TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Những nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng

Những nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-06 22:09:07
mail facebook google pos stwis
1696 lượt xem

NGUYỄN CÔNG THANH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong hành trình trở về cội nguồn, Ma Văn Kháng đã dựng nên nhiều chân dung cao đẹp tiêu biểu cho truyền thống ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc. Nhưng nổi bật giữa bản đồng ca trong trẻo ấy là nhân vật chị Hoài - một con người coi “cái tình, cái nghĩa” là quý nhất. Hình ảnh chị Hoài trở về thăm và ăn tết với gia đình chồng cũ vào chiều ba mươi tết đã gây xúc động lòng người, để lại nhiều tình cảm đẹp đẽ cho bao thế hệ độc giả.

 

Bìa tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của nhà văn Ma Văn Kháng

 

1. Mâm cỗ cúng gia tiên cuối năm

Trong văn học hiện đại Việt Nam không hiếm những tác phẩm viết về những thú vui tao nhã, về văn hoá ẩm thực như uống trà, nhắm rượu, chơi hoa, thả thơ, thưởng thức các món ăn dân tộc… Nhiều sáng tác của Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng đã nói đến Miếng ngon Hà Nội, Hương cuội, Giò, Phở… Nhưng viết về bữa ăn ngày tết một cách tỉ mỉ, sống động và đầy cảm hứng thì phải đến Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng mới xuất hiện trên trang văn. Nhà văn gần như dành hai phần đầu của cuốn sách nói về việc mua sắm, chế biến, nấu nướng, bày biện, chuyện trò, chúc tụng trong bữa ăn tất niên. Tác giả đi từ khát quát đến cụ thể, từ diện đến điểm trong cách miêu tả. Vẫn giọng văn hùng hồn, có sự kết hợp giữa tả, kể với bình luận, triết lý mà sao tha thiết, sống động đến vô cùng. Ma Văn Kháng chọn tả một số nét đặc sắc của việc chuẩn bị mâm cỗ cuối năm như mua sắm thịt cá, gia vị… Các đồ hàng, có khi được hiện lên sống động qua ngôn ngữ người kể chuyện: “Trên mặt bàn, dưới nền đá hoa là bức tranh tĩnh vật ngổn ngang, mầu mỡ, đầy phong vị ngày tết. Trên bàn, dưới đất là cuộc trưng bày, là vật chất hoá tính lo toan tỉ mẩn, tài tháo vát, chu đáo và sự khéo khôn, thành thạo của Lý (…). Tất cả là thịt, là rau, là miếng sống, miếng chín vẫn ăn cả thôi mà sao vẫn hiển hiện vẻ đặc sắc khác thường!”. Có khi, nhà văn để cho nhân vật liệt kê, nhẩm tính tự nhiên theo kiểu bà nội trợ chỉn chu, cẩn trọng đang đếm tính chi ly từng thứ hàng đã mua hay còn thiếu:

“Đập tay lên trán, mặt nhăn nhăn, miệng lẩm bẩm:

- Bánh kẹo, mứt, bìa gia đình mua rồi. Pháo mua rồi. Dưa mua rồi. Tiêu sọ có rồi (…). Còn gì nữa nhỉ? Vịt, gà mai mới mua. Mộc nhĩ, nấm hương hãy còn đủ. Thôi chết, rõ ràng hàng bấc thì qua, hàng quà thì tới. Cái cặp chả! Lại quên mua rồi.

- Bánh đa nem, chị?

- Đấy, không nhắc lại quên (…). Gì nữa nhỉ? Khéo ăn phải cháo lú. À húng lìu, cà ri, sáng mai cô nhắc tôi nhé. Đấy suýt quên, ớt! Sáu hào một quả đấy!…”.

Tuy nhiên, trung tâm bữa ăn ngày tết là phần nấu nướng, chế biến các món ăn. Ma Văn kháng đã dồn tất cả bút lực vào miêu tả những món ăn đã được bàn tay nội trợ tài giỏi, khéo léo của Lý chế biến, sắp xếp. Ông không chỉ tỉ mỉ chi chút giới thiệu các món xào, nấu, hầm, luộc, rán, quay… được bày biện tinh tươm trong những tô bát trắng bong, mà còn không tiếc lời ngợi ca vẻ đẹp lung linh trong niềm say mê dồn trút hồn mình vào công việc bếp núc của Lý. Chị thực hiện thiên chức cao quý của mình với một sự say mê vô cùng, tận tuỵ vô cùng. Không một dấu vết của sự cẩu thả, tắc trách. Không một chi tiết tuỳ tiện, được chăng hay chớ. “Lý trút vào công việc tất cả sự sung sướng và kiêu hãnh vì được bộc lộ mình. Mọi việc dù to dù nhỏ, cũng đều hút hồn chị. Và những gì gọi là vật chất cụ thể, đã biểu hiện ra, nhờ bàn tay chị động vào, nhờ con mắt chị soi tới, nhờ ánh hồn chị chiếu xuống, đều óng ánh một linh hồn sống động”.

Trong tâm linh người Việt, bày biện mâm cỗ vào chiều tối ba mươi tết là để thỉnh mời vong linh những người thân yêu đã khuất về hưởng phúc lộc, hương hoa với con cháu trong ba ngày tết; là dịp gặp mặt những người ruột thịt sau cả năm trời xa cách hay bận rộn công việc. Là nhà văn hiểu sâu sắc phong tục truyền thống dân tộc, Ma Văn Kháng không đi sâu miêu tả cảnh ăn uống mà tập trung đặc tả bàn thờ gia tiên, thái độ thành kính, trang nghiêm, tâm trí phiêu diêu, lãng đãng của ông Bằng trong giây phút thiêng liêng “thưa chuyện” với tổ tiên, cha mẹ khi khấn lễ; miêu tả không khí ấm cúng, chuyện trò râm ran cùng những lời chúc tốt lành của các thành viên gia đình trong bàn tiệc.

Đọc những trang văn miêu tả bữa ăn tất niên sống động, đầy cảm hứng trong Mùa lá rụng trong vườn, chúng ta nhận thấy Ma Văn Kháng không chỉ là người quan tâm đưa ngôn ngữ chính luận tràn vào văn chương nghệ thuật mà còn có khả năng quan sát tinh tế, tả cảnh, tả tình rất đặc sắc.

2. Khu vườn dịu mát và bản nhạc cổ điển du dương

Mỗi lần lật giở Mùa lá rụng trong vườn, ta tưởng như lại nghe tiếng ve kêu râm ran, tiếng lá cây xào xạc hoà cùng âm thanh êm ái, dịu dàng của bản nhạc Vườn khuya. Khu vườn nhỏ xinh xắn, toả bóng mát quanh năm được Ma Văn Kháng nhắc đi nhắc lại mười hai lần trong tác phẩm. Mỗi lần, khu vườn hiện lên với một nét đẹp quyến rũ riêng. Xuân về, cây bật nẩy chồi non, khu vườn toả một làn không khí tươi lành và thanh tịnh. Chớm hạ, cây xanh đầm lá non toả hương thơm ngào ngạt, từng chùm quả non tơ xanh như ngọc lấp ló trên cành cây. Thu sang, hoa táo bung trắng ngà cả một góc vườn. Đông đến, cây thu hình gọn ghẽ, vườn cây dang tay đón đợi ánh trăng non ghé xuống tâm tình. Vườn cây trở thành người bạn đồng hành chứng kiến, sẻ chia, an ủi từng con người trong ngôi nhà. Bóng cây toả mát căn buồng, gợi cảm hứng cho ông Bằng lúc làm việc. Vườn cây giúp ông thư giãn sau những giờ mệt nhọc. Vườn cây đem lại trạng thái cân bằng cho Lý sau một ngày vật lộn với công việc căng thẳng ở cơ quan. Dưới bóng cây, chị có cảm giác bình yên, thanh thản. Vườn cây gắn kết với chị Hoài biết bao kỷ niệm. Đây là nơi chứng kiến lần gặp gỡ cuối cùng của vợ chồng chị trước lúc anh ra trận và rồi xa chị mãi mãi. Dù xa khu vườn đã lâu nhưng khi trở lại, mỗi loài cây trong vườn lại hiện lên sống động trong tâm trí chị. Chị vừa dạo bước trong vườn vừa âu yếm, thủ thỉ với từng cây như người mẹ sau một thời gian đi xa vỗ về, ve vuốt những đứa con yêu. Vườn cây là nơi chứng kiến những lời yêu thương, đồng cảm của Luận và Phượng. Vườn cây cũng là nơi hò hẹn của Cần và Vân. “Cây là chứng nhân có linh hồn, cây rung động với những tấm lòng chân thật”. Cây “bỗng rào rào lá và lộp độp buông sương” thấu hiểu cho tâm trạng xót xa, lưu luyến khu vườn của Phượng. Cây “nhu nhú những hạt sương treo, trông như những giọt nước mắt” khi nghe những lời nói xúc động, chân tình của chị Hoài về gia đình nhà chồng cũ. Cây rung cảm với giai điệu du dương của bản nhạc Vườn khuya. Cây xúc động khi bàn tay nóng ấm của chị Hoài ve vuốt.  Nhờ vườn cây và bản nhạc cổ điển mà dòng mạch trữ tình ở Mùa lá rụng trong vườn càng trở nên êm ả, dịu dàng, phần triết luận được cân bằng trở lại. Người đọc có cảm giác đang được ngồi “Dưới bóng hoàng lan” mát rượi hay thưởng thức “nắng hàng cau” ban mai trong khu vườn “xanh như ngọc” nơi thôn Vĩ mộng mơ. Miêu tả vườn cây sống động, có hồn là một cách tiếp nối truyền thống đẹp đẽ đã được khởi đầu từ Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng…

 3. Vẻ đẹp của tình người, của những giá trị đạo đức truyền thống

Trong hành trình trở về cội nguồn, Ma Văn Kháng đã dựng nên nhiều chân dung cao đẹp tiêu biểu cho truyền thống ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc. Nhưng nổi bật giữa bản đồng ca trong trẻo ấy là nhân vật chị Hoài - một con người coi “cái tình, cái nghĩa” là quý nhất. Hình ảnh chị Hoài trở về thăm và ăn tết với gia đình chồng cũ vào chiều ba mươi tết đã gây xúc động lòng người, để lại nhiều tình cảm đẹp đẽ cho bao thế hệ độc giả.

Chị vốn là con dâu trưởng, nhưng giờ đây chị đã có một gia đình riêng với bao lo toan vất vả cho cuộc sống chồng con. Mặc dù hình ảnh chị vẫn in đậm trong tâm thức mọi người nhưng không ai dám, không ai nỡ níu kéo chị về mình. Ao ước chị xuất hiện, chị trở về nhưng khi chị về thật, khi chị hiện diện bằng da bằng thịt trước cổng nhà mọi người vẫn “ngơ ngơ, ngác ngác” không tin vào mắt mình. Ông Bằng - người bố chồng và là người gắn bó với chị nhiều nhất - nghẹn ngào cảm động. Nhìn thấy chị, ông bỗng “sững lại”, “thoáng chút ngậm ngùi”, mắt chớp liên hồi, môi “lập bập không thành tiếng”. Chị cũng không làm chủ được mình lao về phía ông, rồi thốt lên tiếng ông như một tiếng nấc. Ngay cả tác giả cũng run rẩy xúc động khi viết về cuộc gặp gỡ cảm động này. Giọng văn hùng hồn, giàu chất triết luận thường ngày của Ma Văn Kháng bỗng trở nên ngập ngừng, đằm thắm. Nhiều điệp từ được dùng, nhiều tiếng nấc bật ra, hình ảnh “mắt chớp chớp”, “mắt ngấn lệ”, “những cơn sóng nghẹn ngào” bao trùm cả đoạn văn.

Gia tăng chất trữ tình, giảm lược chất triết luận trong việc miêu tả tâm trạng rưng rưng xúc động của chị Hoài và những người thân trong gia đình ông Bằng chiều ba mươi tết là một tìm tòi công phu, đầy sáng tạo của Ma Văn Kháng trong việc khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tuy nhiên, để đạt được ý đồ nghệ thuật trên, nhà văn có phần lý tưởng hoá nhân vật chị Hoài.

Trong quá trình tìm kiếm cho mình một phong cách nghệ thuật riêng, Ma Văn Kháng là nhà văn luôn dị ứng với kiểu viết công thức, rập khuôn theo những lối mòn quen thuộc. Ông không bao giờ bằng lòng với chính mình mà luôn tự đổi mới, vượt lên chính mình. Vào đầu những năm tám mươi của thế kỷ trước, Ma Văn Kháng đã mạnh dạn đổi mới tư duy nghệ thuật, chuyển mạch văn ngợi ca giàu chất trữ tình, rưng rưng hào sảng sang khuynh hướng phê phán. Tuy nhiên, những trang văn viết về nét đẹp văn hóa truyền thống của ông trong Mùa lá rụng trong vườn cũng vô cùng mềm mại, đằm thắm, gây xúc động sâu sắc cho các thế hệ độc giả.

N.C.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm