TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam

Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-02-19 22:42:12
mail facebook google pos stwis
1845 lượt xem

Phạm Ngọc Dũ

Triết gia Hy Lạp Platon đã nói: “Thước đo của một con người là xem cách anh ta làm gì với quyền lực”. Thế nhưng, có rất nhiều người có quyền, vì lòng tham và ích kỷ cá nhân nên đã hủy hoại nhân cách và đất nước của họ (TCVTT/ Trương Văn Dân)

Ảnh bìa tiểu thuyết Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam

Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam là tiểu thuyết không sai, một liên tiểu luận chẳng sao, về vấn đề chung của đất nước và nhân loại trên hành tinh, hay cuộc trò chuyện với mầm sống tinh anh – Thiên thần. Tất cả đều có thể là dụng ý của nhà văn Trương Văn Dân.

Theo lời tâm sự, bộc bạch của tác giả: “…Đó là quyển sách có những câu chuyện liên quan đến đời sống chúng ta, đến thân phận người dù nam hay nữ trong cuộc sống hằng ngày” (TVD)

Triết gia Hy Lạp Platon đã nói: “Thước đo của một con người là xem cách anh ta làm gì với quyền lực”. Thế nhưng, có rất nhiều người có quyền, vì lòng tham và ích kỷ cá nhân nên đã hủy hoại nhân cách và đất nước của họ.

Đối với nhà văn, ông không mưu cầu gì hơn là con được sinh ra và lớn lên, lành mạnh trong yêu thương của mẹ cha và không chịu bất cứ một áp lực nào của người lớn – Bậc mẹ cha. Đây là một thông điệp gửi gắm các bậc phụ huynh, đừng bắt trẻ con, phải gánh trên đôi vai non nớt, hồn nhiên trách nhiệm mà “người lớn” chưa làm được, đỗ dồn áp lực hết sức phi lý của ước mơ họ chưa làm được, nhất là hiện tượng của người Việt đương thời. Ông viết: “Ba chỉ mong mỏi là một đứa bé lành mạnh, có thời gian theo tính cách của mình. Hồn nhiên, vô tư không mang trên vai quá nhiều bổn phận và trách nhiệm. Mọi sự phong danh hiệu từ nỗi khát khao ích kỷ của người lớn, một cách ép trẻ phải chứng minh điều họ không làm được, để vác cái hư danh mở mày, mở mặt” (Trang 39)

Đọc xuyên suốt tác phẩm ta sẽ thấy nỗi thao thức dài những vấn nạn không chỉ có quốc gia nào, mà toàn bộ hành tinh này.

Người ta nhân danh vì sự nghiệp toàn cầu hóa, đem lại lợi ích cho toàn tinh cầu này. Điều ấy có chắc chắn không? Các định chế của các nước lớn đem lại quyền lợi hợp lý hơn, công bình hơn cho loài người?

Tác giả không tin điều ấy, ngay cả người viết bài này cũng không thể.

Tác giả trò chuyện với thiên thần nhỏ sắp chào đời nhiều vấn đề nan giải, tôi tin các bạn khi đọc xong quyển sách này sẽ còn tiếng thở dài, không thể có công bằng cho những thân phận nghèo khó và cơ cực, thậm chí đem lại nhiều hệ lụy, mặc dù công nghệ và kỹ thuật càng ngày càng văn minh đến mức chóng mặt, người ta có thể chuyện trò với người khác cách nhau nửa tinh cầu, hình ảnh rõ ràng, lời nói hầu như trọn vẹn. Về y khoa ư? Các nhà khoa học nỗ lực nghiên cứu vượt bậc trong mổ tim, nối các cơ, thay gan, ghép thận… để đem lại hy vọng sự sống cho mỗi bệnh nhân chẳng may bị những bệnh này. Còn những nhà nghiên cứu vũ khí chiến tranh thì sao? Họ nghiên cứu càng ngày càng tinh vi hơn vũ khí hạt nhân có thể sát hại hàng loạt con người cùng một lúc, bom khoan tìm mục đích đã lập trình sẵn mục tiêu trong đầu đạn, máy bay không người lái lập tình bằng máy tính…

Thế nhưng, chính những điều này đã làm nhức nhối thêm sự tàn độc, phi nhân của những người lòng lang dạ thú chỉ vì lợi lạc về tiền bạc có thể giết sinh linh để lấy nội tạng bán với giá ngất ngưỡng cho người giàu, xã hội Trung Quốc đã xảy ra hàng ngày nhan nhản đó sao. Ai là người tiếp tay? Hàng triệu con người đang bình yên trong cuộc sống thường ngày, phá tan hoang nhiều kiến trúc đã tồn tại hàng mấy trăm năm!

Nhà khoa học trong phòng thí nghiêm nghiên cứu để đem đến cho nhân loại tiến bộ hơn, nhưng bên ngoài xã hội càng ngày càng tham lam, so sánh nhau bằng vật chất: Tiền, xe, nhà, đất và địa vị, quyền lực, mấu chốt này đã làm xã hội băng hoại ngày càng trở nên trầm trọng về đạo đức, luân lý làm người không phải Việt Nam, mà hầu như toàn nhân loại bởi thực dụng vật chất.

Ông viết: “Thế giới hiện nay đang đánh mất nấc thang xã hội, không nhiều người còn lý tưởng, không mấy người còn niềm tin, không còn sự vĩ đại để tin theo, xung quanh người ta chỉ theo đuổi ước mơ: Kiếm tiền” (Trang 100). Có bao giờ như thế này chăng? Có phải sự thực dụng đang giết chết niềm tin toàn tinh cầu này?

Ngày trước giềng mối căn cơ của con người là đạo lý, nghĩa tình – Con người là trung tâm của mọi vấn đề, vật chất chỉ là thứ yếu, nhà cửa cần phải có để tránh mưa nắng, giông bão, căn bản là giáo dục đạo đức, trách nhiệm và danh dự cá nhân được đề cao: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Nhà giáo, bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học, triết gia…có thể đời sống đạm bạc nhưng được sự nễ trọng của toàn cộng đồng, xã hội, người ta lấy đó làm gương mẫu mực cho con cháu, dòng tộc để cố gắng học hành mai sau được như thế, còn bây giờ ư? Nhà, xe, địa vị & quyền lực đã chiếm hữu sự so sánh tệ hại của con người thực dụng vật chất. Thật là bỉ ổi cho cái đương đại này.

Trong bối cảnh toàn cầu mới những cách thức ràng buộc có thể biến dạng đi đôi chút, nhưng sức mạnh của nó và mạng lưới còn tinh vi và khó thoát hơn, được kiểm soát từng giờ qua mạng internet.

Nhưng dù thế nào luôn có những thế lực đối kháng giữa cái thiện và cái ác” (Trang 148)

Tất nhiên, trong dòng chảy đời sống nhân loại cái thiện, cái ác vĩnh viễn tồn tại, nhưng loài người nói chung và tác giả cũng như những nhà văn, nhà thơ, người làm nghệ thuật nói riêng… bao giờ cũng hy vọng, hạt thiện lành càng ngày càng nhiều người gieo rắc tưới tẫm hơn cho thế giới càng ngày đẹp hơn lên, nhưng biết đến bao giờ tinh cầu mới được hưởng sự an bình đó. Nhà văn viết tiếp: “Tuy vậy, ba vẫn luôn hy vọng con là mẫu đàn ông mà ba mơ ước: “Nhân hậu với người yếu đuối, dữ dội với kẻ hống hách, rộng rãi với người thương yêu, với kẻ ác. Kẻ thù của chúng ta là kẻ hành xử phi nhân và chà đạp lên lương tri con người” (Trang 148)

Trò chuyện với Thiên thần là cuộc chuyện trò với quá nhiều đề tài – Tôi gọi là 75 tiểu luận của nhà văn Trương văn Dân, mỗi tiểu luận nếu đọc thận trọng, ta thấy rất độc lập, thú vị vô cùng. Những lập luận của người cha (tác giả) mạch lạc, trong dòng ý thức của một nhà văn có trách nhiệm với quê hương, rộng thêm ra là cả nhân loại trên tinh cầu này, bên cạnh đó có nhiều thông tin rất bổ ích chứng tỏ nhà văn Trương Văn Dân tiêu tốn nhiều thời gian, công sức, trí tuệ cho tác phẩm này.

Nhiều người đã giới thiệu tác phẩm này, mỗi người có cái nhìn với góc nhìn của mình, chẳng ai giống ai. Với riêng tôi, đây là quyển sách anh dày công tập trung đưa ra nhiều dữ liệu để chúng ta – những người đọc nghiền ngẫm, với lượng kiến thức nhiều lĩnh vực trong xã hội loài người.

Niềm tin & tôn giáo là đề tài nói không cùng, còn nhiều tranh luận, nhưng trong chừng mực trang sách anh nêu ra rất thú vị, ai đọc chắc cũng dừng lại suy tư:

“Không phải ngẫu nhiên mà các nhà văn, nhà thơ lớn, trong lịch sử nhân loại đều có niềm tin tôn giáo sâu sắc: nhà thơ Virgilio (70a. C-19a.C), nhà văn William Shakespear (1564 – 1616), Hermann Hesse (1877-1962)…

Niềm tin không phải là mê tín, là yếu đuối. Khoa học và tôn giáo không hề mâu thuẫn mà bổ túc cho nhau để con người sống có lý trí hơn, nhân ái hơn thôi”.

Và rồi anh dẫn chứng câu chuyện giữa Louis Pasteur và cậu nhỏ háu đá trên chuyến xe lửa đi cùng, thật dí dỏm. Thường, bọn nhỏ chưa hiểu niềm tin tôn giáo, bởi các em mới tập tễnh bước vào đời, chưa hiểu nổi lý vô thường, các em tự tin chính mình nhưng võ đoán về niềm tin.

Riêng mục 75, trang 350 áp chót. Đây là lời tâm tình và cả sự thao thức cho Tổ quốc và dân tộc mến yêu, tôi đọc rất kỹ và hiểu rằng Giấc mơ Việt Nam –  yêu nước phải như thế. Hãy nhìn nhận một thực thể dù biết khó nhọc & đau thương, nhưng bao giờ cũng không bi quan, suy nghĩ lạc quan và tích cực để cải thiện. Tôi đồng tình và ủng hộ tư tưởng anh. Nhà văn nhà thơ nào yêu nước cũng chỉ nêu ra chừng ấy vấn đề. Những người có trách nhiệm với tổ quốc và dân tộc hãy xem trọng vấn đề nầy mới thực sự xứng đáng. Nếu mải mê chạy theo hư danh và lòng tham – Vốn dĩ nó vô cùng không thể đo đếm – Thì chẳng bao giờ được trọng vọng.

Cuối cùng: Thư gửi từ đám mây

Anh đã hóa thân tâm hồn Thiên Thần chuyện trò cùng mẹ, cùng nhân gian của hành tinh trong thời kỳ phụ thuộc vào nhau nhất với lời thì thầm của nhà văn trong cách diễn đạt rất tinh tế, “đến cái chết cũng chưa hết bất công”.

Chỉ là Trò Chuyện Với Thiên Thần, sao nhiều vấn đề quá để thôi thúc người đọc cảm thấy từng mục, từng chương, từ hiện tượng đến bản chất anh đều nêu ra với lượng thông tin khá nhiều, kiến thức ngồn ngộn trong kiến giải chừng mực của nhà văn Trương Văn Dân nào: Đạo đức, luận lý, tâm lý và cả tâm linh – Thần học từ hầu hết các lĩnh vực: Giáo dục, y tế, chính trị, khoa học và xã hội học…

Thay lời kết, tôi đồng ý trích lại câu của nhà phê bình Trần Hoài Anh: “Trong Trò Chuyện với Thiên Thần giàu tính triết luận, tính luận đề gắn với những vấn đề mang tính thời sự sâu sắc, tiếp cận hiện thực đời sống con người nhiều điểm nhìn phong phú như triết học, khoa học, nhân học, văn học, xã hội học, sinh thái học… phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa”.

Một tác phẩm văn hay rất đáng đọc.

P.N.D

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm