TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Những nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng

Những nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-06 22:09:07
mail facebook google pos stwis
1008 lượt xem

NGUYỄN CÔNG THANH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong hành trình trở về cội nguồn, Ma Văn Kháng đã dựng nên nhiều chân dung cao đẹp tiêu biểu cho truyền thống ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc. Nhưng nổi bật giữa bản đồng ca trong trẻo ấy là nhân vật chị Hoài - một con người coi “cái tình, cái nghĩa” là quý nhất. Hình ảnh chị Hoài trở về thăm và ăn tết với gia đình chồng cũ vào chiều ba mươi tết đã gây xúc động lòng người, để lại nhiều tình cảm đẹp đẽ cho bao thế hệ độc giả.

 

Bìa tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của nhà văn Ma Văn Kháng

 

1. Mâm cỗ cúng gia tiên cuối năm

Trong văn học hiện đại Việt Nam không hiếm những tác phẩm viết về những thú vui tao nhã, về văn hoá ẩm thực như uống trà, nhắm rượu, chơi hoa, thả thơ, thưởng thức các món ăn dân tộc… Nhiều sáng tác của Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng đã nói đến Miếng ngon Hà Nội, Hương cuội, Giò, Phở… Nhưng viết về bữa ăn ngày tết một cách tỉ mỉ, sống động và đầy cảm hứng thì phải đến Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng mới xuất hiện trên trang văn. Nhà văn gần như dành hai phần đầu của cuốn sách nói về việc mua sắm, chế biến, nấu nướng, bày biện, chuyện trò, chúc tụng trong bữa ăn tất niên. Tác giả đi từ khát quát đến cụ thể, từ diện đến điểm trong cách miêu tả. Vẫn giọng văn hùng hồn, có sự kết hợp giữa tả, kể với bình luận, triết lý mà sao tha thiết, sống động đến vô cùng. Ma Văn Kháng chọn tả một số nét đặc sắc của việc chuẩn bị mâm cỗ cuối năm như mua sắm thịt cá, gia vị… Các đồ hàng, có khi được hiện lên sống động qua ngôn ngữ người kể chuyện: “Trên mặt bàn, dưới nền đá hoa là bức tranh tĩnh vật ngổn ngang, mầu mỡ, đầy phong vị ngày tết. Trên bàn, dưới đất là cuộc trưng bày, là vật chất hoá tính lo toan tỉ mẩn, tài tháo vát, chu đáo và sự khéo khôn, thành thạo của Lý (…). Tất cả là thịt, là rau, là miếng sống, miếng chín vẫn ăn cả thôi mà sao vẫn hiển hiện vẻ đặc sắc khác thường!”. Có khi, nhà văn để cho nhân vật liệt kê, nhẩm tính tự nhiên theo kiểu bà nội trợ chỉn chu, cẩn trọng đang đếm tính chi ly từng thứ hàng đã mua hay còn thiếu:

“Đập tay lên trán, mặt nhăn nhăn, miệng lẩm bẩm:

- Bánh kẹo, mứt, bìa gia đình mua rồi. Pháo mua rồi. Dưa mua rồi. Tiêu sọ có rồi (…). Còn gì nữa nhỉ? Vịt, gà mai mới mua. Mộc nhĩ, nấm hương hãy còn đủ. Thôi chết, rõ ràng hàng bấc thì qua, hàng quà thì tới. Cái cặp chả! Lại quên mua rồi.

- Bánh đa nem, chị?

- Đấy, không nhắc lại quên (…). Gì nữa nhỉ? Khéo ăn phải cháo lú. À húng lìu, cà ri, sáng mai cô nhắc tôi nhé. Đấy suýt quên, ớt! Sáu hào một quả đấy!…”.

Tuy nhiên, trung tâm bữa ăn ngày tết là phần nấu nướng, chế biến các món ăn. Ma Văn kháng đã dồn tất cả bút lực vào miêu tả những món ăn đã được bàn tay nội trợ tài giỏi, khéo léo của Lý chế biến, sắp xếp. Ông không chỉ tỉ mỉ chi chút giới thiệu các món xào, nấu, hầm, luộc, rán, quay… được bày biện tinh tươm trong những tô bát trắng bong, mà còn không tiếc lời ngợi ca vẻ đẹp lung linh trong niềm say mê dồn trút hồn mình vào công việc bếp núc của Lý. Chị thực hiện thiên chức cao quý của mình với một sự say mê vô cùng, tận tuỵ vô cùng. Không một dấu vết của sự cẩu thả, tắc trách. Không một chi tiết tuỳ tiện, được chăng hay chớ. “Lý trút vào công việc tất cả sự sung sướng và kiêu hãnh vì được bộc lộ mình. Mọi việc dù to dù nhỏ, cũng đều hút hồn chị. Và những gì gọi là vật chất cụ thể, đã biểu hiện ra, nhờ bàn tay chị động vào, nhờ con mắt chị soi tới, nhờ ánh hồn chị chiếu xuống, đều óng ánh một linh hồn sống động”.

Trong tâm linh người Việt, bày biện mâm cỗ vào chiều tối ba mươi tết là để thỉnh mời vong linh những người thân yêu đã khuất về hưởng phúc lộc, hương hoa với con cháu trong ba ngày tết; là dịp gặp mặt những người ruột thịt sau cả năm trời xa cách hay bận rộn công việc. Là nhà văn hiểu sâu sắc phong tục truyền thống dân tộc, Ma Văn Kháng không đi sâu miêu tả cảnh ăn uống mà tập trung đặc tả bàn thờ gia tiên, thái độ thành kính, trang nghiêm, tâm trí phiêu diêu, lãng đãng của ông Bằng trong giây phút thiêng liêng “thưa chuyện” với tổ tiên, cha mẹ khi khấn lễ; miêu tả không khí ấm cúng, chuyện trò râm ran cùng những lời chúc tốt lành của các thành viên gia đình trong bàn tiệc.

Đọc những trang văn miêu tả bữa ăn tất niên sống động, đầy cảm hứng trong Mùa lá rụng trong vườn, chúng ta nhận thấy Ma Văn Kháng không chỉ là người quan tâm đưa ngôn ngữ chính luận tràn vào văn chương nghệ thuật mà còn có khả năng quan sát tinh tế, tả cảnh, tả tình rất đặc sắc.

2. Khu vườn dịu mát và bản nhạc cổ điển du dương

Mỗi lần lật giở Mùa lá rụng trong vườn, ta tưởng như lại nghe tiếng ve kêu râm ran, tiếng lá cây xào xạc hoà cùng âm thanh êm ái, dịu dàng của bản nhạc Vườn khuya. Khu vườn nhỏ xinh xắn, toả bóng mát quanh năm được Ma Văn Kháng nhắc đi nhắc lại mười hai lần trong tác phẩm. Mỗi lần, khu vườn hiện lên với một nét đẹp quyến rũ riêng. Xuân về, cây bật nẩy chồi non, khu vườn toả một làn không khí tươi lành và thanh tịnh. Chớm hạ, cây xanh đầm lá non toả hương thơm ngào ngạt, từng chùm quả non tơ xanh như ngọc lấp ló trên cành cây. Thu sang, hoa táo bung trắng ngà cả một góc vườn. Đông đến, cây thu hình gọn ghẽ, vườn cây dang tay đón đợi ánh trăng non ghé xuống tâm tình. Vườn cây trở thành người bạn đồng hành chứng kiến, sẻ chia, an ủi từng con người trong ngôi nhà. Bóng cây toả mát căn buồng, gợi cảm hứng cho ông Bằng lúc làm việc. Vườn cây giúp ông thư giãn sau những giờ mệt nhọc. Vườn cây đem lại trạng thái cân bằng cho Lý sau một ngày vật lộn với công việc căng thẳng ở cơ quan. Dưới bóng cây, chị có cảm giác bình yên, thanh thản. Vườn cây gắn kết với chị Hoài biết bao kỷ niệm. Đây là nơi chứng kiến lần gặp gỡ cuối cùng của vợ chồng chị trước lúc anh ra trận và rồi xa chị mãi mãi. Dù xa khu vườn đã lâu nhưng khi trở lại, mỗi loài cây trong vườn lại hiện lên sống động trong tâm trí chị. Chị vừa dạo bước trong vườn vừa âu yếm, thủ thỉ với từng cây như người mẹ sau một thời gian đi xa vỗ về, ve vuốt những đứa con yêu. Vườn cây là nơi chứng kiến những lời yêu thương, đồng cảm của Luận và Phượng. Vườn cây cũng là nơi hò hẹn của Cần và Vân. “Cây là chứng nhân có linh hồn, cây rung động với những tấm lòng chân thật”. Cây “bỗng rào rào lá và lộp độp buông sương” thấu hiểu cho tâm trạng xót xa, lưu luyến khu vườn của Phượng. Cây “nhu nhú những hạt sương treo, trông như những giọt nước mắt” khi nghe những lời nói xúc động, chân tình của chị Hoài về gia đình nhà chồng cũ. Cây rung cảm với giai điệu du dương của bản nhạc Vườn khuya. Cây xúc động khi bàn tay nóng ấm của chị Hoài ve vuốt.  Nhờ vườn cây và bản nhạc cổ điển mà dòng mạch trữ tình ở Mùa lá rụng trong vườn càng trở nên êm ả, dịu dàng, phần triết luận được cân bằng trở lại. Người đọc có cảm giác đang được ngồi “Dưới bóng hoàng lan” mát rượi hay thưởng thức “nắng hàng cau” ban mai trong khu vườn “xanh như ngọc” nơi thôn Vĩ mộng mơ. Miêu tả vườn cây sống động, có hồn là một cách tiếp nối truyền thống đẹp đẽ đã được khởi đầu từ Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng…

 3. Vẻ đẹp của tình người, của những giá trị đạo đức truyền thống

Trong hành trình trở về cội nguồn, Ma Văn Kháng đã dựng nên nhiều chân dung cao đẹp tiêu biểu cho truyền thống ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc. Nhưng nổi bật giữa bản đồng ca trong trẻo ấy là nhân vật chị Hoài - một con người coi “cái tình, cái nghĩa” là quý nhất. Hình ảnh chị Hoài trở về thăm và ăn tết với gia đình chồng cũ vào chiều ba mươi tết đã gây xúc động lòng người, để lại nhiều tình cảm đẹp đẽ cho bao thế hệ độc giả.

Chị vốn là con dâu trưởng, nhưng giờ đây chị đã có một gia đình riêng với bao lo toan vất vả cho cuộc sống chồng con. Mặc dù hình ảnh chị vẫn in đậm trong tâm thức mọi người nhưng không ai dám, không ai nỡ níu kéo chị về mình. Ao ước chị xuất hiện, chị trở về nhưng khi chị về thật, khi chị hiện diện bằng da bằng thịt trước cổng nhà mọi người vẫn “ngơ ngơ, ngác ngác” không tin vào mắt mình. Ông Bằng - người bố chồng và là người gắn bó với chị nhiều nhất - nghẹn ngào cảm động. Nhìn thấy chị, ông bỗng “sững lại”, “thoáng chút ngậm ngùi”, mắt chớp liên hồi, môi “lập bập không thành tiếng”. Chị cũng không làm chủ được mình lao về phía ông, rồi thốt lên tiếng ông như một tiếng nấc. Ngay cả tác giả cũng run rẩy xúc động khi viết về cuộc gặp gỡ cảm động này. Giọng văn hùng hồn, giàu chất triết luận thường ngày của Ma Văn Kháng bỗng trở nên ngập ngừng, đằm thắm. Nhiều điệp từ được dùng, nhiều tiếng nấc bật ra, hình ảnh “mắt chớp chớp”, “mắt ngấn lệ”, “những cơn sóng nghẹn ngào” bao trùm cả đoạn văn.

Gia tăng chất trữ tình, giảm lược chất triết luận trong việc miêu tả tâm trạng rưng rưng xúc động của chị Hoài và những người thân trong gia đình ông Bằng chiều ba mươi tết là một tìm tòi công phu, đầy sáng tạo của Ma Văn Kháng trong việc khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tuy nhiên, để đạt được ý đồ nghệ thuật trên, nhà văn có phần lý tưởng hoá nhân vật chị Hoài.

Trong quá trình tìm kiếm cho mình một phong cách nghệ thuật riêng, Ma Văn Kháng là nhà văn luôn dị ứng với kiểu viết công thức, rập khuôn theo những lối mòn quen thuộc. Ông không bao giờ bằng lòng với chính mình mà luôn tự đổi mới, vượt lên chính mình. Vào đầu những năm tám mươi của thế kỷ trước, Ma Văn Kháng đã mạnh dạn đổi mới tư duy nghệ thuật, chuyển mạch văn ngợi ca giàu chất trữ tình, rưng rưng hào sảng sang khuynh hướng phê phán. Tuy nhiên, những trang văn viết về nét đẹp văn hóa truyền thống của ông trong Mùa lá rụng trong vườn cũng vô cùng mềm mại, đằm thắm, gây xúc động sâu sắc cho các thế hệ độc giả.

N.C.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm