TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang

“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-12 13:08:50
mail facebook google pos stwis
1069 lượt xem

Biên cương trong tập thơ "Những ngọn gió biên cương" của Trần Mai Hường không chỉ là đường biên địa lý, mà còn là không gian của ký ức, tình người và mùi nhang khói gia đình. Một khúc sử thi nhỏ được kể bằng giọng thơ dịu lắng, nhắc ta yêu đất nước từ những điều gần nhất. Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết của Nguyên Anh, đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.

NGUYÊN ANH
(Đọc “Những ngọn gió biên cương”, Nxb Hội Nhà văn, 2025)

Có những tập thơ không chỉ đọc bằng mắt, mà bằng ký ức của một cộng đồng. Những ngọn gió biên cương của Trần Mai Hường mở ra như cuốn-sổ-gió: gió đi dọc cột mốc, gió ghé đảo trong đêm mưa, gió đứng im trước bia mộ liệt sĩ rồi quay về căn bếp nơi người vợ trẻ bồng con. Ngay từ đầu, thơ đã chọn cách nói bằng đời sống: chủ quyền đất nước không phải một khẩu hiệu khô lạnh, mà là đạo sống của từng người. Bởi thế, câu thơ bật ra giản dị mà âm vang: “Khi mỗi người dân là cột mốc chủ quyền”. Không cần phô trương, chỉ một phép hoán dụ tinh gọn đã chuyển cảm hứng sử thi vào nếp sinh hoạt thường ngày. Tư tưởng ấy xuyên suốt, khẳng định một chân lý mộc mạc: “Từ Mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái… Hai chữ chủ quyền được tô bằng máu đỏ…”“Trời của ta biển của ta đây… Hạt cát nhỏ cũng khắc ghi nguồn cội”.

Hơi thở biển đảo là sắc diện riêng của tập thơ. Ký ức mang tên Gạc Ma không hiện lên như một bản diễn văn, nó đến bằng một tư thế: “Tôi lặng người quỳ xuống trước mênh mông” khi “Biển kể tôi nghe… Về quần đảo Trường Sa thiêng liêng máu thịt / Về trận Gạc Ma hơn ba mươi năm trước…”. Cúi mình – đó là động tác thẩm mỹ quan trọng nhất ở phần thơ này. Từ góc nhìn ấy, những hình ảnh mang tính nghi lễ được gọi dậy: “Khói nhang trùm mộ sóng”, tiếng gió vỗ như tiếng gọi tên từng đồng đội “đang đứng thành cột mốc” giữa thẳm xanh, nơi “Anh linh hòa sóng biếc / Mãi tỏa hương từng giờ”. Trong không khí trang nghiêm ấy, “Một sớm qua Gạc Ma… / Ngọn gió thiêng vuốt biển / Biển cúi mình trang nghiêm”. Khi viết chừng mực, chất bi tráng không bị quá tay; nó đủ vững nhờ sự lặng im. Nhiều câu ngắn, rõ, giàu tính khứu giác – thị giác, đủ để người đọc “ngửi được” mùi muối mặn của ký ức: “Nén hương xiêu theo gió”. Chỉ chữ ‘xiêu’ ở đây cũng làm câu thơ dịu đi nhiều lắm.  

Bên cạnh giọng sử thi là giọng trữ tình của người vợ, người mẹ, người đàn bà biển. Ở mảng này, Trần Mai Hường để biên cương cất tiếng từ đời sống thường ngày: “Làm vợ được một tuần rồi tiễn chồng ra trận” – câu thơ tự đủ, chẳng cần thán từ. Chỉ một mốc thời gian, một động tác đời thường, là đủ. Nhịp điệu chậm, hơi thở khẽ, hình ảnh ít, nhờ vậy nỗi đau bớt trừu tượng. Người đọc thấy bậc ngõ, nghe tiếng bồng con, chạm vào chiếc then cài run rẩy. “Đêm đêm chị lại tìm ra ngõ / Chờ linh hồn anh theo gió bay về” và cảm nhận nỗi đau tái hiện khi “Gặp đôi mắt người vợ trẻ khi tàu cập bến / Cứ đầm đìa trong vòng ôm siết”. Ở nơi ấy, lịch sử thôi lộng lẫy; nó trở về đúng kích cỡ của một mái nhà. Nỗi đau ấy còn in dấu lên đời mẹ, một nỗi đau dài lâu dù đất nước đã hòa bình: “Con ơi, đất nước đã hòa bình, máu đã xanh cây / Nhưng đau mẹ còn nguyên… / Nếu linh thiêng con hãy là ngọn gió / Về đậu hờ trên vai mẹ con yêu”.

Tác giả đã rất thành công khi gắn cảm xúc vào các hình ảnh quen thuộc của địa phương. Hoa bàng vuông – cái tên nghe đã có nhịp gió – được nhân cách hóa thành gương mặt người vợ lính. Một “Phút nụ bàng vuông bung muốt cánh mềm” bỗng làm dịu cả biển; thiên nhiên, bằng cách đó, trở thành người canh thềm lục địa. Vì “Bởi hoa thương người vợ lính… Viết tên chồng in hoa đậm… / Bởi hoa biết mình nhỏ bé… Canh thềm lục địa bình yên”. Lựa chọn biểu tượng này mở ra mỹ cảm biển đảo gần gũi, không hô hào mà thấm. Rộng hơn, tập thơ lặng lẽ vẽ một bản đồ địa lý–cảm xúc của Việt Nam: sắc tím hoa sim trên đá Hà Giang, mùi phù sa Hàm Luông, mặt nước lấp lóa Tuy Hòa… Mỗi địa danh không chỉ là tọa độ; đó là khoảnh khắc đời sống được ghim lại bằng hình ảnh và nhịp điệu.

Đặc biệt, bài thơ “Những trận mưa máu” như một đỉnh cảm xúc bi tráng của cả tập. Ở đó, Trần Mai Hường tái hiện mùa hè đỏ lửa Quảng Trị 1972 bằng thứ ngôn ngữ rớm máu và chan chứa nhân tình. Những câu ngắn, dồn dập – “81 ngày đêm – mưa mang màu máu đỏ / Máu đỏ và lửa đỏ / Xé toạc đất trời/… Nước và trời soi bóng đỏ trong nhau” – khiến nhịp thơ như vỡ ra cùng tiếng bom. Nhưng giữa cơn bão máu ấy, nhà thơ vẫn giữ được ánh sáng của lòng trắc ẩn: “Lộng lẫy nỗi đau / Lộng lẫy tình đồng đội”. Chính từ trong khốc liệt, Trần Mai Hường phát hiện vẻ đẹp của con người Việt – vẻ đẹp quả cảm, kiên trung, biết hóa bi thương thành huy hoàng. Khi tiếng gọi “Mẹ ơi…” vang lên, bài thơ vượt khỏi ranh giới của sử thi để chạm vào huyết mạch nhân loại: nỗi đau của người con và nỗi đau của Mẹ Tổ quốc cùng hòa làm một. “Những trận mưa máu” vì thế là ký ức không thể gột rửa, là lời chứng thiêng liêng mà tập thơ dâng tặng những linh hồn đã hóa vào dòng sông Thạch Hãn.

Ở một biên độ khác, thơ bước dọc tuyến đường tuần tra và hậu phương. Tác giả không dựng tượng người lính bằng ánh hào quang mà bằng nhu cầu sinh tồn: “Đường tuần tra cơm nắm muối vừng ăn vội…”. Hình ảnh này đưa thơ trở lại với nền đất đời sống, làm chỗ đứng vững chắc cho những đoạn trữ tình nâng cao phía sau. Chính nhờ “độ thô ráp” của chi tiết đời thường mà những câu mang tầm khai mở mới đứng vững; ta tin vào bình minh vì đã đi qua đêm trực gió ngắt, tin vào lời thề vì đã nghe tiếng bụng réo của một bữa ăn qua loa. Bên cạnh đó, các chân dung thầm lặng – “Các anhnhững chàng trai đang độ thanh xuân… / Giữ gìn từng tấc đất… / Hạnh phúc của lính biên phòng… để nhân dân hạnh phúc”, người lính chốt bản, người gác nhà giàn – tạo thành một dàn đồng ca trầm, nơi trách nhiệm được phát âm bằng công việc hằng ngày, và họ chính là những “Họ thành trầm tích ban mai, thành ánh bình minh”.

Về hình thức, Những ngọn gió biên cương thiên về thơ tự do, ưa điệp cấu trúc và thỉnh thoảng đẩy xúc cảm tới rìa cường điệu. Khi tiết chế, câu chữ đẹp, sáng, giàu khả năng lưu trú với những phát hiện ngôn ngữ đắt giá: “Đã lặng rồi máu đã xanh cây”, “Nén hương xiêu theo gió / Mây trắng trời biên cương”; khi buông tay, đôi chỗ tràn thán từ, kéo dài chuỗi láy khiến nhạc tính bị che mờ. Nhưng ngay cả lúc “sóng cảm xúc” hơi cao, lớp ảnh tượng vẫn nâng được bài: biển không chỉ có sắc xanh; biển ở đây có mùi nhang, có bóng một người đàn bà đứng đón tàu, có tiếng dép lẹp xẹp trên bến vắng. Đó là những chi tiết đã đi vào trí nhớ chung của nhiều thế hệ, mang sức sống dài lâu.

Điều đáng quý nữa là cách đổi góc nhìn. Biên cương nhưng không chỉ nhìn từ biên cương; nó còn được nhìn từ con ngõ có tiếng trẻ con, từ bàn tay già run run lần theo tấm ảnh cũ, từ một nén nhang “xiêu” trước gió. Khi chủ quyền rời khỏi diễn đàn lớn để đi vào thói quen nhỏ, thơ trở thành một phương thức gìn giữ: không giữ bằng lời tuyên thệ, mà giữ bằng một nếp sống ngay thẳng. Ở tầng sâu, đó là câu trả lời mềm mà bền cho câu hỏi “vì sao chúng ta còn đứng đây”.

Xuyên suốt Những ngọn gió biên cương là một giọng thơ vừa biết cúi đầu trước lịch sử, vừa biết đưa tay đỡ lấy một giọt nước mắt đời thường. Khi “gió” đi qua từng trang trong tập thơ này, nó không chỉ gợi cái lạnh của đường biên lãnh thổ; nó còn đem theo ấm hơi người. Và khi khép sách, ta còn nghe vọng lại vài nốt ngân – những mốc neo giữa nghi lễ, đời sống và đạo sống: “Nén hương xiêu theo gió”. “Đường tuần tra cơm nắm muối vừng ăn vội…” “Khi mỗi người dân là cột mốc chủ quyền”.

Chừng ấy đủ để Những ngọn gió biên cương không chỉ là thơ về Tổ quốc, mà còn là một cuốn nhật ký nhân văn của thời bình – nơi sử thi đã học cách đi qua căn bếp có mùi khói nhang bao bà mẹ Việt.

Và trên hành trình ấy, “Những trận mưa máu” hiện lên như ký ức đỏ thiêng trong tâm thức dân tộc – nơi máu và nước mắt không chỉ hòa tan trong sông Thạch Hãn, mà còn hóa thành ánh sáng nhân văn, soi chiếu cho cả tập thơ. Chính từ nỗi đau tận cùng, Trần Mai Hường đã tìm thấy vẻ đẹp kiên cường, lộng lẫy của con người Việt – những người biết biến bi thương thành bất tử.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm