TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam

Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-02-19 22:42:12
mail facebook google pos stwis
1896 lượt xem

Phạm Ngọc Dũ

Triết gia Hy Lạp Platon đã nói: “Thước đo của một con người là xem cách anh ta làm gì với quyền lực”. Thế nhưng, có rất nhiều người có quyền, vì lòng tham và ích kỷ cá nhân nên đã hủy hoại nhân cách và đất nước của họ (TCVTT/ Trương Văn Dân)

Ảnh bìa tiểu thuyết Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam

Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam là tiểu thuyết không sai, một liên tiểu luận chẳng sao, về vấn đề chung của đất nước và nhân loại trên hành tinh, hay cuộc trò chuyện với mầm sống tinh anh – Thiên thần. Tất cả đều có thể là dụng ý của nhà văn Trương Văn Dân.

Theo lời tâm sự, bộc bạch của tác giả: “…Đó là quyển sách có những câu chuyện liên quan đến đời sống chúng ta, đến thân phận người dù nam hay nữ trong cuộc sống hằng ngày” (TVD)

Triết gia Hy Lạp Platon đã nói: “Thước đo của một con người là xem cách anh ta làm gì với quyền lực”. Thế nhưng, có rất nhiều người có quyền, vì lòng tham và ích kỷ cá nhân nên đã hủy hoại nhân cách và đất nước của họ.

Đối với nhà văn, ông không mưu cầu gì hơn là con được sinh ra và lớn lên, lành mạnh trong yêu thương của mẹ cha và không chịu bất cứ một áp lực nào của người lớn – Bậc mẹ cha. Đây là một thông điệp gửi gắm các bậc phụ huynh, đừng bắt trẻ con, phải gánh trên đôi vai non nớt, hồn nhiên trách nhiệm mà “người lớn” chưa làm được, đỗ dồn áp lực hết sức phi lý của ước mơ họ chưa làm được, nhất là hiện tượng của người Việt đương thời. Ông viết: “Ba chỉ mong mỏi là một đứa bé lành mạnh, có thời gian theo tính cách của mình. Hồn nhiên, vô tư không mang trên vai quá nhiều bổn phận và trách nhiệm. Mọi sự phong danh hiệu từ nỗi khát khao ích kỷ của người lớn, một cách ép trẻ phải chứng minh điều họ không làm được, để vác cái hư danh mở mày, mở mặt” (Trang 39)

Đọc xuyên suốt tác phẩm ta sẽ thấy nỗi thao thức dài những vấn nạn không chỉ có quốc gia nào, mà toàn bộ hành tinh này.

Người ta nhân danh vì sự nghiệp toàn cầu hóa, đem lại lợi ích cho toàn tinh cầu này. Điều ấy có chắc chắn không? Các định chế của các nước lớn đem lại quyền lợi hợp lý hơn, công bình hơn cho loài người?

Tác giả không tin điều ấy, ngay cả người viết bài này cũng không thể.

Tác giả trò chuyện với thiên thần nhỏ sắp chào đời nhiều vấn đề nan giải, tôi tin các bạn khi đọc xong quyển sách này sẽ còn tiếng thở dài, không thể có công bằng cho những thân phận nghèo khó và cơ cực, thậm chí đem lại nhiều hệ lụy, mặc dù công nghệ và kỹ thuật càng ngày càng văn minh đến mức chóng mặt, người ta có thể chuyện trò với người khác cách nhau nửa tinh cầu, hình ảnh rõ ràng, lời nói hầu như trọn vẹn. Về y khoa ư? Các nhà khoa học nỗ lực nghiên cứu vượt bậc trong mổ tim, nối các cơ, thay gan, ghép thận… để đem lại hy vọng sự sống cho mỗi bệnh nhân chẳng may bị những bệnh này. Còn những nhà nghiên cứu vũ khí chiến tranh thì sao? Họ nghiên cứu càng ngày càng tinh vi hơn vũ khí hạt nhân có thể sát hại hàng loạt con người cùng một lúc, bom khoan tìm mục đích đã lập trình sẵn mục tiêu trong đầu đạn, máy bay không người lái lập tình bằng máy tính…

Thế nhưng, chính những điều này đã làm nhức nhối thêm sự tàn độc, phi nhân của những người lòng lang dạ thú chỉ vì lợi lạc về tiền bạc có thể giết sinh linh để lấy nội tạng bán với giá ngất ngưỡng cho người giàu, xã hội Trung Quốc đã xảy ra hàng ngày nhan nhản đó sao. Ai là người tiếp tay? Hàng triệu con người đang bình yên trong cuộc sống thường ngày, phá tan hoang nhiều kiến trúc đã tồn tại hàng mấy trăm năm!

Nhà khoa học trong phòng thí nghiêm nghiên cứu để đem đến cho nhân loại tiến bộ hơn, nhưng bên ngoài xã hội càng ngày càng tham lam, so sánh nhau bằng vật chất: Tiền, xe, nhà, đất và địa vị, quyền lực, mấu chốt này đã làm xã hội băng hoại ngày càng trở nên trầm trọng về đạo đức, luân lý làm người không phải Việt Nam, mà hầu như toàn nhân loại bởi thực dụng vật chất.

Ông viết: “Thế giới hiện nay đang đánh mất nấc thang xã hội, không nhiều người còn lý tưởng, không mấy người còn niềm tin, không còn sự vĩ đại để tin theo, xung quanh người ta chỉ theo đuổi ước mơ: Kiếm tiền” (Trang 100). Có bao giờ như thế này chăng? Có phải sự thực dụng đang giết chết niềm tin toàn tinh cầu này?

Ngày trước giềng mối căn cơ của con người là đạo lý, nghĩa tình – Con người là trung tâm của mọi vấn đề, vật chất chỉ là thứ yếu, nhà cửa cần phải có để tránh mưa nắng, giông bão, căn bản là giáo dục đạo đức, trách nhiệm và danh dự cá nhân được đề cao: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Nhà giáo, bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học, triết gia…có thể đời sống đạm bạc nhưng được sự nễ trọng của toàn cộng đồng, xã hội, người ta lấy đó làm gương mẫu mực cho con cháu, dòng tộc để cố gắng học hành mai sau được như thế, còn bây giờ ư? Nhà, xe, địa vị & quyền lực đã chiếm hữu sự so sánh tệ hại của con người thực dụng vật chất. Thật là bỉ ổi cho cái đương đại này.

Trong bối cảnh toàn cầu mới những cách thức ràng buộc có thể biến dạng đi đôi chút, nhưng sức mạnh của nó và mạng lưới còn tinh vi và khó thoát hơn, được kiểm soát từng giờ qua mạng internet.

Nhưng dù thế nào luôn có những thế lực đối kháng giữa cái thiện và cái ác” (Trang 148)

Tất nhiên, trong dòng chảy đời sống nhân loại cái thiện, cái ác vĩnh viễn tồn tại, nhưng loài người nói chung và tác giả cũng như những nhà văn, nhà thơ, người làm nghệ thuật nói riêng… bao giờ cũng hy vọng, hạt thiện lành càng ngày càng nhiều người gieo rắc tưới tẫm hơn cho thế giới càng ngày đẹp hơn lên, nhưng biết đến bao giờ tinh cầu mới được hưởng sự an bình đó. Nhà văn viết tiếp: “Tuy vậy, ba vẫn luôn hy vọng con là mẫu đàn ông mà ba mơ ước: “Nhân hậu với người yếu đuối, dữ dội với kẻ hống hách, rộng rãi với người thương yêu, với kẻ ác. Kẻ thù của chúng ta là kẻ hành xử phi nhân và chà đạp lên lương tri con người” (Trang 148)

Trò chuyện với Thiên thần là cuộc chuyện trò với quá nhiều đề tài – Tôi gọi là 75 tiểu luận của nhà văn Trương văn Dân, mỗi tiểu luận nếu đọc thận trọng, ta thấy rất độc lập, thú vị vô cùng. Những lập luận của người cha (tác giả) mạch lạc, trong dòng ý thức của một nhà văn có trách nhiệm với quê hương, rộng thêm ra là cả nhân loại trên tinh cầu này, bên cạnh đó có nhiều thông tin rất bổ ích chứng tỏ nhà văn Trương Văn Dân tiêu tốn nhiều thời gian, công sức, trí tuệ cho tác phẩm này.

Nhiều người đã giới thiệu tác phẩm này, mỗi người có cái nhìn với góc nhìn của mình, chẳng ai giống ai. Với riêng tôi, đây là quyển sách anh dày công tập trung đưa ra nhiều dữ liệu để chúng ta – những người đọc nghiền ngẫm, với lượng kiến thức nhiều lĩnh vực trong xã hội loài người.

Niềm tin & tôn giáo là đề tài nói không cùng, còn nhiều tranh luận, nhưng trong chừng mực trang sách anh nêu ra rất thú vị, ai đọc chắc cũng dừng lại suy tư:

“Không phải ngẫu nhiên mà các nhà văn, nhà thơ lớn, trong lịch sử nhân loại đều có niềm tin tôn giáo sâu sắc: nhà thơ Virgilio (70a. C-19a.C), nhà văn William Shakespear (1564 – 1616), Hermann Hesse (1877-1962)…

Niềm tin không phải là mê tín, là yếu đuối. Khoa học và tôn giáo không hề mâu thuẫn mà bổ túc cho nhau để con người sống có lý trí hơn, nhân ái hơn thôi”.

Và rồi anh dẫn chứng câu chuyện giữa Louis Pasteur và cậu nhỏ háu đá trên chuyến xe lửa đi cùng, thật dí dỏm. Thường, bọn nhỏ chưa hiểu niềm tin tôn giáo, bởi các em mới tập tễnh bước vào đời, chưa hiểu nổi lý vô thường, các em tự tin chính mình nhưng võ đoán về niềm tin.

Riêng mục 75, trang 350 áp chót. Đây là lời tâm tình và cả sự thao thức cho Tổ quốc và dân tộc mến yêu, tôi đọc rất kỹ và hiểu rằng Giấc mơ Việt Nam –  yêu nước phải như thế. Hãy nhìn nhận một thực thể dù biết khó nhọc & đau thương, nhưng bao giờ cũng không bi quan, suy nghĩ lạc quan và tích cực để cải thiện. Tôi đồng tình và ủng hộ tư tưởng anh. Nhà văn nhà thơ nào yêu nước cũng chỉ nêu ra chừng ấy vấn đề. Những người có trách nhiệm với tổ quốc và dân tộc hãy xem trọng vấn đề nầy mới thực sự xứng đáng. Nếu mải mê chạy theo hư danh và lòng tham – Vốn dĩ nó vô cùng không thể đo đếm – Thì chẳng bao giờ được trọng vọng.

Cuối cùng: Thư gửi từ đám mây

Anh đã hóa thân tâm hồn Thiên Thần chuyện trò cùng mẹ, cùng nhân gian của hành tinh trong thời kỳ phụ thuộc vào nhau nhất với lời thì thầm của nhà văn trong cách diễn đạt rất tinh tế, “đến cái chết cũng chưa hết bất công”.

Chỉ là Trò Chuyện Với Thiên Thần, sao nhiều vấn đề quá để thôi thúc người đọc cảm thấy từng mục, từng chương, từ hiện tượng đến bản chất anh đều nêu ra với lượng thông tin khá nhiều, kiến thức ngồn ngộn trong kiến giải chừng mực của nhà văn Trương Văn Dân nào: Đạo đức, luận lý, tâm lý và cả tâm linh – Thần học từ hầu hết các lĩnh vực: Giáo dục, y tế, chính trị, khoa học và xã hội học…

Thay lời kết, tôi đồng ý trích lại câu của nhà phê bình Trần Hoài Anh: “Trong Trò Chuyện với Thiên Thần giàu tính triết luận, tính luận đề gắn với những vấn đề mang tính thời sự sâu sắc, tiếp cận hiện thực đời sống con người nhiều điểm nhìn phong phú như triết học, khoa học, nhân học, văn học, xã hội học, sinh thái học… phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa”.

Một tác phẩm văn hay rất đáng đọc.

P.N.D

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm