TIN TỨC

Hơn cả một tượng đài

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-06-09 05:47:34
mail facebook google pos stwis
5115 lượt xem

 CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

NGUYỄN MINH NGỌC

Về quê hương địa đạo Củ Chi, ghé vào xã Phước Hiệp, thăm Nhà tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Rành. Người dân quanh vùng thường gọi má bằng những cái tên thân thương: “Má Tám Rành”, “Bà mẹ Củ Chi”, “Bà mẹ Đất thép”, “Bà má Dũng sĩ”. Ngoài ra, do ghiền trầu từ thời trẻ, nên má còn được gọi là “Má Tám Trầu”.

Tuổi thơ nhọc nhằn

Cô bé Rành chào đời năm 1900 trong một gia đình nông dân nghèo, sẵn có truyền thống yêu nước ở ấp Trại Đèn, xã Phước Hiệp, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh). Bấy giờ, ở Nam kỳ, hội kín phát triển mạnh, đặc biệt là phong trào “Thiên Địa hội” của Phan Xích Long nổ ra tại Sài Gòn đã có tác động mạnh mẽ đến các tầng lớp nhân dân. Năm 1913, người cha của Rành bị thực dân Pháp bắt vì tội “làm quốc sự”, bị đày ra Côn Đảo và biệt tích. Nhà chỉ có hai anh em, quá nghèo và cực khổ, nên người anh của Rành đi ở trừ nợ từ trước. Ngày ngày, Rành đi mò tôm, xúc cá, mang ra chợ kiếm cái đắp đổi qua ngày. Nỗi đau mất cha còn chưa kịp nguôi ngoai, thì người mẹ đột ngột qua đời. Với món nợ truyền kiếp, nhưng “gia sản” chỉ có căn lều rách te tua như lều vịt, nên dù mới 14 tuổi, Rành bị tay xã trưởng cho người lôi về nhà hắn. Quãng đời đi ở đợ làm công, đói rách, cơ cực không sao kể xiết. Nhưng cô bé Rành cứ thế vụt lớn lên thành một thiếu nữ biết tự trọng, giàu tình cảm và cứng cỏi.

Mười tám tuổi, Rành gặp anh hương sư Nguyễn Văn Cầm (Tám Cầm), quê ở ấp Bàu Công, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, Long An, về dạy học trong vùng. Rồi họ nên vợ, nên chồng. Hai năm sau, tại ấp Trại Đèn, đứa con trai đầu lòng chào đời. Rồi anh Tám được cử về miền Tây trông coi một ngôi trường vừa mới mở. Tại đây, Tám Cầm gặp được những người cùng chung chí hướng, yêu nước, ghét Tây.

Dâng hiến cho cách mạng và kháng chiến

Trong vòng 22 năm (1920-1942), má Nguyễn Thị Rành sinh hạ 10 người con, 8 trai, 2 gái. Năm 1941, thầy giáo Cầm quyết định nghỉ dạy để có điều kiện hoạt động cách mạng, tham gia Việt Minh. Vợ chồng má luôn giáo dưỡng con cái biết sống tử tế, giàu tình thương và có nghĩa khí; anh chị làm gương cho em út. Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, thực dân Pháp trở lại gấy hấn, đánh chiếm Sài Gòn, rồi mở rộng ra toàn xứ Nam bộ. Nguyễn Văn Dúng, người con lớn đã giấu cha mẹ gia nhập bộ đội, anh được phân công làm Xã đội trưởng xã Phước Hiệp. Má nói với đàn con: Đứa nào lớ quớ theo giặc, tao chém! Năm 1947, má Tám Rành tham gia Hội Phụ nữ Cứu quốc xã. Trong lúc chỉ huy anh em đánh bọc hậu một đơn vị địch, anh Hai Dúng hy sinh, để lại người vợ trẻ và đứa con trai. Thương con đứt ruột, má xót xa cho con dâu còn quá trẻ và đứa cháu đích tôn thơ dại. Nhưng không gì cản được các con của má lần lượt nối tiếp nhau cầm súng đánh giặc. Năm 1954, má Nguyễn Thị Rành làm Hội trưởng Hội Mẹ chiến sĩ và là Chính trị viên Xã đội Phước Hiệp. Những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp, vợ chồng má nhận thêm một tin xé ruột: người con thứ 2 là Nguyễn Văn Sóc, tiểu đội trưởng đặc công hy sinh tại Long An.

Trong thời kỳ đen tối của cách mạng miền Nam, Củ Chi là một trong những nơi bị địch đàn áp khốc liệt, nhất là sau khi có đạo luật phát xít 10/59, Ngô Đình Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam. Ngoài việc tham gia “đội quân tóc dài”, đấu tranh trực diện với địch, má Tám còn đào hầm nuôi giấu cán bộ, tiếp tế cho du kích… Địch bắt nhốt má nửa tháng trời tại đồn quận lỵ Củ Chi, để hòng dụ Nguyễn Văn Vé người con thứ 4 ra hồi chánh. Và thêm một khúc ruột của má bị cắt lìa, chiến sĩ du kích Năm Vé anh dũng hy sinh. Nuốt nước mắt vào trong, vợ chồng má kêu cả đàn con đến trước thi hài của Năm Vé và nói như dao chém đá: “Mấy đứa bây coi gương của anh Hai, anh Ba, thằng Năm. Coi đó mà trả thù cho tụi nó!”. Cuối năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, gần giáp Tết, má Tám Rành cùng một số người trong Hội Mẹ chiến sĩ được mời dự hội nghị do Huyện ủy Củ Chi tổ chức bên bờ sông Vàm Cỏ Đông. Ngắm lá cờ nửa đỏ nửa xanh, lòng má bừng lên một tinh thần mới!

Năm 1965, Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam. Cùng với việc xây dựng căn cứ Đồng Dù, địch tăng cường chà xát, biến Củ Chi thành vùng trắng, bình địa. Sau khi bẻ gãy 2 trận càn với quy mô cực lớn là Crimp (Cái bẫy) và Cedar Falls “bóc vỏ trái đất”, tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn Miền lần thứ 2 (tháng 9/1967), Củ Chi được tặng danh hiệu “Đất thép Thành đồng”. Cùng trong năm này, má Rành ba lần nhận tin dữ. Chiến sĩ Nguyễn Văn Hè, người con thứ 5 bị địch khui hầm, trúng đạn chỉ cách nhà mẹ chừng vài trăm thước. Tiếp đến, đứa cháu nội Nguyễn Văn Rưng (con anh Hai Dúng), tiểu đội phó đặc công, hy sinh. Người con thứ 8, Nguyễn Văn Nâng, Xã đội trưởng Phước Hiệp bị pháo địch dập trúng. Là chính trị viên xã đội, má nuốt nước mắt, cắn chặt môi, nén lòng để giữ vững tinh thần cho các chiến sĩ du kích tiếp tục chiến đấu.

Tết Mậu Thân 1968, ông giáo Tám đau yếu phải về quê nội dưỡng bệnh. Một mình má Tám sửa soạn ban thờ cúng gia tiên. Trước 5 bát nhang, má lầm rầm khấn: Các con sống làm chiến sĩ, chết anh hùng vì dân vì nước, ráng phù hộ cho anh em đánh giặc. Rồi má lấy chéo khăn rằn chấm nước mắt… Ra giêng, má Tám Rành đứt đoạn thêm hai khúc ruột nữa. Chiến sĩ Nguyễn Văn Sướng, con thứ 7, vừa ngã xuống; tiếp đến Nguyễn Văn Huội, con thứ 6 hy sinh trong trận nhổ đồn địch ở An Nhơn Tây. Nhận tin dữ, má ôm con dâu và đứa cháu nội (con Bảy Huội) vào lòng, ngỡ mình không sống nổi. Bọn ác ôn đưa má Tám về đồn, giở trò dọa dẫm đủ đường, suốt tuần lễ, má không ăn, chỉ nhai trầu, uống nước cầm hơi. Cuối cùng chúng đành chào thua và thả bà Tám Trầu “cứng cổ”. Huyện ủy, Huyện đội Củ Chi lo cho sự an nguy của má Tám, nhưng má không chịu. Má nói với anh em, tụi bây báo với cấp trên, Tám Rành này còn giọt máu cuối cùng vẫn một lòng một dạ với cách mạng!

Đầu năm 1969, trong một trận đột nhập căn cứ địch, quân ta diệt nhiều tên. Khi đơn vị lui quân, chiến sĩ Nguyễn Văn Luông, người trai út của má Rành ở lại cản hậu và trúng đạn. Trước tột cùng nỗi đau, cả 8 người con trai cùng đứa cháu đích tôn hy sinh, năm sau, ông giáo Tám Cầm về với ông bà tổ tiên. Năm 1970, thêm đứa cháu ngoại là chiến sĩ Huỳnh Văn Cường, con chị Nguyễn Thị Săng (con thứ 3 của má), hy sinh tại Mộc Hóa, Long An.

Dường như má Rành đã khô kiệt nước mắt. Con người má quánh đặc nỗi đau. Nhưng không chỉ lao vào hoạt động, má như cây cột trụ làm chỗ dựa vững chắc cho con dâu, con gái kiên cường sống. Ngày 29/4/1975, từ sáng sớm má Tám đã xuống đường. Má treo cờ đỏ sao vàng lên ngọn cây điệp ở đầu ấp Phước Hòa, xã Phước Hiệp, mở màn cho cuộc nổi dậy giành chính quyền của nhân dân xã nhà.

Tượng đài bất tử

Ngày 6/11/1978, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Nguyễn Thị Rành, vì đã “làm được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc về chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần cùng toàn dân đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”. Ngày 26/1/1979, má Tám Rành qua đời. Năm 1983, vợ chồng má được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Đến năm 1994, má Rành được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, vì có 8 người con và 2 cháu nội, ngoại hy sinh cho Tổ quốc. Để ghi nhớ công ơn của “Bà mẹ Đất thép”, Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định chọn con đường đẹp nhất Củ Chi mang tên Nguyễn Thị Rành. Đường dài gần 20km, từ ngã rẽ quốc lộ 22 thuộc ấp Bàu Đưng, xã Tân An Hội, kéo qua Trung Lập Hạ, Nhuận Đức, An Nhơn Tây và kết thúc tại điểm đầu tỉnh lộ 8, xã Phú Mỹ Hưng. Trên con đường này, có một trạm y tế mang tên má Tám.

Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX (2011-2016) ra nghị quyết chọn công trình Nhà tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Anh hùng LLVTND Nguyễn Thị Rành là 1 trong 6 công trình trọng điểm của nhiệm kỳ 2011-2016. Công trình được khởi công từ tháng 7/2012 và khánh thành cuối tháng 1/2013 trên nền nhà cũ của má. Giai đoạn 2 mở rộng  được hoàn thành vào tháng 10/2016, với tổng diện tích 5.609 m2. Kinh phí xây dựng do cán bộ, hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ 24 quận, huyện, các đơn vị và Mạnh thường quân đóng góp. Bên trong nhà có phù điêu chân dung má Tám Rành. Phía trên bàn thờ là ảnh Bác Hồ với câu nói của Người: “Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ hai miền Nam - Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”. Tiếp đến là bài vị thờ chồng má, cùng 8 con trai, 2 cháu liệt sĩ. Phía trước trang thờ, trên hai cột được chạm khắc cặp câu đối: “Trước sau một dạ anh hùng, quê nghèo đất thép; Con cháu mười người Liệt sĩ, tay trắng lòng son”. Gia tài của “Bà mẹ Củ Chi” được lồng trong tủ kính là 5 cái chén đĩa, 1 cây đèn bão, 1 cái cối giã trầu bằng đồng bé tẹo và một xấp dày giấy báo tử… Chỉ vậy thôi, nhưng dân tộc này, đất nước này sẽ trường tồn mãi mãi bởi những người mẹ như má Nguyễn Thị Rành. Mất con nhưng còn nước! Đức hy sinh của má Tám Rành không gì sánh nổi, vâng, có lẽ nó còn hơn cả một tượng đài!

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TP.HCM.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm