TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam

Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-02-19 22:42:12
mail facebook google pos stwis
1992 lượt xem

Phạm Ngọc Dũ

Triết gia Hy Lạp Platon đã nói: “Thước đo của một con người là xem cách anh ta làm gì với quyền lực”. Thế nhưng, có rất nhiều người có quyền, vì lòng tham và ích kỷ cá nhân nên đã hủy hoại nhân cách và đất nước của họ (TCVTT/ Trương Văn Dân)

Ảnh bìa tiểu thuyết Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam

Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam là tiểu thuyết không sai, một liên tiểu luận chẳng sao, về vấn đề chung của đất nước và nhân loại trên hành tinh, hay cuộc trò chuyện với mầm sống tinh anh – Thiên thần. Tất cả đều có thể là dụng ý của nhà văn Trương Văn Dân.

Theo lời tâm sự, bộc bạch của tác giả: “…Đó là quyển sách có những câu chuyện liên quan đến đời sống chúng ta, đến thân phận người dù nam hay nữ trong cuộc sống hằng ngày” (TVD)

Triết gia Hy Lạp Platon đã nói: “Thước đo của một con người là xem cách anh ta làm gì với quyền lực”. Thế nhưng, có rất nhiều người có quyền, vì lòng tham và ích kỷ cá nhân nên đã hủy hoại nhân cách và đất nước của họ.

Đối với nhà văn, ông không mưu cầu gì hơn là con được sinh ra và lớn lên, lành mạnh trong yêu thương của mẹ cha và không chịu bất cứ một áp lực nào của người lớn – Bậc mẹ cha. Đây là một thông điệp gửi gắm các bậc phụ huynh, đừng bắt trẻ con, phải gánh trên đôi vai non nớt, hồn nhiên trách nhiệm mà “người lớn” chưa làm được, đỗ dồn áp lực hết sức phi lý của ước mơ họ chưa làm được, nhất là hiện tượng của người Việt đương thời. Ông viết: “Ba chỉ mong mỏi là một đứa bé lành mạnh, có thời gian theo tính cách của mình. Hồn nhiên, vô tư không mang trên vai quá nhiều bổn phận và trách nhiệm. Mọi sự phong danh hiệu từ nỗi khát khao ích kỷ của người lớn, một cách ép trẻ phải chứng minh điều họ không làm được, để vác cái hư danh mở mày, mở mặt” (Trang 39)

Đọc xuyên suốt tác phẩm ta sẽ thấy nỗi thao thức dài những vấn nạn không chỉ có quốc gia nào, mà toàn bộ hành tinh này.

Người ta nhân danh vì sự nghiệp toàn cầu hóa, đem lại lợi ích cho toàn tinh cầu này. Điều ấy có chắc chắn không? Các định chế của các nước lớn đem lại quyền lợi hợp lý hơn, công bình hơn cho loài người?

Tác giả không tin điều ấy, ngay cả người viết bài này cũng không thể.

Tác giả trò chuyện với thiên thần nhỏ sắp chào đời nhiều vấn đề nan giải, tôi tin các bạn khi đọc xong quyển sách này sẽ còn tiếng thở dài, không thể có công bằng cho những thân phận nghèo khó và cơ cực, thậm chí đem lại nhiều hệ lụy, mặc dù công nghệ và kỹ thuật càng ngày càng văn minh đến mức chóng mặt, người ta có thể chuyện trò với người khác cách nhau nửa tinh cầu, hình ảnh rõ ràng, lời nói hầu như trọn vẹn. Về y khoa ư? Các nhà khoa học nỗ lực nghiên cứu vượt bậc trong mổ tim, nối các cơ, thay gan, ghép thận… để đem lại hy vọng sự sống cho mỗi bệnh nhân chẳng may bị những bệnh này. Còn những nhà nghiên cứu vũ khí chiến tranh thì sao? Họ nghiên cứu càng ngày càng tinh vi hơn vũ khí hạt nhân có thể sát hại hàng loạt con người cùng một lúc, bom khoan tìm mục đích đã lập trình sẵn mục tiêu trong đầu đạn, máy bay không người lái lập tình bằng máy tính…

Thế nhưng, chính những điều này đã làm nhức nhối thêm sự tàn độc, phi nhân của những người lòng lang dạ thú chỉ vì lợi lạc về tiền bạc có thể giết sinh linh để lấy nội tạng bán với giá ngất ngưỡng cho người giàu, xã hội Trung Quốc đã xảy ra hàng ngày nhan nhản đó sao. Ai là người tiếp tay? Hàng triệu con người đang bình yên trong cuộc sống thường ngày, phá tan hoang nhiều kiến trúc đã tồn tại hàng mấy trăm năm!

Nhà khoa học trong phòng thí nghiêm nghiên cứu để đem đến cho nhân loại tiến bộ hơn, nhưng bên ngoài xã hội càng ngày càng tham lam, so sánh nhau bằng vật chất: Tiền, xe, nhà, đất và địa vị, quyền lực, mấu chốt này đã làm xã hội băng hoại ngày càng trở nên trầm trọng về đạo đức, luân lý làm người không phải Việt Nam, mà hầu như toàn nhân loại bởi thực dụng vật chất.

Ông viết: “Thế giới hiện nay đang đánh mất nấc thang xã hội, không nhiều người còn lý tưởng, không mấy người còn niềm tin, không còn sự vĩ đại để tin theo, xung quanh người ta chỉ theo đuổi ước mơ: Kiếm tiền” (Trang 100). Có bao giờ như thế này chăng? Có phải sự thực dụng đang giết chết niềm tin toàn tinh cầu này?

Ngày trước giềng mối căn cơ của con người là đạo lý, nghĩa tình – Con người là trung tâm của mọi vấn đề, vật chất chỉ là thứ yếu, nhà cửa cần phải có để tránh mưa nắng, giông bão, căn bản là giáo dục đạo đức, trách nhiệm và danh dự cá nhân được đề cao: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Nhà giáo, bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học, triết gia…có thể đời sống đạm bạc nhưng được sự nễ trọng của toàn cộng đồng, xã hội, người ta lấy đó làm gương mẫu mực cho con cháu, dòng tộc để cố gắng học hành mai sau được như thế, còn bây giờ ư? Nhà, xe, địa vị & quyền lực đã chiếm hữu sự so sánh tệ hại của con người thực dụng vật chất. Thật là bỉ ổi cho cái đương đại này.

Trong bối cảnh toàn cầu mới những cách thức ràng buộc có thể biến dạng đi đôi chút, nhưng sức mạnh của nó và mạng lưới còn tinh vi và khó thoát hơn, được kiểm soát từng giờ qua mạng internet.

Nhưng dù thế nào luôn có những thế lực đối kháng giữa cái thiện và cái ác” (Trang 148)

Tất nhiên, trong dòng chảy đời sống nhân loại cái thiện, cái ác vĩnh viễn tồn tại, nhưng loài người nói chung và tác giả cũng như những nhà văn, nhà thơ, người làm nghệ thuật nói riêng… bao giờ cũng hy vọng, hạt thiện lành càng ngày càng nhiều người gieo rắc tưới tẫm hơn cho thế giới càng ngày đẹp hơn lên, nhưng biết đến bao giờ tinh cầu mới được hưởng sự an bình đó. Nhà văn viết tiếp: “Tuy vậy, ba vẫn luôn hy vọng con là mẫu đàn ông mà ba mơ ước: “Nhân hậu với người yếu đuối, dữ dội với kẻ hống hách, rộng rãi với người thương yêu, với kẻ ác. Kẻ thù của chúng ta là kẻ hành xử phi nhân và chà đạp lên lương tri con người” (Trang 148)

Trò chuyện với Thiên thần là cuộc chuyện trò với quá nhiều đề tài – Tôi gọi là 75 tiểu luận của nhà văn Trương văn Dân, mỗi tiểu luận nếu đọc thận trọng, ta thấy rất độc lập, thú vị vô cùng. Những lập luận của người cha (tác giả) mạch lạc, trong dòng ý thức của một nhà văn có trách nhiệm với quê hương, rộng thêm ra là cả nhân loại trên tinh cầu này, bên cạnh đó có nhiều thông tin rất bổ ích chứng tỏ nhà văn Trương Văn Dân tiêu tốn nhiều thời gian, công sức, trí tuệ cho tác phẩm này.

Nhiều người đã giới thiệu tác phẩm này, mỗi người có cái nhìn với góc nhìn của mình, chẳng ai giống ai. Với riêng tôi, đây là quyển sách anh dày công tập trung đưa ra nhiều dữ liệu để chúng ta – những người đọc nghiền ngẫm, với lượng kiến thức nhiều lĩnh vực trong xã hội loài người.

Niềm tin & tôn giáo là đề tài nói không cùng, còn nhiều tranh luận, nhưng trong chừng mực trang sách anh nêu ra rất thú vị, ai đọc chắc cũng dừng lại suy tư:

“Không phải ngẫu nhiên mà các nhà văn, nhà thơ lớn, trong lịch sử nhân loại đều có niềm tin tôn giáo sâu sắc: nhà thơ Virgilio (70a. C-19a.C), nhà văn William Shakespear (1564 – 1616), Hermann Hesse (1877-1962)…

Niềm tin không phải là mê tín, là yếu đuối. Khoa học và tôn giáo không hề mâu thuẫn mà bổ túc cho nhau để con người sống có lý trí hơn, nhân ái hơn thôi”.

Và rồi anh dẫn chứng câu chuyện giữa Louis Pasteur và cậu nhỏ háu đá trên chuyến xe lửa đi cùng, thật dí dỏm. Thường, bọn nhỏ chưa hiểu niềm tin tôn giáo, bởi các em mới tập tễnh bước vào đời, chưa hiểu nổi lý vô thường, các em tự tin chính mình nhưng võ đoán về niềm tin.

Riêng mục 75, trang 350 áp chót. Đây là lời tâm tình và cả sự thao thức cho Tổ quốc và dân tộc mến yêu, tôi đọc rất kỹ và hiểu rằng Giấc mơ Việt Nam –  yêu nước phải như thế. Hãy nhìn nhận một thực thể dù biết khó nhọc & đau thương, nhưng bao giờ cũng không bi quan, suy nghĩ lạc quan và tích cực để cải thiện. Tôi đồng tình và ủng hộ tư tưởng anh. Nhà văn nhà thơ nào yêu nước cũng chỉ nêu ra chừng ấy vấn đề. Những người có trách nhiệm với tổ quốc và dân tộc hãy xem trọng vấn đề nầy mới thực sự xứng đáng. Nếu mải mê chạy theo hư danh và lòng tham – Vốn dĩ nó vô cùng không thể đo đếm – Thì chẳng bao giờ được trọng vọng.

Cuối cùng: Thư gửi từ đám mây

Anh đã hóa thân tâm hồn Thiên Thần chuyện trò cùng mẹ, cùng nhân gian của hành tinh trong thời kỳ phụ thuộc vào nhau nhất với lời thì thầm của nhà văn trong cách diễn đạt rất tinh tế, “đến cái chết cũng chưa hết bất công”.

Chỉ là Trò Chuyện Với Thiên Thần, sao nhiều vấn đề quá để thôi thúc người đọc cảm thấy từng mục, từng chương, từ hiện tượng đến bản chất anh đều nêu ra với lượng thông tin khá nhiều, kiến thức ngồn ngộn trong kiến giải chừng mực của nhà văn Trương Văn Dân nào: Đạo đức, luận lý, tâm lý và cả tâm linh – Thần học từ hầu hết các lĩnh vực: Giáo dục, y tế, chính trị, khoa học và xã hội học…

Thay lời kết, tôi đồng ý trích lại câu của nhà phê bình Trần Hoài Anh: “Trong Trò Chuyện với Thiên Thần giàu tính triết luận, tính luận đề gắn với những vấn đề mang tính thời sự sâu sắc, tiếp cận hiện thực đời sống con người nhiều điểm nhìn phong phú như triết học, khoa học, nhân học, văn học, xã hội học, sinh thái học… phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa”.

Một tác phẩm văn hay rất đáng đọc.

P.N.D

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm