TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang

“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-12 13:08:50
mail facebook google pos stwis
921 lượt xem

Biên cương trong tập thơ "Những ngọn gió biên cương" của Trần Mai Hường không chỉ là đường biên địa lý, mà còn là không gian của ký ức, tình người và mùi nhang khói gia đình. Một khúc sử thi nhỏ được kể bằng giọng thơ dịu lắng, nhắc ta yêu đất nước từ những điều gần nhất. Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết của Nguyên Anh, đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.

NGUYÊN ANH
(Đọc “Những ngọn gió biên cương”, Nxb Hội Nhà văn, 2025)

Có những tập thơ không chỉ đọc bằng mắt, mà bằng ký ức của một cộng đồng. Những ngọn gió biên cương của Trần Mai Hường mở ra như cuốn-sổ-gió: gió đi dọc cột mốc, gió ghé đảo trong đêm mưa, gió đứng im trước bia mộ liệt sĩ rồi quay về căn bếp nơi người vợ trẻ bồng con. Ngay từ đầu, thơ đã chọn cách nói bằng đời sống: chủ quyền đất nước không phải một khẩu hiệu khô lạnh, mà là đạo sống của từng người. Bởi thế, câu thơ bật ra giản dị mà âm vang: “Khi mỗi người dân là cột mốc chủ quyền”. Không cần phô trương, chỉ một phép hoán dụ tinh gọn đã chuyển cảm hứng sử thi vào nếp sinh hoạt thường ngày. Tư tưởng ấy xuyên suốt, khẳng định một chân lý mộc mạc: “Từ Mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái… Hai chữ chủ quyền được tô bằng máu đỏ…”“Trời của ta biển của ta đây… Hạt cát nhỏ cũng khắc ghi nguồn cội”.

Hơi thở biển đảo là sắc diện riêng của tập thơ. Ký ức mang tên Gạc Ma không hiện lên như một bản diễn văn, nó đến bằng một tư thế: “Tôi lặng người quỳ xuống trước mênh mông” khi “Biển kể tôi nghe… Về quần đảo Trường Sa thiêng liêng máu thịt / Về trận Gạc Ma hơn ba mươi năm trước…”. Cúi mình – đó là động tác thẩm mỹ quan trọng nhất ở phần thơ này. Từ góc nhìn ấy, những hình ảnh mang tính nghi lễ được gọi dậy: “Khói nhang trùm mộ sóng”, tiếng gió vỗ như tiếng gọi tên từng đồng đội “đang đứng thành cột mốc” giữa thẳm xanh, nơi “Anh linh hòa sóng biếc / Mãi tỏa hương từng giờ”. Trong không khí trang nghiêm ấy, “Một sớm qua Gạc Ma… / Ngọn gió thiêng vuốt biển / Biển cúi mình trang nghiêm”. Khi viết chừng mực, chất bi tráng không bị quá tay; nó đủ vững nhờ sự lặng im. Nhiều câu ngắn, rõ, giàu tính khứu giác – thị giác, đủ để người đọc “ngửi được” mùi muối mặn của ký ức: “Nén hương xiêu theo gió”. Chỉ chữ ‘xiêu’ ở đây cũng làm câu thơ dịu đi nhiều lắm.  

Bên cạnh giọng sử thi là giọng trữ tình của người vợ, người mẹ, người đàn bà biển. Ở mảng này, Trần Mai Hường để biên cương cất tiếng từ đời sống thường ngày: “Làm vợ được một tuần rồi tiễn chồng ra trận” – câu thơ tự đủ, chẳng cần thán từ. Chỉ một mốc thời gian, một động tác đời thường, là đủ. Nhịp điệu chậm, hơi thở khẽ, hình ảnh ít, nhờ vậy nỗi đau bớt trừu tượng. Người đọc thấy bậc ngõ, nghe tiếng bồng con, chạm vào chiếc then cài run rẩy. “Đêm đêm chị lại tìm ra ngõ / Chờ linh hồn anh theo gió bay về” và cảm nhận nỗi đau tái hiện khi “Gặp đôi mắt người vợ trẻ khi tàu cập bến / Cứ đầm đìa trong vòng ôm siết”. Ở nơi ấy, lịch sử thôi lộng lẫy; nó trở về đúng kích cỡ của một mái nhà. Nỗi đau ấy còn in dấu lên đời mẹ, một nỗi đau dài lâu dù đất nước đã hòa bình: “Con ơi, đất nước đã hòa bình, máu đã xanh cây / Nhưng đau mẹ còn nguyên… / Nếu linh thiêng con hãy là ngọn gió / Về đậu hờ trên vai mẹ con yêu”.

Tác giả đã rất thành công khi gắn cảm xúc vào các hình ảnh quen thuộc của địa phương. Hoa bàng vuông – cái tên nghe đã có nhịp gió – được nhân cách hóa thành gương mặt người vợ lính. Một “Phút nụ bàng vuông bung muốt cánh mềm” bỗng làm dịu cả biển; thiên nhiên, bằng cách đó, trở thành người canh thềm lục địa. Vì “Bởi hoa thương người vợ lính… Viết tên chồng in hoa đậm… / Bởi hoa biết mình nhỏ bé… Canh thềm lục địa bình yên”. Lựa chọn biểu tượng này mở ra mỹ cảm biển đảo gần gũi, không hô hào mà thấm. Rộng hơn, tập thơ lặng lẽ vẽ một bản đồ địa lý–cảm xúc của Việt Nam: sắc tím hoa sim trên đá Hà Giang, mùi phù sa Hàm Luông, mặt nước lấp lóa Tuy Hòa… Mỗi địa danh không chỉ là tọa độ; đó là khoảnh khắc đời sống được ghim lại bằng hình ảnh và nhịp điệu.

Đặc biệt, bài thơ “Những trận mưa máu” như một đỉnh cảm xúc bi tráng của cả tập. Ở đó, Trần Mai Hường tái hiện mùa hè đỏ lửa Quảng Trị 1972 bằng thứ ngôn ngữ rớm máu và chan chứa nhân tình. Những câu ngắn, dồn dập – “81 ngày đêm – mưa mang màu máu đỏ / Máu đỏ và lửa đỏ / Xé toạc đất trời/… Nước và trời soi bóng đỏ trong nhau” – khiến nhịp thơ như vỡ ra cùng tiếng bom. Nhưng giữa cơn bão máu ấy, nhà thơ vẫn giữ được ánh sáng của lòng trắc ẩn: “Lộng lẫy nỗi đau / Lộng lẫy tình đồng đội”. Chính từ trong khốc liệt, Trần Mai Hường phát hiện vẻ đẹp của con người Việt – vẻ đẹp quả cảm, kiên trung, biết hóa bi thương thành huy hoàng. Khi tiếng gọi “Mẹ ơi…” vang lên, bài thơ vượt khỏi ranh giới của sử thi để chạm vào huyết mạch nhân loại: nỗi đau của người con và nỗi đau của Mẹ Tổ quốc cùng hòa làm một. “Những trận mưa máu” vì thế là ký ức không thể gột rửa, là lời chứng thiêng liêng mà tập thơ dâng tặng những linh hồn đã hóa vào dòng sông Thạch Hãn.

Ở một biên độ khác, thơ bước dọc tuyến đường tuần tra và hậu phương. Tác giả không dựng tượng người lính bằng ánh hào quang mà bằng nhu cầu sinh tồn: “Đường tuần tra cơm nắm muối vừng ăn vội…”. Hình ảnh này đưa thơ trở lại với nền đất đời sống, làm chỗ đứng vững chắc cho những đoạn trữ tình nâng cao phía sau. Chính nhờ “độ thô ráp” của chi tiết đời thường mà những câu mang tầm khai mở mới đứng vững; ta tin vào bình minh vì đã đi qua đêm trực gió ngắt, tin vào lời thề vì đã nghe tiếng bụng réo của một bữa ăn qua loa. Bên cạnh đó, các chân dung thầm lặng – “Các anhnhững chàng trai đang độ thanh xuân… / Giữ gìn từng tấc đất… / Hạnh phúc của lính biên phòng… để nhân dân hạnh phúc”, người lính chốt bản, người gác nhà giàn – tạo thành một dàn đồng ca trầm, nơi trách nhiệm được phát âm bằng công việc hằng ngày, và họ chính là những “Họ thành trầm tích ban mai, thành ánh bình minh”.

Về hình thức, Những ngọn gió biên cương thiên về thơ tự do, ưa điệp cấu trúc và thỉnh thoảng đẩy xúc cảm tới rìa cường điệu. Khi tiết chế, câu chữ đẹp, sáng, giàu khả năng lưu trú với những phát hiện ngôn ngữ đắt giá: “Đã lặng rồi máu đã xanh cây”, “Nén hương xiêu theo gió / Mây trắng trời biên cương”; khi buông tay, đôi chỗ tràn thán từ, kéo dài chuỗi láy khiến nhạc tính bị che mờ. Nhưng ngay cả lúc “sóng cảm xúc” hơi cao, lớp ảnh tượng vẫn nâng được bài: biển không chỉ có sắc xanh; biển ở đây có mùi nhang, có bóng một người đàn bà đứng đón tàu, có tiếng dép lẹp xẹp trên bến vắng. Đó là những chi tiết đã đi vào trí nhớ chung của nhiều thế hệ, mang sức sống dài lâu.

Điều đáng quý nữa là cách đổi góc nhìn. Biên cương nhưng không chỉ nhìn từ biên cương; nó còn được nhìn từ con ngõ có tiếng trẻ con, từ bàn tay già run run lần theo tấm ảnh cũ, từ một nén nhang “xiêu” trước gió. Khi chủ quyền rời khỏi diễn đàn lớn để đi vào thói quen nhỏ, thơ trở thành một phương thức gìn giữ: không giữ bằng lời tuyên thệ, mà giữ bằng một nếp sống ngay thẳng. Ở tầng sâu, đó là câu trả lời mềm mà bền cho câu hỏi “vì sao chúng ta còn đứng đây”.

Xuyên suốt Những ngọn gió biên cương là một giọng thơ vừa biết cúi đầu trước lịch sử, vừa biết đưa tay đỡ lấy một giọt nước mắt đời thường. Khi “gió” đi qua từng trang trong tập thơ này, nó không chỉ gợi cái lạnh của đường biên lãnh thổ; nó còn đem theo ấm hơi người. Và khi khép sách, ta còn nghe vọng lại vài nốt ngân – những mốc neo giữa nghi lễ, đời sống và đạo sống: “Nén hương xiêu theo gió”. “Đường tuần tra cơm nắm muối vừng ăn vội…” “Khi mỗi người dân là cột mốc chủ quyền”.

Chừng ấy đủ để Những ngọn gió biên cương không chỉ là thơ về Tổ quốc, mà còn là một cuốn nhật ký nhân văn của thời bình – nơi sử thi đã học cách đi qua căn bếp có mùi khói nhang bao bà mẹ Việt.

Và trên hành trình ấy, “Những trận mưa máu” hiện lên như ký ức đỏ thiêng trong tâm thức dân tộc – nơi máu và nước mắt không chỉ hòa tan trong sông Thạch Hãn, mà còn hóa thành ánh sáng nhân văn, soi chiếu cho cả tập thơ. Chính từ nỗi đau tận cùng, Trần Mai Hường đã tìm thấy vẻ đẹp kiên cường, lộng lẫy của con người Việt – những người biết biến bi thương thành bất tử.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm