TIN TỨC

Nhà thơ Nguyễn Văn Song và sự kiến tạo thi giới trong “Mẹ và sen”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-03-19 22:12:46
mail facebook google pos stwis
7048 lượt xem

Thầy giáo, nhà thơ Nguyễn Văn Song đến với thơ có thể nói là khá muộn so với tuổi .  Nhưng đã trở thành một tác gia có tiếng trên văn đàn với những giải thưởng cao quý của các cuộc thi lớn. Và rất quen với bạn yêu thơ khi thường xuyên xuất hiện trên các trang báo và tạp chí từ trung ương đến địa phương.

Anh là người điềm đạm, nghiêm cẩn và không thích phô trương. Nên khi tôi có ý định xin phép anh liệt kê giải thưởng “khoe” với bạn đọc niềm tự hào của người cầm bút, anh đã từ chối. Dù đoán trước được điều này nhưng tôi vẫn cảm thấy hụt hẫng. Anh bảo với tôi anh  muốn  để người đọc thẩm định chất lượng tập thơ một cách tự nhiên nhất. Vì anh không theo đuổi thi nghiệp, mà chỉ viết để giải tỏa cảm xúc của mình, đơn giản vậy thôi. Có lẽ đó là lý do đầu năm 2022 anh quyết định in cùng lúc hai tập thơ là ” Đi từ phía cổng làng” và ”Mẹ và Sen” như một lời tri ân gửi đến người mẹ yêu dấu (cũng là độc giả đầu tiên của thơ anh) đã qua đời vào tháng 7 năm 2020, đồng thời cũng là một món quà nhỏ gửi đến những người bạn văn chương cùng độc giả của mình.

Nhà thơ Nguyễn Văn Song

Khi biết ý định này của anh tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì ba năm anh  cầm bút thì hai năm tôi đã được chiêm cảm những thi phẩm rất hay của anh nên tôi vẫn luôn mong anh ra tập thơ đầu tay. nên khi nghe tên tập ”Đi từ phía cổng làng” thì tôi đã rất hài lòng. Nhưng khi biết tập sau anh chỉ chọn những bài về mẹ và sen để in thì tôi thật sự lo. Bởi không nói thì có lẽ ai cũng biết là thời nay lục bát không còn được ưa chuộng như xưa nữa, thậm chí một số bạn thơ của tôi còn không muốn viết lục bát. Họ chê là cũ và mòn, nhạc điệu du dương dễ gây buồn ngủ… Nên việc in một tập thơ lục bát cũng khiến rất nhiều tác giả đau đầu và không muốn mạo hiểm. Đa phần họ chỉ xuất bản nhiều thể thơ với nhau để tránh nhàm chán cho người đọc. Những tập lục bát đã xuất bản mà tôi được biết đều ngồn ngộn thi ảnh, đa tứ, đa sắc lắm biểu trưng, mà đôi khi đọc lại còn thấy thiếu một điều gì đó, nữa là một tập thơ hơn chín mươi phần trăm là lục bát, lại  chỉ có mẹ và sen, chỉ viết về sen và mẹ? Nghĩ vậy nhưng tôi không dám nói ra, bởi so với anh tôi chỉ là một kẻ non nớt, mới cầm bút tập làm thơ nên sợ mang tiếng  dạy tiều phu cầm rìu.

Tuy băn khoăn nhưng tôi vẫn tin vào sự lựa chọn của anh và hy vọng mình sai. Sau một thời gian chờ đợi thì tôi cũng nhận được hai thi phẩm anh gửi tặng. Tôi không băn khoăn gì về tập ”Đi từ phía cổng làng’’ bởi tập này thi ảnh khá nhiều, mà thi ngữ của anh thì luôn tròn sáng như trăng rằm,  nên tập này sẽ ổn. Vì vậy tôi đọc ”Mẹ và Sen ” trước. Thật may, tôi đã đoán sai. Tuy địa hạt trong thi giới  này chỉ có mẹ và sen, nhưng bằng tài năng và bản lĩnh của mình, nhà thơ Nguyễn Văn Song đã biến hóa ra rất nhiều thi tứ . Rồi thăng hoa và tỏa rộng  hai thi ảnh ấy thành những cảnh trí và biểu trưng khác nhau, khiến cho thế giới trong thơ anh cũng đa tầng rộn ảnh chẳng kém những tác phẩm khác. Anh sử dụng thủ pháp đồng hiện ẩn ngữ |(trong sen là mẹ, trong mẹ là sen, trong cả hai là làng, là mọi người, là cuộc sống) nên đã tránh được sự đơn điệu cho tập thơ. Mặt khác, khi cầm bút, anh luôn là người tận hiến và tu dưỡng ý thức nghiêm cẩn , rèn luyện cho thi cốt thi cách được viên mãn. Nên mỗi con chữ là một sự cân nhắc, mỗi bài thơ đều là kết quả của sự miệt mài lao động trong đam mê nên đạt được giá trị thẩm mỹ cao.

Mở đầu tập thơ , thật ngạc nhiên là không phải bài về mẹ, cũng chẳng phải bài về sen mà lại là bài viết về làng. Cứ tưởng như phi logic nhưng lại rất hợp lý. Bởi cả mẹ và sen đều ở trong làng, từ làng mà có. Và ngược lại, trong mẹ và sen là ẩn tàng một phần vía hồn làng. Đây là bài thơ duy nhất viết về làng mà tôi nghĩ là  sự sắp đặt tế vi của tác giả. Bởi vì sau đó làng đã tỏa bóng mình sang bóng của mẹ và sen, vô hình mà hiện hữu trong toàn tập rồi, nên không cần nhắc đến nữa, mà người đọc vẫn thụ cảm được những mạch chảy của làng. Đó là một ngôi làng như bao ngôi làng khác, có hồ sen, có triền đê và tiếng ếch cốm đêm mưa . Cũng  rơm rạ ngập đường, nhưng vẫn mang nét riêng vì nó là nơi nhà thơ ” giấc trưa trốn mẹ ra đồng/ bao năm rồi vẫn phải lòng mùi hương”, ”đêm đông giá buốt ngập trời / ổ rơm thơm thảo quyện hơi mẹ nằm” . Điều này không thể có ở nơi nào khác ngoài cố hương của thi sỹ. Để rồi; “đời tôi bao chuyến đò ngang/ Vẫn đau đáu một cõi làng nơi xa/ chiều nay trở lại quê nhà/ bao nhiêu sợi tóc chợt òa mây bay” (Làng). Chẳng cần tinh ý lắm, chúng ta đã thấy hiện sinh trong làng rõ nét hình ảnh của mẹ và sen. Nếu không có hai hình ảnh này níu giữ, đồng hóa với làng, thì dễ gì khi đi xa lòng anh ” vẫn đau đáu một cõi làng nơi xa”?

Nhớ làng để hữu hình ảnh mẹ:

”Mẹ xé mình, vặn vỡ thoát thai con

Cả trời đất cuồng quay , cả thiên hà tao tác

Bỏ quên mạng mình giữa đôi bờ sống thác

Rạng rỡ ngắm con, mặt trời nhỏ tươi hồng”

Người mẹ lúc này đâu chỉ là của một mình thi nhân, đâu chỉ ở riêng một mảnh làng bé nhỏ nữa, mà đã thoát bay khỏi cái tư hữu, trở thành biểu tượng chung của người mẹ  nông thôn Việt Nam. VÌ khi có con người đàn bà nào cũng trở nên vĩ đại:

‘’Đôi tay mẹ đủ mười đốm chai tròn

Mười khối đá trước bão giông nắng lửa

Bàn chân trần ngược xuôi sấp ngửa

Chạy cơn mưa rào vấp tóe máu đồng xa”

(Mẹ)

Nhưng con còn bé sao hiểu được nỗi cô đơn và sự kiệt lực, đức hy sinh của mẹ;

‘’Mùa đông lội xuống đồng làng

Mẹ gầy sương đổ bóng càng thêm xiêu

Cá rô rét cóng kho niêu

Con đâu biết mẹ mấy chiều tái tê”

(Mùa đông của mẹ)

”Mẹ ngồi sàng nhũng đêm dài

Sẩy từng câu hát thức ngoài thềm sương

Đàn cò gánh gạo canh trường

Mẹ ta đổ bóng trên tường mòn đêm”’

(Đàn cò của Mẹ)

Đọc xong những dòng thơ này mấy ai không xoắn lòng luyến nhớ đến mẹ mình? Dường như tác giả đang kéo giãn niềm thương trong từng máu tim, cốt tuỷ bản thân vào thơ để người đọc quán chiếu lại tâm thức mình, mà cùng anh ngậm ngùi hoài nhớ về mẹ. Từ đó đã thụ cảm và đồng hòa được với những nỗi đau của người mẹ khác. Ví như nỗi đau của người mẹ mù:

”À ơi! Đời mẹ là đêm

Dò đi một bước tủi thêm kiếp tàn

Khát tìm trong cõi nhân gian

Một tia nắng ấm hong tan mưa dầm”

(Lời ru của người mẹ mù)

Và sự cô đơn của người đàn bà đơn thân:

’’Đi trong đêm

Tay tự nắm tay mình thủ thỉ

-Chẳng còn xa

Trò chuyện với bóng đổ dài

Đường hun hút gió”

(Đơn thân)

Hay sự ẩn ức tuyệt vọng của người mẹ già trong cơn sốt đất của những đứa con

“Nhà cao tầng mọc ngút trời

Mẹ ngồi bốn phía tường vôi thẫn thờ

Năm phần đổi chủ lặng tờ

Khoảng sân mẹ đứng phạc phờ bão giông

 

Trông con cả một đời ròng

Mẹ chờ rời khỏi đất không phần mình”

Cứ tưởng người mẹ mù này đã khổ lắm rồi, nhưng vẫn còn một người đàn bà sáng mắt khổ hơn . Vì con bà ấy ‘’Nghiệt oan một chyến đi đường/ Con thành đứa trẻ bất thường , ngây thơ… Không đi đứng, chẳng ngồi bò/ Thể như cây cỏ dần khô lá cành’’

Nên:

‘’Bây giờ con tuổi bốn mươi

Mẹ gần tám chục nghẹn lời ru xưa

Lời ru ít nắng nhiều mưa

Thiếu mây thiếu gió mà thừa bão giông’’

Tôi có cảm giác khi viết những dòng này trái tim tác giả cũng bi thiết, tê điếng cùng nhân vật. Những con chữ như run lên  làm người đọc cũng rưng rức theo.

Rõ ràng hình người mẹ ngay từ đầu và đến bây giờ không phải là một thi ảnh hẹp nông nghĩa nữa . Mà càng ngày càng được mở rộng hơn. Mẹ là mẹ của anh, mẹ là mẹ của người khác.  Và bây giờ thì mẹ đã vượt thoát thế giới thơ sang thế giới thực với những câu chuyện trái ngang trầm thống thường nhật. Thi giới đang được mở rộng, dẫu vẫn không xuất hiện thêm một biểu trưng hay một khách thể mới nào.

nhưng dù thế nào đi nữa thì mẹ cũng trở về với bản nguyên của mình, là bùn nuôi sen;

lặng thầm gạn lọc tanh hôi

chắt chiu nồng đượm dâng lời ngát hương

sen hồng phả gió muôn phương

hết mùa thân xác lại nương về bùn”

(Bùn)

Tài hoa thay, khi nhà thơ còn khai mở thêm cho thi ảnh mẹ của mình một tầng nghia mới nữa:

”Có một đẵn lưng cong

Mỗi sống đốt đo cả nghìn năm tuổi

Mà gánh bắc gánh nam đi suốt dọc dài …

Tấm lưng gầy vết cứa loét quanh năm

….

Chiều nay thêm một lần vặn đốt

Để sau siêu bão lại dịu hiền dáng mẹ ngàn năm’

(Tấm lưng mẹ)

Bài này anh viết khi miền trung đang phải chịu những cơn siêu lụt, đi đâu cũng găp cảnh’’những ai ở nhà khăn tang trắng chít chồng thêm trắng”. Và thi ảnh mẹ ở đây đã được linh hóa, trở thành đất nước. Tấm lưng xước trầy chịt chằng vết thương chính là miền trung thân yêu, gánh hai đầu nam bắc.

Chúng ta đã thấy, bằng sự điêu luyện trong việc thi triển ngôn từ kết hợp với các biện pháp tu từ nghệ thuật , nhà thơ Nguyễn Văn Song đã xây dựng và triển đạt được hình tượng người mẹ diện đa tầng đa nghĩa, mang đầy tính triết mỹ. Đồng thời đã gợi mở

được mạch nguồn yêu thương và khơi dẫn cho thi giới của mình đa âm đa sắc đa sự . chiếu hiện vào lòng người đọc những âm ba thi cảm khó quên. Và nối tiếp lưu lộ cảm dưỡng này , thi ảnh sen cũng được thi nhân khai thác triển đạt không kém phần ấn tượng.

Đầu tiên , sen là chính sen với :

‘’Cánh thơm xòe ngón ngọc ngà

Nhụy vàng gom nắng đậm đà hương trinh

Lá buông phiến lụa dệt xanh

Sắc hương cho vẹn ân tình sợi tơ’’

(Tơ sen)

Ngay từ những câu tưởng như chỉ đơn thuần miêu tả vẻ đẹp khiết tinh của sen , chúng ta đã thấy hiển hiện chút gì đó của mẹ. Khi sen gom nắng dệt ‘’sắc hương cho vẹn ân tình sợi tơ’’ , chu đáo và công tâm như cách người mẹ lo cho bầy con bé dại của mình. Đến bài ” Một lá sen qua đời ‘’ thì mẹ và sen đã là một bản thể đồng hiện:

‘’Vắt cạn thân thảo mộc

Dâng đến tàn xương khô

Sáng nay trong mưa buốt

Chiếc  lá gục bên hồ

…

Tôi ngồi bên hồ vắng

Giữa mây chiều mồ côi’’

Ngoài ra, sen còn là tình yêu đơn phương trầm lặng thanh quý của người thơ muốn tận hiến tất cả cho người mình yêu. Nhưng vì một nguyên nhân nào đó mà anh chưa ngỏ , để rồi ‘’ càng đượm càng nhanh chạm kiếp tàn’’:

‘’Ta khóc sen tàn hay khóc em

Tình thơ một nụ khép lòng im

Hay ta ngồi khóc ta ngây dại“

Nỡ để sen khô lặng lẽ chìm’’

(Uống rượu cùng sen)

Đồng thời cũng là hóa thân của người yêu thi nhân:

“Gót sen em một ngẩn ngơ

Ngó sen em một dại khờ tinh khôi

Tơ sen em bỏ ngang trời

Níu tôi suốt cả một đời vương mang

 

Niềm sen gieo cõi nhân gian

Tinh khôi giữa những đa đoan nổi chìm

Tôi ngồi đây với lặng im

Lắng nghe sen rỏ vào tim giọt trầm “

(Giọt sen|)

Mỗi một bộ phận của sen là một sắc thái biểu cảm khác nhau, nhưng đều là hình ảnh của người yêu nhân vật “tôi”. Cả hai khổ thơ đều  là sen, tràn đầy sen, chật kín sen. Nhưng không vì vậy mà gây cảm giác nhàm chán. Đây chính là tài dụng ngôn của tác giả.

Mặt khác, sen còn là hiện thân của một số phận mệnh bạc, hưởng dương ngắn ngủi, trượt chân gửi xác bên hồ nước :

‘’Đêm qua một bông sen trắng

Say trăng lịm thiếp trong hồ

Hồn thoát bay đi với gió

Bỏ từng xác cánh bơ vơ

…

Hồ thu bập bềnh cánh sáng

Trắng loang cay khói sương mờ

Trăng lên rùng mình inbóng

Một người tóc đợi phơ phơ’’

(Sen trắng)

Không chỉ vậy, sen còn là sức mạnh nội tại tâm linh của mỗi cá nhân, là nơi con người tìm về khi nhiễu tâm loạn tưởng, mệt đau mà thiền định , bình ổn hồn trí, để vượt thoát ‘’rũ buồn trôi về xa lắc’’ và ‘’chỉ còn hương ngát mênh mang:

‘’Còn bao nhiêu niềm phiền muộn

Sen phong kín giữa gương vàng

Để khi em choàng tỉnh giấc

Chỉ còn hương ngát mênh mang’’

(Giấc sen)

Thật bất ngờ và thú vị khi đọc những dòng như:

‘’Có gì nhắn nhủ sen ơi

Màu hoa hay sắc máu người chưa khô

Hay hồn oan khuất ngày xưa

Thành sen nhị sắc bây giờ ngát hương?

…

Ngắm sen lòng dạ bồi hồi

Thấy trong nhị sắc nụ cười Ức Trai’’

(Sen nhị sắc)

Đúng là sự lo lắng ban đầu cho ”Mẹ và Sen’’ của tôi đã là quá dư thừa rồi. Tôi quên mất anh là người rất kỹ tính và viết chậm. Mỗi bài thơ từ khi ý tưởng thành hình đến khi được hoàn tất anh phải mất cả tuần, có khi cả tháng, thậm chí có bài cả năm hun đúc, hàm dưỡng tứ tư từ trong lòng bởi  anh ghét sự cẩu thả chín ép.  Nên khi hứng đến thì thơ thăng hoa rất tự nhiên, mạnh mẽ, lời tinh ý sáng. Thành ra trên con đường lục bát dễ viết khó hay, không chắc tay sẽ thành vè, xưa nay đã in dấu chân của bao vị tiền nhân nổi tiếng, đã vang khá nhiều tên tuổi cùng thời đại, mà nhà thơ Nguyễn Văn Song vẫn tạo được nét riêng của mình, là vì thế. Tôi lại nhớ đến những tranh cãi cũ mới trên diễn đàn văn chương mà mình được xem, vô tình nghe và tình cờ biết qua bạn bè. Rất nhiều tác giả trẻ không hiểu được khái niệm thế nào là thơ cũ. Họ cho rằng thơ cũ là lục bát và quay đi, lao đầu vào trường phái mà họ tin rằng mới nhất thời đại. Đó là viết thơ tân hình thức. Nhưng họ lại không biết tìm mới thi ảnh, lạ hóa nội dung. Thế là họ chứng tỏ mình mới bằng cách bẻ què chữ , chặt  gãy câu, cưỡng ép ngữ… nhiều khi chính họ cũng chẳng biết mình đang hướng đến cái  gì, càng khó diễn nghĩa chữ mình viết ra.

Bàn về trường phái này, nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm từng viết: “Về nội dung, thơ theo khuynh hướng tân hình thức không có gì mới, không có gì đặc biệt, nếu không nói là cũ, dễ dãi, nhàm chán.. Họ tạo ra cái mới, tạo ra cái lạ, thu hút người đọc bằng cách bẻ què câu thơ, bẻ gãy câu thơ để không giống ai. Đáng lẽ bảy chữ, tám chữ câu thơ trọn vẹn ý, họ viết năm chữ, sáu chữ một dòng trên còn bẻ hai chữ, ba chữ xuống dòng dưới. Nó vừa vô nghĩa, vừa ngây ngô, vừa cẩu thả. Cách làm này không hề làm tăng giá trị thẩm mỹ, giá trị nội dung của thơ. Trái lại, nó hoàn toàn lộ diện một kiểu thơ nhạt nhẽo, mang tính giải trí là chính. Nó chứng minh sự bất lực của tư duy sáng tạo. Các cây bút theo xu hướng này đang trốn mình khỏi sự truy lùng gắt gao của sự đòi hỏi tài năng đích thực, tìm tòi đích thực, mang lại giá trị mỹ học đich thực đối với thi pháp học đương đại. Và thực tế, dù được một số người cổ súy, đến nay, khuynh hướng thơ Tân hình thức biểu hiện hụt hơi, thiếu sức sống, đang tự chết…’’

Vậy thì thể thơ mới hay cũ đâu phải là vấn đề to lớn của thi ca. Và tôi nhận ra, sở dĩ lục bát thời nay ít được đón nhận hơn không phải vì nó cũ, mà vì nhiều cây bút cứ đi theo lối mòn, không có sự tế vi tinh nhạy, hàm dưỡng ngôn từ, sáng tạo thi ảnh và vượt qua cái bóng của mình. Nên tác phẩm chưa làm hài lòng độc giả. Hãy đọc ’’ Mẹ  và Sen” để thấy được sự dụng công, tài hoa và bản lĩnh của tác giả. Tuy rằng chỉ có hai hình tượng, nhưng đã xối trộn ôm trùm lạ hóa và linh hóa, mở rộng thi giới. Điều đó khiến không gian ấy của anh không kém địa hạt chữ rộng thi tứ nhiều thi ảnh của các tác giả khác. Mỗi bài thơ là mẹ và sen lại hóa thân vào những vai trò và vị trí khác nhau, bổ khuyết và làm đầy thi giới mới nghe cứ tưởng rất đơn điệu này. Từ người mẹ ‘’vặn vỡ thoát thai con‘’ trong gia đình, mà dẫn gợi ra bao nhiêu nỗi niềm đàn bà, cũng là những câu chuyện cuộc đời, đã neo được vào lòng độc giả sự đồng cảm, luyến nhớ. Mỗi bộ phận, mỗi màu sắc  của sen là một ý nghĩa khác nhau, làm người đọc đi từ bất ngờ này sang ngạc nhiên khác. Biết đâu sau khi đọc xong ’’Mẹ và Sen’’ của nhà thơ Nguyễn Văn Song, độc giả mỗi khi đi qua đầm sen, nhìn lá sen họ liền nghĩ đến mẹ:

“Cánh buồm căng ngực bão

Nâng từng búp non tơ

Chở che muôn cánh trắng

Như lòng mẹ vô bờ”

(Một lá sen qua đời)

Và trông thấy sen trắng, lại nhớ về những linh hồn thân hữu đã ra đi? Khi sen khô lại hồi tưởng đến mối tình dang dở, còn sen vàng mang khuôn mặt người xưa. Hoặc thoảng gặp bông sen nhị sắc ‘’nửa bông trắng muốt như ngà/ nửa bông ứa đỏ như là máu loang’’ lại nhớ đến nỗi oan thấu trời của ngài Ức Trai thì sao? Điều đó thật thú vị, và dễ xảy ra lắm chứ!

VŨ TUYẾT NHUNG

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm