũng là độc giả đầu tiên của thơ anh) đã qua đời vào tháng 7 năm 2020, đồng thời cũng là một món quà nhỏ gửi đến những người bạn văn chương cùng độc giả của mình.

Nhà thơ Nguyễn Văn Song

Khi biết ý định này của anh tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì ba năm anh  cầm bút thì hai năm tôi đã được chiêm cảm những thi phẩm rất hay của anh nên tôi vẫn luôn mong anh ra tập thơ đầu tay. nên khi nghe tên tập ”Đi từ phía cổng làng” thì tôi đã rất hài lòng. Nhưng khi biết tập sau anh chỉ chọn những bài về mẹ và sen để in thì tôi thật sự lo. Bởi không nói thì có lẽ ai cũng biết là thời nay lục bát không còn được ưa chuộng như xưa nữa, thậm chí một số bạn thơ của tôi còn không muốn viết lục bát. Họ chê là cũ và mòn, nhạc điệu du dương dễ gây buồn ngủ… Nên việc in một tập thơ lục bát cũng khiến rất nhiều tác giả đau đầu và không muốn mạo hiểm. Đa phần họ chỉ xuất bản nhiều thể thơ với nhau để tránh nhàm chán cho người đọc. Những tập lục bát đã xuất bản mà tôi được biết đều ngồn ngộn thi ảnh, đa tứ, đa sắc lắm biểu trưng, mà đôi khi đọc lại còn thấy thiếu một điều gì đó, nữa là một tập thơ hơn chín mươi phần trăm là lục bát, lại  chỉ có mẹ và sen, chỉ viết về sen và mẹ? Nghĩ vậy nhưng tôi không dám nói ra, bởi so với anh tôi chỉ là một kẻ non nớt, mới cầm bút tập làm thơ nên sợ mang tiếng  dạy tiều phu cầm rìu.

Tuy băn khoăn nhưng tôi vẫn tin vào sự lựa chọn của anh và hy vọng mình sai. Sau một thời gian chờ đợi thì tôi cũng nhận được hai thi phẩm anh gửi tặng. Tôi không băn khoăn gì về tập ”Đi từ phía cổng làng’’ bởi tập này thi ảnh khá nhiều, mà thi ngữ của anh thì luôn tròn sáng như trăng rằm,  nên tập này sẽ ổn. Vì vậy tôi đọc ”Mẹ và Sen ” trước. Thật may, tôi đã đoán sai. Tuy địa hạt trong thi giới  này chỉ có mẹ và sen, nhưng bằng tài năng và bản lĩnh của mình, nhà thơ Nguyễn Văn Song đã biến hóa ra rất nhiều thi tứ . Rồi thăng hoa và tỏa rộng  hai thi ảnh ấy thành những cảnh trí và biểu trưng khác nhau, khiến cho thế giới trong thơ anh cũng đa tầng rộn ảnh chẳng kém những tác phẩm khác. Anh sử dụng thủ pháp đồng hiện ẩn ngữ |(trong sen là mẹ, trong mẹ là sen, trong cả hai là làng, là mọi người, là cuộc sống) nên đã tránh được sự đơn điệu cho tập thơ. Mặt khác, khi cầm bút, anh luôn là người tận hiến và tu dưỡng ý thức nghiêm cẩn , rèn luyện cho thi cốt thi cách được viên mãn. Nên mỗi con chữ là một sự cân nhắc, mỗi bài thơ đều là kết quả của sự miệt mài lao động trong đam mê nên đạt được giá trị thẩm mỹ cao.

Mở đầu tập thơ , thật ngạc nhiên là không phải bài về mẹ, cũng chẳng phải bài về sen mà lại là bài viết về làng. Cứ tưởng như phi logic nhưng lại rất hợp lý. Bởi cả mẹ và sen đều ở trong làng, từ làng mà có. Và ngược lại, trong mẹ và sen là ẩn tàng một phần vía hồn làng. Đây là bài thơ duy nhất viết về làng mà tôi nghĩ là  sự sắp đặt tế vi của tác giả. Bởi vì sau đó làng đã tỏa bóng mình sang bóng của mẹ và sen, vô hình mà hiện hữu trong toàn tập rồi, nên không cần nhắc đến nữa, mà người đọc vẫn thụ cảm được những mạch chảy của làng. Đó là một ngôi làng như bao ngôi làng khác, có hồ sen, có triền đê và tiếng ếch cốm đêm mưa . Cũng  rơm rạ ngập đường, nhưng vẫn mang nét riêng vì nó là nơi nhà thơ ” giấc trưa trốn mẹ ra đồng/ bao năm rồi vẫn phải lòng mùi hương”, ”đêm đông giá buốt ngập trời / ổ rơm thơm thảo quyện hơi mẹ nằm” . Điều này không thể có ở nơi nào khác ngoài cố hương của thi sỹ. Để rồi; “đời tôi bao chuyến đò ngang/ Vẫn đau đáu một cõi làng nơi xa/ chiều nay trở lại quê nhà/ bao nhiêu sợi tóc chợt òa mây bay” (Làng). Chẳng cần tinh ý lắm, chúng ta đã thấy hiện sinh trong làng rõ nét hình ảnh của mẹ và sen. Nếu không có hai hình ảnh này níu giữ, đồng hóa với làng, thì dễ gì khi đi xa lòng anh ” vẫn đau đáu một cõi làng nơi xa”?

Nhớ làng để hữu hình ảnh mẹ:

”Mẹ xé mình, vặn vỡ thoát thai con

Cả trời đất cuồng quay , cả thiên hà tao tác

Bỏ quên mạng mình giữa đôi bờ sống thác

Rạng rỡ ngắm con, mặt trời nhỏ tươi hồng”

Người mẹ lúc này đâu chỉ là của một mình thi nhân, đâu chỉ ở riêng một mảnh làng bé nhỏ nữa, mà đã thoát bay khỏi cái tư hữu, trở thành biểu tượng chung của người mẹ  nông thôn Việt Nam. VÌ khi có con người đàn bà nào cũng trở nên vĩ đại:

‘’Đôi tay mẹ đủ mười đốm chai tròn

Mười khối đá trước bão giông nắng lửa

Bàn chân trần ngược xuôi sấp ngửa

Chạy cơn mưa rào vấp tóe máu đồng xa”

(Mẹ)

Nhưng con còn bé sao hiểu được nỗi cô đơn và sự kiệt lực, đức hy sinh của mẹ;

‘’Mùa đông lội xuống đồng làng

Mẹ gầy sương đổ bóng càng thêm xiêu

Cá rô rét cóng kho niêu

Con đâu biết mẹ mấy chiều tái tê”

(Mùa đông của mẹ)

”Mẹ ngồi sàng nhũng đêm dài

Sẩy từng câu hát thức ngoài thềm sương

Đàn cò gánh gạo canh trường

Mẹ ta đổ bóng trên tường mòn đêm”’

(Đàn cò của Mẹ)

Đọc xong những dòng thơ này mấy ai không xoắn lòng luyến nhớ đến mẹ mình? Dường như tác giả đang kéo giãn niềm thương trong từng máu tim, cốt tuỷ bản thân vào thơ để người đọc quán chiếu lại tâm thức mình, mà cùng anh ngậm ngùi hoài nhớ về mẹ. Từ đó đã thụ cảm và đồng hòa được với những nỗi đau của người mẹ khác. Ví như nỗi đau của người mẹ mù:

”À ơi! Đời mẹ là đêm

Dò đi một bước tủi thêm kiếp tàn

Khát tìm trong cõi nhân gian

Một tia nắng ấm hong tan mưa dầm”

(Lời ru của người mẹ mù)

Và sự cô đơn của người đàn bà đơn thân:

’’Đi trong đêm

Tay tự nắm tay mình thủ thỉ

-Chẳng còn xa

Trò chuyện với bóng đổ dài

Đường hun hút gió”

(Đơn thân)

Hay sự ẩn ức tuyệt vọng của người mẹ già trong cơn sốt đất của những đứa con

“Nhà cao tầng mọc ngút trời

Mẹ ngồi bốn phía tường vôi thẫn thờ

Năm phần đổi chủ lặng tờ

Khoảng sân mẹ đứng phạc phờ bão giông

 

Trông con cả một đời ròng

Mẹ chờ rời khỏi đất không phần mình”

Cứ tưởng người mẹ mù này đã khổ lắm rồi, nhưng vẫn còn một người đàn bà sáng mắt khổ hơn . Vì con bà ấy ‘’Nghiệt oan một chyến đi đường/ Con thành đứa trẻ bất thường , ngây thơ… Không đi đứng, chẳng ngồi bò/ Thể như cây cỏ dần khô lá cành’’

Nên:

‘’Bây giờ con tuổi bốn mươi

Mẹ gần tám chục nghẹn lời ru xưa

Lời ru ít nắng nhiều mưa

Thiếu mây thiếu gió mà thừa bão giông’’

Tôi có cảm giác khi viết những dòng này trái tim tác giả cũng bi thiết, tê điếng cùng nhân vật. Những con chữ như run lên  làm người đọc cũng rưng rức theo.

Rõ ràng hình người mẹ ngay từ đầu và đến bây giờ không phải là một thi ảnh hẹp nông nghĩa nữa . Mà càng ngày càng được mở rộng hơn. Mẹ là mẹ của anh, mẹ là mẹ của người khác.  Và bây giờ thì mẹ đã vượt thoát thế giới thơ sang thế giới thực với những câu chuyện trái ngang trầm thống thường nhật. Thi giới đang được mở rộng, dẫu vẫn không xuất hiện thêm một biểu trưng hay một khách thể mới nào.

nhưng dù thế nào đi nữa thì mẹ cũng trở về với bản nguyên của mình, là bùn nuôi sen;

lặng thầm gạn lọc tanh hôi

chắt chiu nồng đượm dâng lời ngát hương

sen hồng phả gió muôn phương

hết mùa thân xác lại nương về bùn”

(Bùn)

Tài hoa thay, khi nhà thơ còn khai mở thêm cho thi ảnh mẹ của mình một tầng nghia mới nữa:

”Có một đẵn lưng cong

Mỗi sống đốt đo cả nghìn năm tuổi

Mà gánh bắc gánh nam đi suốt dọc dài …

Tấm lưng gầy vết cứa loét quanh năm

….

Chiều nay thêm một lần vặn đốt

Để sau siêu bão lại dịu hiền dáng mẹ ngàn năm’

(Tấm lưng mẹ)

Bài này anh viết khi miền trung đang phải chịu những cơn siêu lụt, đi đâu cũng găp cảnh’’những ai ở nhà khăn tang trắng chít chồng thêm trắng”. Và thi ảnh mẹ ở đây đã được linh hóa, trở thành đất nước. Tấm lưng xước trầy chịt chằng vết thương chính là miền trung thân yêu, gánh hai đầu nam bắc.

Chúng ta đã thấy, bằng sự điêu luyện trong việc thi triển ngôn từ kết hợp với các biện pháp tu từ nghệ thuật , nhà thơ Nguyễn Văn Song đã xây dựng và triển đạt được hình tượng người mẹ diện đa tầng đa nghĩa, mang đầy tính triết mỹ. Đồng thời đã gợi mở

được mạch nguồn yêu thương và khơi dẫn cho thi giới của mình đa âm đa sắc đa sự . chiếu hiện vào lòng người đọc những âm ba thi cảm khó quên. Và nối tiếp lưu lộ cảm dưỡng này , thi ảnh sen cũng được thi nhân khai thác triển đạt không kém phần ấn tượng.

Đầu tiên , sen là chính sen với :

‘’Cánh thơm xòe ngón ngọc ngà

Nhụy vàng gom nắng đậm đà hương trinh

Lá buông phiến lụa dệt xanh

Sắc hương cho vẹn ân tình sợi tơ’’

(Tơ sen)

Ngay từ những câu tưởng như chỉ đơn thuần miêu tả vẻ đẹp khiết tinh của sen , chúng ta đã thấy hiển hiện chút gì đó của mẹ. Khi sen gom nắng dệt ‘’sắc hương cho vẹn ân tình sợi tơ’’ , chu đáo và công tâm như cách người mẹ lo cho bầy con bé dại của mình. Đến bài ” Một lá sen qua đời ‘’ thì mẹ và sen đã là một bản thể đồng hiện:

‘’Vắt cạn thân thảo mộc

Dâng đến tàn xương khô

Sáng nay trong mưa buốt

Chiếc  lá gục bên hồ

Tôi ngồi bên hồ vắng

Giữa mây chiều mồ côi’’

Ngoài ra, sen còn là tình yêu đơn phương trầm lặng thanh quý của người thơ muốn tận hiến tất cả cho người mình yêu. Nhưng vì một nguyên nhân nào đó mà anh chưa ngỏ , để rồi ‘’ càng đượm càng nhanh chạm kiếp tàn’’:

‘’Ta khóc sen tàn hay khóc em

Tình thơ một nụ khép lòng im

Hay ta ngồi khóc ta ngây dại“

Nỡ để sen khô lặng lẽ chìm’’

(Uống rượu cùng sen)

Đồng thời cũng là hóa thân của người yêu thi nhân:

“Gót sen em một ngẩn ngơ

Ngó sen em một dại khờ tinh khôi

Tơ sen em bỏ ngang trời

Níu tôi suốt cả một đời vương mang

 

Niềm sen gieo cõi nhân gian

Tinh khôi giữa những đa đoan nổi chìm

Tôi ngồi đây với lặng im

Lắng nghe sen rỏ vào tim giọt trầm “

(Giọt sen|)

Mỗi một bộ phận của sen là một sắc thái biểu cảm khác nhau, nhưng đều là hình ảnh của người yêu nhân vật “tôi”. Cả hai khổ thơ đều  là sen, tràn đầy sen, chật kín sen. Nhưng không vì vậy mà gây cảm giác nhàm chán. Đây chính là tài dụng ngôn của tác giả.

Mặt khác, sen còn là hiện thân của một số phận mệnh bạc, hưởng dương ngắn ngủi, trượt chân gửi xác bên hồ nước :

‘’Đêm qua một bông sen trắng

Say trăng lịm thiếp trong hồ

Hồn thoát bay đi với gió

Bỏ từng xác cánh bơ vơ

Hồ thu bập bềnh cánh sáng

Trắng loang cay khói sương mờ

Trăng lên rùng mình inbóng

Một người tóc đợi phơ phơ’’

(Sen trắng)

Không chỉ vậy, sen còn là sức mạnh nội tại tâm linh của mỗi cá nhân, là nơi con người tìm về khi nhiễu tâm loạn tưởng, mệt đau mà thiền định , bình ổn hồn trí, để vượt thoát ‘’rũ buồn trôi về xa lắc’’ và ‘’chỉ còn hương ngát mênh mang:

‘’Còn bao nhiêu niềm phiền muộn

Sen phong kín giữa gương vàng

Để khi em choàng tỉnh giấc

Chỉ còn hương ngát mênh mang’’

(Giấc sen)

Thật bất ngờ và thú vị khi đọc những dòng như:

‘’Có gì nhắn nhủ sen ơi

Màu hoa hay sắc máu người chưa khô

Hay hồn oan khuất ngày xưa

Thành sen nhị sắc bây giờ ngát hương?

Ngắm sen lòng dạ bồi hồi

Thấy trong nhị sắc nụ cười Ức Trai’’

(Sen nhị sắc)

Đúng là sự lo lắng ban đầu cho ”Mẹ và Sen’’ của tôi đã là quá dư thừa rồi. Tôi quên mất anh là người rất kỹ tính và viết chậm. Mỗi bài thơ từ khi ý tưởng thành hình đến khi được hoàn tất anh phải mất cả tuần, có khi cả tháng, thậm chí có bài cả năm hun đúc, hàm dưỡng tứ tư từ trong lòng bởi  anh ghét sự cẩu thả chín ép.  Nên khi hứng đến thì thơ thăng hoa rất tự nhiên, mạnh mẽ, lời tinh ý sáng. Thành ra trên con đường lục bát dễ viết khó hay, không chắc tay sẽ thành vè, xưa nay đã in dấu chân của bao vị tiền nhân nổi tiếng, đã vang khá nhiều tên tuổi cùng thời đại, mà nhà thơ Nguyễn Văn Song vẫn tạo được nét riêng của mình, là vì thế. Tôi lại nhớ đến những tranh cãi cũ mới trên diễn đàn văn chương mà mình được xem, vô tình nghe và tình cờ biết qua bạn bè. Rất nhiều tác giả trẻ không hiểu được khái niệm thế nào là thơ cũ. Họ cho rằng thơ cũ là lục bát và quay đi, lao đầu vào trường phái mà họ tin rằng mới nhất thời đại. Đó là viết thơ tân hình thức. Nhưng họ lại không biết tìm mới thi ảnh, lạ hóa nội dung. Thế là họ chứng tỏ mình mới bằng cách bẻ què chữ , chặt  gãy câu, cưỡng ép ngữ… nhiều khi chính họ cũng chẳng biết mình đang hướng đến cái  gì, càng khó diễn nghĩa chữ mình viết ra.

Bàn về trường phái này, nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm từng viết: “Về nội dung, thơ theo khuynh hướng tân hình thức không có gì mới, không có gì đặc biệt, nếu không nói là cũ, dễ dãi, nhàm chán.. Họ tạo ra cái mới, tạo ra cái lạ, thu hút người đọc bằng cách bẻ què câu thơ, bẻ gãy câu thơ để không giống ai. Đáng lẽ bảy chữ, tám chữ câu thơ trọn vẹn ý, họ viết năm chữ, sáu chữ một dòng trên còn bẻ hai chữ, ba chữ xuống dòng dưới. Nó vừa vô nghĩa, vừa ngây ngô, vừa cẩu thả. Cách làm này không hề làm tăng giá trị thẩm mỹ, giá trị nội dung của thơ. Trái lại, nó hoàn toàn lộ diện một kiểu thơ nhạt nhẽo, mang tính giải trí là chính. Nó chứng minh sự bất lực của tư duy sáng tạo. Các cây bút theo xu hướng này đang trốn mình khỏi sự truy lùng gắt gao của sự đòi hỏi tài năng đích thực, tìm tòi đích thực, mang lại giá trị mỹ học đich thực đối với thi pháp học đương đại. Và thực tế, dù được một số người cổ súy, đến nay, khuynh hướng thơ Tân hình thức biểu hiện hụt hơi, thiếu sức sống, đang tự chết…’’

Vậy thì thể thơ mới hay cũ đâu phải là vấn đề to lớn của thi ca. Và tôi nhận ra, sở dĩ lục bát thời nay ít được đón nhận hơn không phải vì nó cũ, mà vì nhiều cây bút cứ đi theo lối mòn, không có sự tế vi tinh nhạy, hàm dưỡng ngôn từ, sáng tạo thi ảnh và vượt qua cái bóng của mình. Nên tác phẩm chưa làm hài lòng độc giả. Hãy đọc ’’ Mẹ  và Sen” để thấy được sự dụng công, tài hoa và bản lĩnh của tác giả. Tuy rằng chỉ có hai hình tượng, nhưng đã xối trộn ôm trùm lạ hóa và linh hóa, mở rộng thi giới. Điều đó khiến không gian ấy của anh không kém địa hạt chữ rộng thi tứ nhiều thi ảnh của các tác giả khác. Mỗi bài thơ là mẹ và sen lại hóa thân vào những vai trò và vị trí khác nhau, bổ khuyết và làm đầy thi giới mới nghe cứ tưởng rất đơn điệu này. Từ người mẹ ‘’vặn vỡ thoát thai con‘’ trong gia đình, mà dẫn gợi ra bao nhiêu nỗi niềm đàn bà, cũng là những câu chuyện cuộc đời, đã neo được vào lòng độc giả sự đồng cảm, luyến nhớ. Mỗi bộ phận, mỗi màu sắc  của sen là một ý nghĩa khác nhau, làm người đọc đi từ bất ngờ này sang ngạc nhiên khác. Biết đâu sau khi đọc xong ’’Mẹ và Sen’’ của nhà thơ Nguyễn Văn Song, độc giả mỗi khi đi qua đầm sen, nhìn lá sen họ liền nghĩ đến mẹ:

“Cánh buồm căng ngực bão

Nâng từng búp non tơ

Chở che muôn cánh trắng

Như lòng mẹ vô bờ”

(Một lá sen qua đời)

Và trông thấy sen trắng, lại nhớ về những linh hồn thân hữu đã ra đi? Khi sen khô lại hồi tưởng đến mối tình dang dở, còn sen vàng mang khuôn mặt người xưa. Hoặc thoảng gặp bông sen nhị sắc ‘’nửa bông trắng muốt như ngà/ nửa bông ứa đỏ như là máu loang’’ lại nhớ đến nỗi oan thấu trời của ngài Ức Trai thì sao? Điều đó thật thú vị, và dễ xảy ra lắm chứ!

VŨ TUYẾT NHUNG

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm