TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam

Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-02-19 22:42:12
mail facebook google pos stwis
2181 lượt xem

Phạm Ngọc Dũ

Triết gia Hy Lạp Platon đã nói: “Thước đo của một con người là xem cách anh ta làm gì với quyền lực”. Thế nhưng, có rất nhiều người có quyền, vì lòng tham và ích kỷ cá nhân nên đã hủy hoại nhân cách và đất nước của họ (TCVTT/ Trương Văn Dân)

Ảnh bìa tiểu thuyết Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam

Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam là tiểu thuyết không sai, một liên tiểu luận chẳng sao, về vấn đề chung của đất nước và nhân loại trên hành tinh, hay cuộc trò chuyện với mầm sống tinh anh – Thiên thần. Tất cả đều có thể là dụng ý của nhà văn Trương Văn Dân.

Theo lời tâm sự, bộc bạch của tác giả: “…Đó là quyển sách có những câu chuyện liên quan đến đời sống chúng ta, đến thân phận người dù nam hay nữ trong cuộc sống hằng ngày” (TVD)

Triết gia Hy Lạp Platon đã nói: “Thước đo của một con người là xem cách anh ta làm gì với quyền lực”. Thế nhưng, có rất nhiều người có quyền, vì lòng tham và ích kỷ cá nhân nên đã hủy hoại nhân cách và đất nước của họ.

Đối với nhà văn, ông không mưu cầu gì hơn là con được sinh ra và lớn lên, lành mạnh trong yêu thương của mẹ cha và không chịu bất cứ một áp lực nào của người lớn – Bậc mẹ cha. Đây là một thông điệp gửi gắm các bậc phụ huynh, đừng bắt trẻ con, phải gánh trên đôi vai non nớt, hồn nhiên trách nhiệm mà “người lớn” chưa làm được, đỗ dồn áp lực hết sức phi lý của ước mơ họ chưa làm được, nhất là hiện tượng của người Việt đương thời. Ông viết: “Ba chỉ mong mỏi là một đứa bé lành mạnh, có thời gian theo tính cách của mình. Hồn nhiên, vô tư không mang trên vai quá nhiều bổn phận và trách nhiệm. Mọi sự phong danh hiệu từ nỗi khát khao ích kỷ của người lớn, một cách ép trẻ phải chứng minh điều họ không làm được, để vác cái hư danh mở mày, mở mặt” (Trang 39)

Đọc xuyên suốt tác phẩm ta sẽ thấy nỗi thao thức dài những vấn nạn không chỉ có quốc gia nào, mà toàn bộ hành tinh này.

Người ta nhân danh vì sự nghiệp toàn cầu hóa, đem lại lợi ích cho toàn tinh cầu này. Điều ấy có chắc chắn không? Các định chế của các nước lớn đem lại quyền lợi hợp lý hơn, công bình hơn cho loài người?

Tác giả không tin điều ấy, ngay cả người viết bài này cũng không thể.

Tác giả trò chuyện với thiên thần nhỏ sắp chào đời nhiều vấn đề nan giải, tôi tin các bạn khi đọc xong quyển sách này sẽ còn tiếng thở dài, không thể có công bằng cho những thân phận nghèo khó và cơ cực, thậm chí đem lại nhiều hệ lụy, mặc dù công nghệ và kỹ thuật càng ngày càng văn minh đến mức chóng mặt, người ta có thể chuyện trò với người khác cách nhau nửa tinh cầu, hình ảnh rõ ràng, lời nói hầu như trọn vẹn. Về y khoa ư? Các nhà khoa học nỗ lực nghiên cứu vượt bậc trong mổ tim, nối các cơ, thay gan, ghép thận… để đem lại hy vọng sự sống cho mỗi bệnh nhân chẳng may bị những bệnh này. Còn những nhà nghiên cứu vũ khí chiến tranh thì sao? Họ nghiên cứu càng ngày càng tinh vi hơn vũ khí hạt nhân có thể sát hại hàng loạt con người cùng một lúc, bom khoan tìm mục đích đã lập trình sẵn mục tiêu trong đầu đạn, máy bay không người lái lập tình bằng máy tính…

Thế nhưng, chính những điều này đã làm nhức nhối thêm sự tàn độc, phi nhân của những người lòng lang dạ thú chỉ vì lợi lạc về tiền bạc có thể giết sinh linh để lấy nội tạng bán với giá ngất ngưỡng cho người giàu, xã hội Trung Quốc đã xảy ra hàng ngày nhan nhản đó sao. Ai là người tiếp tay? Hàng triệu con người đang bình yên trong cuộc sống thường ngày, phá tan hoang nhiều kiến trúc đã tồn tại hàng mấy trăm năm!

Nhà khoa học trong phòng thí nghiêm nghiên cứu để đem đến cho nhân loại tiến bộ hơn, nhưng bên ngoài xã hội càng ngày càng tham lam, so sánh nhau bằng vật chất: Tiền, xe, nhà, đất và địa vị, quyền lực, mấu chốt này đã làm xã hội băng hoại ngày càng trở nên trầm trọng về đạo đức, luân lý làm người không phải Việt Nam, mà hầu như toàn nhân loại bởi thực dụng vật chất.

Ông viết: “Thế giới hiện nay đang đánh mất nấc thang xã hội, không nhiều người còn lý tưởng, không mấy người còn niềm tin, không còn sự vĩ đại để tin theo, xung quanh người ta chỉ theo đuổi ước mơ: Kiếm tiền” (Trang 100). Có bao giờ như thế này chăng? Có phải sự thực dụng đang giết chết niềm tin toàn tinh cầu này?

Ngày trước giềng mối căn cơ của con người là đạo lý, nghĩa tình – Con người là trung tâm của mọi vấn đề, vật chất chỉ là thứ yếu, nhà cửa cần phải có để tránh mưa nắng, giông bão, căn bản là giáo dục đạo đức, trách nhiệm và danh dự cá nhân được đề cao: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Nhà giáo, bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học, triết gia…có thể đời sống đạm bạc nhưng được sự nễ trọng của toàn cộng đồng, xã hội, người ta lấy đó làm gương mẫu mực cho con cháu, dòng tộc để cố gắng học hành mai sau được như thế, còn bây giờ ư? Nhà, xe, địa vị & quyền lực đã chiếm hữu sự so sánh tệ hại của con người thực dụng vật chất. Thật là bỉ ổi cho cái đương đại này.

Trong bối cảnh toàn cầu mới những cách thức ràng buộc có thể biến dạng đi đôi chút, nhưng sức mạnh của nó và mạng lưới còn tinh vi và khó thoát hơn, được kiểm soát từng giờ qua mạng internet.

Nhưng dù thế nào luôn có những thế lực đối kháng giữa cái thiện và cái ác” (Trang 148)

Tất nhiên, trong dòng chảy đời sống nhân loại cái thiện, cái ác vĩnh viễn tồn tại, nhưng loài người nói chung và tác giả cũng như những nhà văn, nhà thơ, người làm nghệ thuật nói riêng… bao giờ cũng hy vọng, hạt thiện lành càng ngày càng nhiều người gieo rắc tưới tẫm hơn cho thế giới càng ngày đẹp hơn lên, nhưng biết đến bao giờ tinh cầu mới được hưởng sự an bình đó. Nhà văn viết tiếp: “Tuy vậy, ba vẫn luôn hy vọng con là mẫu đàn ông mà ba mơ ước: “Nhân hậu với người yếu đuối, dữ dội với kẻ hống hách, rộng rãi với người thương yêu, với kẻ ác. Kẻ thù của chúng ta là kẻ hành xử phi nhân và chà đạp lên lương tri con người” (Trang 148)

Trò chuyện với Thiên thần là cuộc chuyện trò với quá nhiều đề tài – Tôi gọi là 75 tiểu luận của nhà văn Trương văn Dân, mỗi tiểu luận nếu đọc thận trọng, ta thấy rất độc lập, thú vị vô cùng. Những lập luận của người cha (tác giả) mạch lạc, trong dòng ý thức của một nhà văn có trách nhiệm với quê hương, rộng thêm ra là cả nhân loại trên tinh cầu này, bên cạnh đó có nhiều thông tin rất bổ ích chứng tỏ nhà văn Trương Văn Dân tiêu tốn nhiều thời gian, công sức, trí tuệ cho tác phẩm này.

Nhiều người đã giới thiệu tác phẩm này, mỗi người có cái nhìn với góc nhìn của mình, chẳng ai giống ai. Với riêng tôi, đây là quyển sách anh dày công tập trung đưa ra nhiều dữ liệu để chúng ta – những người đọc nghiền ngẫm, với lượng kiến thức nhiều lĩnh vực trong xã hội loài người.

Niềm tin & tôn giáo là đề tài nói không cùng, còn nhiều tranh luận, nhưng trong chừng mực trang sách anh nêu ra rất thú vị, ai đọc chắc cũng dừng lại suy tư:

“Không phải ngẫu nhiên mà các nhà văn, nhà thơ lớn, trong lịch sử nhân loại đều có niềm tin tôn giáo sâu sắc: nhà thơ Virgilio (70a. C-19a.C), nhà văn William Shakespear (1564 – 1616), Hermann Hesse (1877-1962)…

Niềm tin không phải là mê tín, là yếu đuối. Khoa học và tôn giáo không hề mâu thuẫn mà bổ túc cho nhau để con người sống có lý trí hơn, nhân ái hơn thôi”.

Và rồi anh dẫn chứng câu chuyện giữa Louis Pasteur và cậu nhỏ háu đá trên chuyến xe lửa đi cùng, thật dí dỏm. Thường, bọn nhỏ chưa hiểu niềm tin tôn giáo, bởi các em mới tập tễnh bước vào đời, chưa hiểu nổi lý vô thường, các em tự tin chính mình nhưng võ đoán về niềm tin.

Riêng mục 75, trang 350 áp chót. Đây là lời tâm tình và cả sự thao thức cho Tổ quốc và dân tộc mến yêu, tôi đọc rất kỹ và hiểu rằng Giấc mơ Việt Nam –  yêu nước phải như thế. Hãy nhìn nhận một thực thể dù biết khó nhọc & đau thương, nhưng bao giờ cũng không bi quan, suy nghĩ lạc quan và tích cực để cải thiện. Tôi đồng tình và ủng hộ tư tưởng anh. Nhà văn nhà thơ nào yêu nước cũng chỉ nêu ra chừng ấy vấn đề. Những người có trách nhiệm với tổ quốc và dân tộc hãy xem trọng vấn đề nầy mới thực sự xứng đáng. Nếu mải mê chạy theo hư danh và lòng tham – Vốn dĩ nó vô cùng không thể đo đếm – Thì chẳng bao giờ được trọng vọng.

Cuối cùng: Thư gửi từ đám mây

Anh đã hóa thân tâm hồn Thiên Thần chuyện trò cùng mẹ, cùng nhân gian của hành tinh trong thời kỳ phụ thuộc vào nhau nhất với lời thì thầm của nhà văn trong cách diễn đạt rất tinh tế, “đến cái chết cũng chưa hết bất công”.

Chỉ là Trò Chuyện Với Thiên Thần, sao nhiều vấn đề quá để thôi thúc người đọc cảm thấy từng mục, từng chương, từ hiện tượng đến bản chất anh đều nêu ra với lượng thông tin khá nhiều, kiến thức ngồn ngộn trong kiến giải chừng mực của nhà văn Trương Văn Dân nào: Đạo đức, luận lý, tâm lý và cả tâm linh – Thần học từ hầu hết các lĩnh vực: Giáo dục, y tế, chính trị, khoa học và xã hội học…

Thay lời kết, tôi đồng ý trích lại câu của nhà phê bình Trần Hoài Anh: “Trong Trò Chuyện với Thiên Thần giàu tính triết luận, tính luận đề gắn với những vấn đề mang tính thời sự sâu sắc, tiếp cận hiện thực đời sống con người nhiều điểm nhìn phong phú như triết học, khoa học, nhân học, văn học, xã hội học, sinh thái học… phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa”.

Một tác phẩm văn hay rất đáng đọc.

P.N.D

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm