TIN TỨC

‘Những miền đất nhớ’ trong hồn người xa xứ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-06-01 14:39:43
mail facebook google pos stwis
2778 lượt xem

Lê Xuân

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bạn yêu thơ biết đến Đặng Tuyết trước hết ở tấm lòng thiện nguyện cao đẹp của chị. Là người con của Hà Tĩnh xa xôi nhưng duyên may đã đưa chị đến với Cần Thơ – vùng “gạo trắng nước trong” và xem đây là quê hương thứ hai của chị. Con người đam mê thơ và đầy lòng nhân ái này luôn lấy công tác xã hội làm niềm vui. Chị tham gia Hội Phụ nữ, Hội Chữ thập đỏ phường Hưng Lợi, làm cố vấn Hội người khuyết tật Thành phố Cần Thơ, là người sang lập Câu lạc bộ Thiện nguyện hơn 10 năm nay. Chị là Chủ nhiệm Câu lạc bộ Thiện nguyện “Nối vòng tay lớn”, trực thuộc Viện Võ học Việt Nam. Chị được xem như “người mẹ” hiền của những mảnh đời bất hạnh, kém may mắn trong xã hội, sẵn sàng cưu mang giúp đỡ họ và mong rằng “không ai bị bỏ lại phía sau”. Tất cả những ước nguyện, niềm vui và nỗi nhớ được chị chuyển vào những vần thơ dân dã mà  hiện đại và đậm tính nhân văn.

 


Nhà thơ Đặng Tuyết.

Đặng Tuyết đã xuất bản ba tập thơ: “Quê hương – nỗi nhớ trong tôi” (NXB Hội Nhà văn, 2015) “Điệu ví tình quê” (NXB Văn học, 2016), “Về miền sông Hậu” (NXB Hội Nhà văn, 2020) đã để lại dấu ấn đẹp trong lòng bạn đọc gần xa. Sức viết khỏe, cảm xúc thơ luôn thăng hoa trong tâm hồn chị để rồi “đứa con” thứ tư lại chào đời “Những miền đất nhớ” (NXB Hội Nhà văn – 2022) với 60 bài với đủ thể loại: lục bát, tứ tuyệt, Đường luật, thơ tự do… với các chủ đề “Miền đất nhớ”, “Những ngày giãn cách”, “Thơ cho mẹ và cháu”…

Với Đặng Tuyết, thơ trước hết là cuộc đời, như nhà văn Nam Cao đã nói “Sống đã rồi hãy viết”. Thơ đối với chị như khí trời, nước uống không thể thiếu được, bởi chị muốn dùng thơ để làm vơi đi những nắng lửa, trăn trở băn khoăn của cuộc sống. Thơ như một điểm tựa, chắp cánh cho chị đi trên mỗi bước đường. Đặng Tuyết đến với thơ mong giãi bày những ẩn ức, vui buồn của cuộc đời. Ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường chị đã rất yêu thơ. Và giấc mộng văn chương ấy cứ đeo bám chị trên mỗi chặng đường.

Trong mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương để thương, để nhớ, và nếu ai đó “Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nỗi thành người” (Đỗ Trung Quân). Nhà thơ người Nga Ilia Erenbua đã viết: “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào đại trường giang Vonga. Con sông Voga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Đặng Tuyết đã viết mấy chục bài về quê hương ở cả ba tập thơ, và những vùng đất đã qua trong những chuyến đi làm từ thiện về miền Trung bão lụt hay đi cứu trợ cho những vùng bị covid nặng, ta càng thấy tình quê hương đất nước và nghĩa cử vì đồng bào ruột thịt trong chị cao đẹp biết dường nào.

Tập “Những miền đất nhớ” của chị vẫn tiếp nối mạch nguồn cùng dòng chảy ở ba tập thơ trước “Quê hương, nỗi nhớ trong tôi”, “Điệu ví tình quê” và “Về miền sông Hậu” viết về đề tài: quê hương, gia đình, xã hội, về Đảng, Bác, Tổ quốc, viết về những mảnh đời bất hạnh, về người mẹ kính yêu, về tình bà cháu. Người đọc thấy rõ hơn những rung động của con tim về nỗi nhớ quê dằng dặc luôn thường trực trong người đàn bà đa cảm: “Đi tìm/ một chút hương quê/ Để người xa xứ/ tìm về chốn xưa/ Vẳng nghe/ Khúc hát đò đưa/ Xa/ Nghe thăm thẳm/ Giọt thưa giọt dầy/ Đung đưa/ mây gió hao gầy/ Hương đồng gió nội/ Làm ngây ngất lòng/ Bao giờ/ trở lại dòng song/ Nghiêng/ theo dòng nước/ Thong dong tháng ngày” (Hương quê).


Tập thơ “Những miền đất nhớ” của Đặng Tuyết.

Nguồn sữa nuôi dưỡng thơ chị là tình yêu quê hương đất nước nồng nàn, là nghĩa vụ và trách nhiệm công dân, là sự hiến dâng tự nguyện cho hạnh phúc cộng đồng. Từ những rung động vi mô đến những rung động vĩ mô của con tim đều ẩn chứa trong thơ chị. Cảm xúc thường trực, da diết nhất ở chị là người mẹ thân thương với bao tảo tần nơi Sông La với bốn mùa mưa nắng, nơi có ngọn gío Lào cháy bỏng và những cồn cát khô để nuôi chị lớn khôn. Những câu thơ về mẹ, về quê luôn đằm một nỗi nhớ, hấp dẫn bạn đọc ở nhiều cung bậc tình cảm:

Ta bâng khuâng thương nhớ rặng tre ngà

Sông Ngàn Sâu những chiều quê tắm mát

Bờ đê cong uốn khúc ruộng xanh màu

Nhớ mẹ lưng còng sớm trưa cày cấy.

(Đông lại về).

Nhiều buổi chiều chị thẫn thờ ngồi đếm vệt thời gian hay chút nắng hoàng hôn nhuộm vàng dáng quê để gom nỗi nhớ gửi về cho mẹ chia sớt cái lạnh mùa đông trên đất Bắc. Và vẳng vẳng đâu đây tiếng mẹ đằm thắm bên tai:

Nhớ lời mẹ dặn chúng con

Giàu sang nghèo khó phải tròn nghĩa nhân.

Trong đại dịch covid, chị luôn cầu mong cho mẹ và mọi người đừng ai bị F1, F0:

Mong đừng F một, F không

Để con bên mẹ thỏa lòng nhớ mong.

Đúng như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết: “Mẹ ru cái lẽ ở đời/ Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn”. Những vần thơ về mẹ và quê hương của chị góp phần làm vơi nỗi nhớ của những người con xa xứ.

Từ Cần Thơ xa xôi, chị vẫn “nối vòng tay lớn” tới nhiều vùng miền của đất nước để làm thiện nguyện:

Tình người kết nối niềm tin

Miền Tây sông nước nghĩa tình bốn phương

Tôi luôn cầu mong cho chị “chân cứng đá mềm” để góp phần làm vơi nỗi đau của bà con Hà Tĩnh, Quảng Bình, Phan Thiết, Đak Nông, Thái Nguyên, Bến Tre, Trà Vinh, Cà Mau…

Đây là những cung đàn vang ngân của tâm trạng vui buồn, sướng, khổ, ngậm ngùi, luyến nhớ khi qua mảnh đất miền Trung đang oằn mình trước cơn đại hồng thủy mà thiên nhiên vùi dập:

Trắng trời mây nước bao la

Đồng không nhà trống mẹ cha ngóng chờ

Sân trường vắng bóng em thơ

Nghẹn lòng bao cảnh bơ vơ không nhà.

(Thương về miền Trung)

Buồn thương và đau xót nhất trong thơ chị là những vần thơ viết về nỗi vất vả cực nhọc của những “thiên thần áo trắng” đã quên mình xông vào tuyến đầu của trung tâm dịch để cứu chữa cho bệnh nhân, họ luôn xem “chống dịch như chống giặc”. Có những y, bác sĩ đã hy sinh trên trận tuyến thầm lặng mà rất cam go này:

Thầy thuốc như những mẹ hiền

Đảo xa cho tới đất liền khắc ghi

Đôi ta đang tuổi xuân thì

Hy sinh thầm lặng còn gì đẹp hơn.

Tình người còn đẹp hơn khi trao cho nhau những chiếc khẩu trang là trao bao yêu thương ân tình:

Trao yêu thương gửi nụ cười

Ân tình đọng mãi rạng ngời mai sau.

Dù mưa gió bão bùng xối xả những “thiên thần áo trắng” ngành y hay các chiến sĩ công an vẫn bám trụ trên mỗi vọng gác, chung tay gìn giữ cho cuộc sống bình yên:

Trên trận tuyến covid từng giờ không ngơi nghỉ

Chiến trường không lửa đạn nhưng quyết liệt gay go.

Với hàng nghìn người dân từ thành phố Hồ Chí Minh rồng rắn về quê để tránh dịch covid bằng đủ mọi phương tiện, họ bất chấp gió sương, đường xa giãi nắng dầm mưa tìm về quê nhà, Đặng Tuyết  đã tỏ lòng xót thương, chia sẻ: “Cơn mưa chiều nặng hạt/ Những bước chân vội vàng/ Mong về lại bến xưa/ Ngọt phù sa sữa mẹ” (Người về từ phố xa). Nỗi đau của chị còn gửi tới cố nghệ sĩ Phi Nhung và biết bao liệt sĩ còn tên và chưa tìm thấy tên trên mọi nẻo đường Tổ quốc mà chị đã đi qua, để lại trong ta nhiều thương cảm về tình ngườ, tình đời:

Ngậm ngùi trước mộ không tên

Đâu đây những ánh sao đêm hẹn hò.

Bên cạnh nỗi nhớ quê hương, nhớ những vùng đất đi qua nạn dịch, chị dành nhiều vần thơ để nhớ con, thương cháu. Các cháu làm vui lòng bà, xoa vợi đi nỗi đau thường nhật. Thơ viết về thiếu niên của chị vừa hồn nhiên vừa dí dỏm như chính tâm hồn trẻ thơ vậy:

Ngày nắng mới đón bình minh

Cháu là tất cả niềm tin tự hào.

Một vầng trăng sáng, một tiếng trống trường, một tiếng gà gáy sáng, hay tiếng một con cún sủa, hoặc một tia nắng ban mai, một trận mưa đầu mùa đều làm xao xuyến hồn thơ nhạy cảm:

Hoa mưa đẹp lắm mẹ ơi

Từ trên cao xuống rụng rơi sân nhà

Bé ngồi đếm một hai ba

Hoa mưa tắm mát bông hoa trong vườn.

(Hoa mưa)

Trong thơ Đặng Tuyết có nỗi nhớ niềm thương, có nỗi đau về nhân tình thế thái, có những trăn trở, hoài vọng và niềm tin, cứ trải dài theo mỗi bước chân của chị trên mỗi cung đường. Thơ chị mang tính thời sự nhưng không kém phần lãng mạn, trữ tình. Có bi nhưng không hề lụy, luôn lạc quan yêu đời. Có niềm vui trào dâng nước mắt, có tiếng reo vang của trẻ thơ và biết bao âm thanh, sắc màu của cuộc sống luôn ùa vào theo cảm xúc thơ.

Gương mặt thơ Đặng Tuyết qua nhân vật trữ tình đến với bạn đọc để lại nhiều cảm mến. Tác giả đã vượt lên những đa đoan của cuộc đời để bước từ bóng đêm ra ánh sang. Chị đã nói hộ sự thổn thức con tim của biết bao người về quê hương, về gia đình, bè bạn, về tình thầy trò, về tình yêu lứa đôi. Chúng ta hy vọng sẽ được đón chào nhiều bài thơ hay của chị ở những tập thơ tiếp theo. Chúc chị luôn vững bước trên mọi nẻo đường đất nước để tiếp tục công việc thiện nguyện và sáng tác thơ. “Thơ và đời, đời và thơ” trong chị luôn là một “hằng số bất biến” đã “mặc định”, là thông điệp đa sắc đa thanh tắm mát tâm hồn người nghe. Xin trân trọng giới thiệu “Những miền đất nhớ” cùng bạn đọc.

L.X

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm