TIN TỨC

Hơn cả một tượng đài

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-06-09 05:47:34
mail facebook google pos stwis
4854 lượt xem

 CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

NGUYỄN MINH NGỌC

Về quê hương địa đạo Củ Chi, ghé vào xã Phước Hiệp, thăm Nhà tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Rành. Người dân quanh vùng thường gọi má bằng những cái tên thân thương: “Má Tám Rành”, “Bà mẹ Củ Chi”, “Bà mẹ Đất thép”, “Bà má Dũng sĩ”. Ngoài ra, do ghiền trầu từ thời trẻ, nên má còn được gọi là “Má Tám Trầu”.

Tuổi thơ nhọc nhằn

Cô bé Rành chào đời năm 1900 trong một gia đình nông dân nghèo, sẵn có truyền thống yêu nước ở ấp Trại Đèn, xã Phước Hiệp, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh). Bấy giờ, ở Nam kỳ, hội kín phát triển mạnh, đặc biệt là phong trào “Thiên Địa hội” của Phan Xích Long nổ ra tại Sài Gòn đã có tác động mạnh mẽ đến các tầng lớp nhân dân. Năm 1913, người cha của Rành bị thực dân Pháp bắt vì tội “làm quốc sự”, bị đày ra Côn Đảo và biệt tích. Nhà chỉ có hai anh em, quá nghèo và cực khổ, nên người anh của Rành đi ở trừ nợ từ trước. Ngày ngày, Rành đi mò tôm, xúc cá, mang ra chợ kiếm cái đắp đổi qua ngày. Nỗi đau mất cha còn chưa kịp nguôi ngoai, thì người mẹ đột ngột qua đời. Với món nợ truyền kiếp, nhưng “gia sản” chỉ có căn lều rách te tua như lều vịt, nên dù mới 14 tuổi, Rành bị tay xã trưởng cho người lôi về nhà hắn. Quãng đời đi ở đợ làm công, đói rách, cơ cực không sao kể xiết. Nhưng cô bé Rành cứ thế vụt lớn lên thành một thiếu nữ biết tự trọng, giàu tình cảm và cứng cỏi.

Mười tám tuổi, Rành gặp anh hương sư Nguyễn Văn Cầm (Tám Cầm), quê ở ấp Bàu Công, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, Long An, về dạy học trong vùng. Rồi họ nên vợ, nên chồng. Hai năm sau, tại ấp Trại Đèn, đứa con trai đầu lòng chào đời. Rồi anh Tám được cử về miền Tây trông coi một ngôi trường vừa mới mở. Tại đây, Tám Cầm gặp được những người cùng chung chí hướng, yêu nước, ghét Tây.

Dâng hiến cho cách mạng và kháng chiến

Trong vòng 22 năm (1920-1942), má Nguyễn Thị Rành sinh hạ 10 người con, 8 trai, 2 gái. Năm 1941, thầy giáo Cầm quyết định nghỉ dạy để có điều kiện hoạt động cách mạng, tham gia Việt Minh. Vợ chồng má luôn giáo dưỡng con cái biết sống tử tế, giàu tình thương và có nghĩa khí; anh chị làm gương cho em út. Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, thực dân Pháp trở lại gấy hấn, đánh chiếm Sài Gòn, rồi mở rộng ra toàn xứ Nam bộ. Nguyễn Văn Dúng, người con lớn đã giấu cha mẹ gia nhập bộ đội, anh được phân công làm Xã đội trưởng xã Phước Hiệp. Má nói với đàn con: Đứa nào lớ quớ theo giặc, tao chém! Năm 1947, má Tám Rành tham gia Hội Phụ nữ Cứu quốc xã. Trong lúc chỉ huy anh em đánh bọc hậu một đơn vị địch, anh Hai Dúng hy sinh, để lại người vợ trẻ và đứa con trai. Thương con đứt ruột, má xót xa cho con dâu còn quá trẻ và đứa cháu đích tôn thơ dại. Nhưng không gì cản được các con của má lần lượt nối tiếp nhau cầm súng đánh giặc. Năm 1954, má Nguyễn Thị Rành làm Hội trưởng Hội Mẹ chiến sĩ và là Chính trị viên Xã đội Phước Hiệp. Những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp, vợ chồng má nhận thêm một tin xé ruột: người con thứ 2 là Nguyễn Văn Sóc, tiểu đội trưởng đặc công hy sinh tại Long An.

Trong thời kỳ đen tối của cách mạng miền Nam, Củ Chi là một trong những nơi bị địch đàn áp khốc liệt, nhất là sau khi có đạo luật phát xít 10/59, Ngô Đình Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam. Ngoài việc tham gia “đội quân tóc dài”, đấu tranh trực diện với địch, má Tám còn đào hầm nuôi giấu cán bộ, tiếp tế cho du kích… Địch bắt nhốt má nửa tháng trời tại đồn quận lỵ Củ Chi, để hòng dụ Nguyễn Văn Vé người con thứ 4 ra hồi chánh. Và thêm một khúc ruột của má bị cắt lìa, chiến sĩ du kích Năm Vé anh dũng hy sinh. Nuốt nước mắt vào trong, vợ chồng má kêu cả đàn con đến trước thi hài của Năm Vé và nói như dao chém đá: “Mấy đứa bây coi gương của anh Hai, anh Ba, thằng Năm. Coi đó mà trả thù cho tụi nó!”. Cuối năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, gần giáp Tết, má Tám Rành cùng một số người trong Hội Mẹ chiến sĩ được mời dự hội nghị do Huyện ủy Củ Chi tổ chức bên bờ sông Vàm Cỏ Đông. Ngắm lá cờ nửa đỏ nửa xanh, lòng má bừng lên một tinh thần mới!

Năm 1965, Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam. Cùng với việc xây dựng căn cứ Đồng Dù, địch tăng cường chà xát, biến Củ Chi thành vùng trắng, bình địa. Sau khi bẻ gãy 2 trận càn với quy mô cực lớn là Crimp (Cái bẫy) và Cedar Falls “bóc vỏ trái đất”, tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn Miền lần thứ 2 (tháng 9/1967), Củ Chi được tặng danh hiệu “Đất thép Thành đồng”. Cùng trong năm này, má Rành ba lần nhận tin dữ. Chiến sĩ Nguyễn Văn Hè, người con thứ 5 bị địch khui hầm, trúng đạn chỉ cách nhà mẹ chừng vài trăm thước. Tiếp đến, đứa cháu nội Nguyễn Văn Rưng (con anh Hai Dúng), tiểu đội phó đặc công, hy sinh. Người con thứ 8, Nguyễn Văn Nâng, Xã đội trưởng Phước Hiệp bị pháo địch dập trúng. Là chính trị viên xã đội, má nuốt nước mắt, cắn chặt môi, nén lòng để giữ vững tinh thần cho các chiến sĩ du kích tiếp tục chiến đấu.

Tết Mậu Thân 1968, ông giáo Tám đau yếu phải về quê nội dưỡng bệnh. Một mình má Tám sửa soạn ban thờ cúng gia tiên. Trước 5 bát nhang, má lầm rầm khấn: Các con sống làm chiến sĩ, chết anh hùng vì dân vì nước, ráng phù hộ cho anh em đánh giặc. Rồi má lấy chéo khăn rằn chấm nước mắt… Ra giêng, má Tám Rành đứt đoạn thêm hai khúc ruột nữa. Chiến sĩ Nguyễn Văn Sướng, con thứ 7, vừa ngã xuống; tiếp đến Nguyễn Văn Huội, con thứ 6 hy sinh trong trận nhổ đồn địch ở An Nhơn Tây. Nhận tin dữ, má ôm con dâu và đứa cháu nội (con Bảy Huội) vào lòng, ngỡ mình không sống nổi. Bọn ác ôn đưa má Tám về đồn, giở trò dọa dẫm đủ đường, suốt tuần lễ, má không ăn, chỉ nhai trầu, uống nước cầm hơi. Cuối cùng chúng đành chào thua và thả bà Tám Trầu “cứng cổ”. Huyện ủy, Huyện đội Củ Chi lo cho sự an nguy của má Tám, nhưng má không chịu. Má nói với anh em, tụi bây báo với cấp trên, Tám Rành này còn giọt máu cuối cùng vẫn một lòng một dạ với cách mạng!

Đầu năm 1969, trong một trận đột nhập căn cứ địch, quân ta diệt nhiều tên. Khi đơn vị lui quân, chiến sĩ Nguyễn Văn Luông, người trai út của má Rành ở lại cản hậu và trúng đạn. Trước tột cùng nỗi đau, cả 8 người con trai cùng đứa cháu đích tôn hy sinh, năm sau, ông giáo Tám Cầm về với ông bà tổ tiên. Năm 1970, thêm đứa cháu ngoại là chiến sĩ Huỳnh Văn Cường, con chị Nguyễn Thị Săng (con thứ 3 của má), hy sinh tại Mộc Hóa, Long An.

Dường như má Rành đã khô kiệt nước mắt. Con người má quánh đặc nỗi đau. Nhưng không chỉ lao vào hoạt động, má như cây cột trụ làm chỗ dựa vững chắc cho con dâu, con gái kiên cường sống. Ngày 29/4/1975, từ sáng sớm má Tám đã xuống đường. Má treo cờ đỏ sao vàng lên ngọn cây điệp ở đầu ấp Phước Hòa, xã Phước Hiệp, mở màn cho cuộc nổi dậy giành chính quyền của nhân dân xã nhà.

Tượng đài bất tử

Ngày 6/11/1978, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Nguyễn Thị Rành, vì đã “làm được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc về chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần cùng toàn dân đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”. Ngày 26/1/1979, má Tám Rành qua đời. Năm 1983, vợ chồng má được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Đến năm 1994, má Rành được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, vì có 8 người con và 2 cháu nội, ngoại hy sinh cho Tổ quốc. Để ghi nhớ công ơn của “Bà mẹ Đất thép”, Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định chọn con đường đẹp nhất Củ Chi mang tên Nguyễn Thị Rành. Đường dài gần 20km, từ ngã rẽ quốc lộ 22 thuộc ấp Bàu Đưng, xã Tân An Hội, kéo qua Trung Lập Hạ, Nhuận Đức, An Nhơn Tây và kết thúc tại điểm đầu tỉnh lộ 8, xã Phú Mỹ Hưng. Trên con đường này, có một trạm y tế mang tên má Tám.

Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX (2011-2016) ra nghị quyết chọn công trình Nhà tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Anh hùng LLVTND Nguyễn Thị Rành là 1 trong 6 công trình trọng điểm của nhiệm kỳ 2011-2016. Công trình được khởi công từ tháng 7/2012 và khánh thành cuối tháng 1/2013 trên nền nhà cũ của má. Giai đoạn 2 mở rộng  được hoàn thành vào tháng 10/2016, với tổng diện tích 5.609 m2. Kinh phí xây dựng do cán bộ, hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ 24 quận, huyện, các đơn vị và Mạnh thường quân đóng góp. Bên trong nhà có phù điêu chân dung má Tám Rành. Phía trên bàn thờ là ảnh Bác Hồ với câu nói của Người: “Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ hai miền Nam - Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”. Tiếp đến là bài vị thờ chồng má, cùng 8 con trai, 2 cháu liệt sĩ. Phía trước trang thờ, trên hai cột được chạm khắc cặp câu đối: “Trước sau một dạ anh hùng, quê nghèo đất thép; Con cháu mười người Liệt sĩ, tay trắng lòng son”. Gia tài của “Bà mẹ Củ Chi” được lồng trong tủ kính là 5 cái chén đĩa, 1 cây đèn bão, 1 cái cối giã trầu bằng đồng bé tẹo và một xấp dày giấy báo tử… Chỉ vậy thôi, nhưng dân tộc này, đất nước này sẽ trường tồn mãi mãi bởi những người mẹ như má Nguyễn Thị Rành. Mất con nhưng còn nước! Đức hy sinh của má Tám Rành không gì sánh nổi, vâng, có lẽ nó còn hơn cả một tượng đài!

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TP.HCM.

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm