TIN TỨC

Nửa lo giá chợ nửa ngây vì trời

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-01-24 22:15:46
mail facebook google pos stwis
2016 lượt xem

NGUYỄN TRƯỜNG
(Đọc Nguyễn Thị Hồng thơ tuyển, Nhà Xuất bản Phụ nữ 2022)

Chỉ một câu thơ “Nửa lo giá chợ nửa ngây vì trời” nhà thơ Nguyễn Thị Hồng đã khái quát được tâm trạng của văn nghệ sỹ thời bao cấp, khi nước ta bị cấm vận, lạm phát phi mã. Người ăn lương, với đồng tiền eo hẹp, phải chạy ăn từng bữa, hiểu điều này nhất là những người mẹ, người chị hàng ngày đi chợ, khi mà giá hàng hóa cứ lên vùn vụt. Trong cái khốn khó đó Nguyễn Thị Hồng vẫn thấy trời hôm nay đẹp quá: "Nắng hơi hơi nắng mây bồng bềnh mây" (Thu cảm). Làm thơ về mùa thu thì nhiều thi nhân đã làm rồi vì mùa thu xứ Bắc đẹp đến nao lòng. Cụ Tam Nguyên Yên Đổ có thể thả hết tâm hồn vào thiên nhiên tuyệt đẹp của mùa thu để thấy: “Lưng dậu phất phơ màu khói nhạt/ Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” (Thu ẩm - Nguyễn Khuyến). Nhưng cụ còn phong lưu chán “Độ dăm ba chén đã say nhè”. Còn nữ thi sỹ của thời đại chúng ta, cũng thấy mùa thu đẹp, nhưng còn canh cánh bên lòng vì “Nửa lo giá chợ”- Một khái quát về tình cảnh nhà thơ thời hiện đại làm cho người đọc: “Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe” (Nguyễn Khuyến). Nghe thương lắm mà thấy thi sỹ Nguyễn Thị Hồng lãng mạn, yêu thiên nhiên lắm!

Ta bắt gặp rất nhiều mùa thu trong thơ Nguyễn Thị Hồng. Trong tập, có bài “Gọi thu”, “Thu cảm”, “Thu”, “Thu vàng” và rải rác trong các bài khác có hình ảnh mùa thu. "Làm sao tìm lại mùa thu dịu dàng", điệp khúc này được Nguyễn Thị Hồng nhắc đi nhắc lại đến bốn lần trong bài “Gọi thu”, cũng bởi cái đẹp đã đi qua, làm người ta nhớ mãi. Nhà thơ tiếc nuối "bầu trời thì xanh", tiếc "lúa vàng dệt lụa giăng trên đồng làng", tác giả nhắn nhủ rất hình ảnh: "Anh về bến cũ vớt mùa thu lên".

Bài thơ “Thu” lại không tả cảnh mùa thu mà thiên về tâm trạng của thi nhân trước mùa thu, vẫn là mùa thu trong quá khứ đầy kỷ niệm: "Dẫn em về tuổi sim chín đồi xưa/ Tuổi đinh ninh sim tàn tình tím mãi/ Tuổi bất ngờ tình qua sim ở lại/ Mà suốt đời tiếc mãi một mùa sim". Tác giả giật mình trở về hiện tại: "Hà Nội giờ đã cuối mùa sen/ Cuối mùa cốm, chỉ còn hồng vẫn đỏ/ Mình em ngồi dưới gốc đa xưa cũ/ Cây vẫn chờ người, người trở lại chăng?" Tôi rất thích câu: "Cuối mùa cốm chỉ còn hồng vẫn đỏ", bởi tác giả tên Hồng, mà cũng là mùa quả hồng vẫn chín đỏ như là tình yêu cháy lên như ngày xưa ấy, còn chàng trai năm xưa có nhớ chăng, có trở lại với tình em chăng khi mà cây vẫn chờ, thật dễ thương và cũng thật tội nghiệp. Ta dễ hiểu khi Nguyễn Thị Hồng làm đến 3 bài thơ Với Exenhin của nước Nga xa xôi. Chị đồng cảm với nhà thơ Nga, bởi Exenhin yêu thiên nhiên, hay làm thơ về quê hương, tự nhận là nhà thơ của đồng quê: "Anh đã hát/ về tôi/ Tuổi thanh xuân/ đẹp tươi/ và mất mát". Nhà thơ ao ước: "Xin anh cho ánh trăng xuân/ Choàng anh xưa hãy một lần choàng tôi". Giờ cô gái rất hạnh phúc vì có người yêu "Bây giờ những cánh hoa tươi/ người yêu tôi rắc tóc tôi dịu dàng". Nhà thơ như cảm thấy: "Tri âm thấu nỗi tri âm/ Lời cầu linh nghiệm thế nhân đáp lời". Cũng bởi vì Exenhin từ giã cõi đời sớm quá, mới ba mươi tuổi đời, nhưng: "Thơ anh thấm đến tận cùng/ Sống không gì mới nhẹ lòng ra đi". Cũng còn vì nhà thơ Nga tâm hồn đẫm với thiên nhiên, với mối tình đầu thơ anh "Rung cảm dịu dàng cùng ai", chính xác là nhà thơ Việt Nam rung cảm cùng nhà thơ Nga của ngày xưa. Nguyễn Thị Hồng cũng có bài thơ “Nghe thơ Puskin” cùng có tâm trạng như thế, cũng gợi cho thi nhân nhớ về làng quê mình xưa, những kỷ niệm chợt hiện về dịu ngọt.

Đọc “Nguyễn Thị Hồng thơ tuyển”, dày đến hơn 300 trang mà không bỏ sách xuống được, bởi lòng dạt dào cảm xúc. Thơ chị không đao to búa lớn, không lên gân ca hát véo von, không ồn ào triết lý. Cứ nhỏ nhẹ đưa ta vào thế giới tươi non. Đó là tâm sự thầm thì của người thiếu nữ chớm yêu, nhìn thế giới này mới quá, đẹp quá. Thiên nhiên cũng đẹp mà lòng người cũng đẹp. Ta bắt gặp tâm hồn cô gái mười sáu tuổi, như vầng trăng chưa tròn: “Thời gian trôi thời gian như trở lại/ Đưa em về cánh đồng thời thơ dại/ Hương cỏ gà thơm ngái/ Tóc em bay xanh biếc trời quê/ Mắt ai nhìn vụng dại si mê”. Mắt ai nhìn vụng dại si mê, chắc là của một chàng trai quê mới lớn như tuổi cô gái: “Em mười sáu má hồng mắt biếc/ Để anh chết lặng một đời tim”. Nhưng thời con gái mới chớm yêu ấy đã qua rồi, người phụ nữ đang nhớ lại với nỗi nhớ thật êm đềm tươi đẹp: “Về đi em ao làng còn trong lắm/ Và đêm đêm vẫn trăng tắm mây bơi/ Và tình anh vẫn dịu dàng đằm thắm/ Gột cho em sạch hết bụi đời” (Làng).

Bài thơ “Lá cỏ” hơi thiên về trí tuệ, nhưng cũng rất trữ tình: “Em đã chứng kiến cuộc hẹn hò của ta/ Và đã theo ta về nhà/ Nhưng có lẽ/ Không biết đó là cuộc chia ly vĩnh biệt/ Nên em vẫn xanh non thắm thiết”. Mặc cho cuộc đời này trôi với bao buồn vui, sướng khổ của con người, thiên nhiên vẫn thế, vẫn vô tư xanh non thắm thiết. Nhưng ngày hôm sau thì lá cỏ đã úa tàn rồi, người không giữ làm gì lá cỏ ấy, nhưng lá cỏ đã từng chúng kiến cuộc chia ly trong mối tình của chị nên hình như nó cũng có tình, cũng có linh hồn làm nhà thơ day dứt. Bởi vì chính mối tình của chị đã úa tàn rồi, chỉ có lá cỏ trong tình yêu và nỗi nhớ vẫn mãi mãi tươi non thôi. Ôi, tận cùng tinh tế!

Bài thơ “Kỷ niệm” cũng tinh tế như thế. Ta thường nhớ những kỷ niệm lớn lao, thường là kỷ niệm ngất ngây hạnh phúc, có khi là nỗi đau mất mát quá lớn. Nguyễn Thị Hồng chắc cũng có những kỷ niệm ấn tượng, nhưng nhà thơ còn có những kỷ niệm thật lạ kỳ: "Không gian dịu mát/ Như một vành trăng non/ Và tiếng côn trùng tiếng côn trùng xao động/ sau mưa". Tiếng côn trùng sau mưa ấy trong quá khứ mới thành kỷ niệm, nhưng nó đâu có lớn lao gì, để ta phải: "Một ngày kia/ Khi chỉ còn là mô đất giữa đồng hoang/ Tôi cũng nguyện trên nấm mộ của mình/ ào ạt trận mưa rào đầu hạ/ Và sau đó là không gian yên ả/ Với tiếng côn trùng xao động dịu dàng/ Như thời tôi còn thiếu nữ trên trần gian". Thì ra thi sỹ nhớ về thời thiếu nữ. Dù cuộc sống có khó khăn, nó vẫn là thời đẹp nhất của người phụ nữ. Cái thời đó thật lãng mạn, nhưng tiếc thay nó đã vụt qua rồi: "Đã xa rồi tiếng côn trùng của tôi/ Cũng sau mưa một thời thiếu nữ/ Xao xuyến quá đến giờ tôi vẫn nhớ".

Bài “Đêm trăng Bác Cổ” dạt dào cảm xúc của cô gái đi với người yêu bên bờ sông tràn ngập ánh trăng, thiên nhiên đẹp và lòng cô gái xao xuyến hạnh phúc vô bờ, cô muốn ôm bầu trời, ánh trăng, dòng sông, và cả Hà Nội vào vòng tay con gái chắc và tròn của mình: "Rạo rực lòng em muốn được/ Ôm cả vào lòng/ Anh!". Bất ngờ khi tác giả kết thúc khổ thơ bằng một chữ: Anh! Vẻ như cả đất trời Hà Nội và anh, người cô yêu trong vòng tay mình. Ôi, tình yêu của cô gái dịu dàng mà mãnh liệt xiết bao!

Đáng nhớ nhất trong tập thơ tuyển là tình người, trước hết là với người tình thuở ban đầu: "Mai sau anh có gặp/ Một người nào yêu anh/ Trước khi cầm lấy tay nàng/ Ôm vào lòng hãy nhớ rằng anh ơi".  Sau này cô gái ấy sẽ có người mới, chắc rằng cô gái sẽ không thể quên phút giây "Ôm vào lòng hãy nhớ rằng...". Câu thơ này ám ảnh tôi cả mấy chục năm rồi, mỗi khi tôi cầm tay một cô gái, câu thơ này lại vang ngân. Nó nhắc nhở chúng ta không thể vô tâm với người xưa một thời ta đã yêu đã lỡ "Để nàng lại một trời cô đơn...". Trong tập thơ còn có bài thơ viết về mẹ, về cha, về người chị, về quê hương... Mỗi bài là một kỷ niệm khó quên, tình người sâu đậm.

Bài thơ “Lời tượng nhà mồ” có sức ám ảnh kỳ lạ. Ở Tây Nguyên người dân tộc thường tạc tượng để bên nhà mồ. Nguyễn Thị Hồng trong một lần đi thực tế ở Gia Lai đã linh cảm được những bức tượng bên nhà mồ ấy nói gì, huyền ảo đến nổi da gà khi nhà thơ đã nhập hồn vào tượng nói lên những câu chữ rất tâm linh: "Ơ cái hồn! /Mình biết nhau mấy đời rồi/ Để kiếp này dù thoáng như giấc mộng/ Mình đã bỏ đi mà ta còn sống/ Nên ta hóa tượng bên mồ/ Trong bóng chiều trầm tư..."  Có lẽ linh hồn người dưới mộ và người trên mộ có duyên mới gặp nhau, cái duyên đó là sự cô đơn. Nhà thơ thường cô đơn. Có người nói, thơ là nghệ thuật của sự cô đơn. Phạm Ngọc Luật, Nguyên Tổng biên tập Nhà Xuất bản Văn hóa- bạn của nhà thơ Nguyễn Thị Hồng đã viết: “Bạn tôi luôn đứng vào số Top ten những người làm thơ hôm nay mà phẩm chất cô đơn (cô đơn xịn), là một nội lực quý giá và chính phẩm chất này làm nên dấu ấn khác biệt của thơ Hồng”. Vậy nên nhà thơ Nguyễn Thị Hồng mới có cơ hội nhập hồn vào bức tượng mà trò chuyện với linh hồn người dưới mồ. Đúng là “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” như nàng Kiều gặp Đạm Tiên: "Dưới ba tấc đất hồn mình đơn côi/ Trên ba tấc đất hồn ta đơn côi". Và nhà thơ đã dựng được Bức- tượng- thơ “Lời tượng nhà mồ”- Một trong những bài thơ hiếm hoi hay nhất về Tây Nguyên.

Có lẽ kiếp trước là người sống trên vùng cao nên Nguyễn Thị Hồng viết nhiều bài thơ có sức ám ảnh mang hồn người dân tộc. Ngay cả khi chị viết về một phụ nữ người dân tộc có chiến công chống giặc ngoại xâm, bài thơ cũng không đi vào ca ngợi, chỉ thấy cô gái bình dị: "Em nguyên sơ như đất/ Em nguyên sơ như cây/ Em nguyên sơ như nắng/ Như gió cao nguyên này". Chị viết về chiến công của cô gái cùng người dân Tây Nguyên rất hình ảnh: "Giặc đến đất rung chuyển/ Thành miệng núi lửa phun/ ... Giặc đến nắng và gió/ Là lũy thành lòng em". Để rồi kết thúc bài thơ: "Em tự quên chính mình/ Những phút thành dũng sĩ/ Như núi rừng tự quên/ Những phút thành chiến lũy".

Trong Thơ tuyển, còn có trường ca “Hồn khèn”, đã đoạt giải thưởng Liên hiệp VHNT Trung ương, cũng là trường ca viết về người dân tộc, thấm đẫm không gian văn hóa Hmông. Trường ca kể về mối tình của chàng trai cô gái người Hmông, chàng trai dùng khèn tỏ tình với cô gái, cô gái cũng thổ lộ tâm tình của mình trong tiếng khèn của chàng trai, họ đến với nhau bằng tình yêu vững như núi cao của quê hương họ. Nhưng cha mẹ cô gái ham vàng bạc đã gả cô cho người đàn ông khác. Tình duyên của họ bị đổ vỡ, cô gái về làm dâu nhà người rồi chết vì mỏi mòn kiệt sức. Trường ca hay vì khai thác được yếu tố dân gian của dân tộc Hmông, trong đó có rất nhiều câu thơ bám vào dân ca của người Hmông. Tác giả tỏ ra am hiểu nhạc cụ và âm điệu của cây khèn để có dư địa thể hiện những cung bậc của tâm trạng nhân vật rất đặc sắc, đầy hình ảnh: "Bờ xanh em không được nối bờ anh/ đã tan thành dòng sông nước mắt.../Ngày lại tiếp đêm/ vù qua như chim sẻ/ một mùa đã đầy trước cửa/ một mùa đã đầy trước thềm...Nỗi đau dày như cây/ lấp lối/ Anh biết đi ngả nào...Đã đành kiếp sống phù du/ Vẫn mơ có kiếp đền bù cho nhau..."

Nguyễn Thị Hồng làm thơ không nhiều, rất ít bài về thế sự, thơ chị bình dị như đất, như gió cao nguyên bởi tâm hồn rất nhạy cảm, nhất là trước thiên nhiên, trước tình người. Chính sự thủ thỉ, hướng vào lòng mình làm thơ chị lại dễ đi vào lòng người.

Nguồn: Báo Văn nghệ số 4, ra ngày 27/1/2024.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm