TIN TỨC

Phùng Hiệu – Có một mùa yêu như thế

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-07-13 07:56:56
mail facebook google pos stwis
2024 lượt xem

NGUYỄN THANH TÂM

(Văn chương TPHCM) – Thời gian, với sức mạnh của nó, có thể làm phai nhòa mọi thứ, nhưng có một nơi thời gian cũng trở thành bất lực (một ngày, một mùa hay một đời vẫn thế), đó là nơi tình yêu đã trú ngụ rồi, nơi trái tim còn đập, cũng là nơi chất chứa những tâm tư  nỗi niềm không còn trọn vẹn…

Nhà thơ Phùng Hiệu

Sự nuối tiếc trào dâng khi ta còn yêu, muốn yêu mà không thể tiếp tục yêu? Dường như  tâm sự mà nhà thơ Phùng Hiệu đã gửi gắm trong thi phẩm tuyệt bút này cũng thế. Bài thơ như một lời than thở rất nhẹ, rất khẽ, nhưng cũng rất xót xa, đủ để đọa đày con người khi phải sống chung với nỗi nhớ nhau mà cứ dần xa nhau, thành cơn bão lòng ghê gớm:

 Từ ngày bão réo sang đêm,

 Em còn thút thít gọi thêm mưa về

 Phố chiều ướt trắng cơn mê,

 Bão giông về phía câu thề ngày xưa

 Anh ngồi hong mấy đêm mưa,

Vẫn chưa khô nổi chỗ vừa ướt nhau….

   (Bão lòng)

 Mạch thơ có thể tái hiện tương đối đơn giản: Câu chuyện về hai người yêu nhau, sau bao cách trở họ gặp lại nhau và đau xót chia tay nhau lần nữa. Bài thơ như một lời tự sự chất chứa nhiều nỗi niềm sâu kín, muốn kể lại qua hiện thực phũ phàng của cơn bão về mơ ước một đời chưa với tới đã dần xa .

Lữ Liên đã từng dịch một câu hát rằng “ Thuyền tình nửa đường chuyển bến, cho mơ ước ngàn năm gió bay. Nỗi đắng cay, như lửa thiêu đốt mãi trong lòng…” để diễn tả sự dang dở của tình yêu – như lửa thiêu, như sóng gió cuồn cuộn. Cái tiếc nuối, xót xa ấy, cũng là cảm xúc chung của những cuộc tình chưa đến đích đủ để vỡ òa cảm xúc:

Từ ngày bão réo sang đêm

Em còn thút thít gọi thêm mưa về.

Cốt truyện tự sự hòa với  trữ tình, thi nhân đã tái hiện lại cho người đọc mốc thời gian thật đặc biệt ,  mốc thời gian vô hạn định, mờ nhòe trong kí ức, gợi những suy nghĩ miên man : “ từ ngày” ! Đó là từ khi “ bão réo sang đêm”. Bức tranh hiện thực khốc liệt trước mắt , bão rủ nhau, “ réo” gọi nhau “ từ ngày sang đêm” ầm ầm ào ào không ngơi nghỉ, gầm rú vang lên từng hồi, gay gắt không hề mệt mỏi . Bão réo vào đêm, một khoảng thời gian đặc biệt- ta trở về chính mình ,suy nghĩ và chiêm nghiệm- khi đó, ta sống thật nhất với mình , cảm xúc mãnh liệt nhất, rõ ràng nhất.

 Bất ngờ hơn nữa , tình ý thơ cứ ngỡ gợi sự tương phùng ai dè dự báo thêm bão tố.

 Bão tố như là một cái cớ như một môtip mở đầu rất đổi quen thuộc rót đột ngột xuống câu  bát đầy tâm trạng:

Em còn thút thít gọi thêm mưa về.

Em”, tiếng gọi thân thương đủ để ta thấy cô ấy là tình yêu, là hạnh phúc. Nhưng cô ấy lại “gọi thêm mưa về”, gieo thêm nỗi niềm vốn đã nặng trĩu trong tâm hồn rất nhiều bão tố của chàng trai. Từ “ còn” được nhà thơ sử dụng rất đắt như một lời trách móc thật tinh tế cho sự vô tâm (hay cố tình) của cô gái. Sự đồng diễn âm thanh của đất trời (giữa bao la thiên địa bão bùng) và tiếng khóc của người yêu dấu, đã đánh thức lại kỉ niệm xưa. Có thể nói, bản thân Phùng Hiệu cũng không bao giờ hiểu hết và kiểm soát  được sự “ thút thít” ấy, không thể nào hiểu được hết ý nghĩa của tiếng khóc ấy? đó là sự nén lại cảm xúc bao năm trong lòng, không dám khóc cho thỏa nỗi nhớ niềm đau, mà chỉ khóc để vừa đủ hiểu nhau. Cô gái đã rất “biết điều” nén lại rồi bất ngờ bật ra đột ngột làm anh rối bời, tiếng khóc “vừa đủ” đệm ấy lại có sức mạnh đưa cảm xúc của anh lên trên cả bạo tàn ngoài kia, một cơn bão lòng ập đến không gì che chắn nổi, một nổi buồn sâu lắng lên ngôi.

Tự nhiên, tôi nhớ thơ Lê Thị Kim – Lê Thị Ngà:

“Đừng nhìn em như thế /Cháy lòng em còn gì… Đừng nhìn em như thế /Khắc giờ thành thiên thu”

Thì ra, chỉ một cái nhìn thôi thì cả đời hóa thành si daị

Thì ra, chỉ cần một lần “thút thít” thôi là cả một đời mưa bão.

Như vậy, chỉ bằng cặp câu thơ lục bát đầy trữ tình đã lộ ra một tâm hồn giông bão cuồn cuộn, quay quắt, đầy xót xa. Thi nhân đã chọn sự khởi đầu chủ đạo cho thi phẩm bằng sự tương phản kín dáo mà gay gắt: Bão réo/em thủ thỉ (một âm thanh chói gắt/ một âm thanh khiêm nhường, một âm thanh kinh hoàng của hiện thực tàn khốc/ một âm thanh của duyên phận bẽ bàng …) Đến đây, ta chợt nhớ đến biết bao người con trai con gái, đã từng một mình đối diện với cuộc tình dang dở, với giông tố trong tâm khảm. Một trong số đó có thể kể đến Trần Kim Thanh với “Cơn bão lòng”:

 “Đã có lần em nghe từ cơn bão
  Chẳng phải bão thường mà bão lòng anh
  Cơn bão này nó kéo đến rất nhanh
  Vô tình cuốn tuổi xanh em từ đó!”

 Và chính nơi đây, chàng trai ấy, u mê ở thực tại với những kí ức thời quá khứ

   Phố chiều ướt trắng cơn mê…

Phố này là nơi ta hẹn hò lần đầu, nơi trao cho nhau cái ôm nồng nàn, nơi nụ hôn mãnh liệt. Những kỉ niệm thật đẹp ấy nay đã trở thành cơn mê, đắm vào nhau trong chiều mưa trắng nước, “ướt trắng” không chỉ mang màu sắc mà là sự biến tấu về cảm giác. Để rồi đang đắm chìm trong những vấn vương, bỗng giật mình nhớ lại “câu thề ngày xưa”. Mọi niềm tin, hạnh phúc, hy vọng bỗng chốc hóa thành nỗi đau. Có quá nhiều lí do, có quá nhiều câu trả lời (Chắc hẳn mỗi mảnh ghép trong cuộc tình ấy đều có những vết nứt). Người ra đi cũng có những nỗi đau, người ở lại cũng đang trong mình vô số vết thương.

Bắt đầu từ câu thơ thứ ba:

 Bão giông về phía câu thề ngày xưa.

Gợi nhớ về lời thề tình yêu của đôi trai gái Thái trong truyện thơ “thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa: “Không lấy được nhau mùa hạ, ta sẽ lấy nhau mùa đông/ Không lấy được nhau thời trẻ, ta sẽ lấy nhau khi góa bụa về già”, yêu nhau, thề hẹn nhau là bằng chứng của một tình yêu chân chính.

Mạch thơ đổi khác, không còn chảy theo dòng mưa bão nữa mà nó phát triển ý thơ sang một hướng bất ngờ – theo mạch cảm xúc:

Anh ngồi hong mấy đêm mưa,

 Vẫn chưa khô nổi chỗ vừa… ướt nhau

 Phùng Hiệu đã xử lý thi liệu là những kết nối tương đồng rất hợp lý, rất phổ biến ở cách nói tượng trưng hóa, những ẩn dụ khéo léo: “bão réo”,  “mưa về”, “ ướt trắng cơn mưa”, “chỗ vừa ướt nhau”… Tuy là nhiều hình ảnh nhưng chỉ chứa đựng trong một dạng thể nhất định chính là cơn “ bão lòng”! Thế mới thấy được sự xúc tích của bài thơ.

 Có lẽ đến một lúc nào đó, khi tâm hồn đã trĩu nặng, khi đã quá muộn phiền và mất đi hy vọng, phải nỗ lực quên!  Anh muốn “hong” bầu trời mưa kỉ niệm không ngừng tuôn rơi kia, muốn “hong” những cảm xúc yêu thương rạn vỡ. Thế nhưng, nếu để ý kĩ, sẽ thấy rằng dù có cố gắng mấy “vẫn chưa” thể được – Bởi lẽ, việc “Hong khô mấy đêm mưa” nghe thật vô lí. Trái tim nào đủ mạnh mẽ, đủ cứng rắn, đủ vô tình để có thể quên đi miền kí ức đẹp đẽ ấy?

Vẫn chưa khô nổi chỗ vừa ướt nhau.

Ướt nhau”? (Ướt nước mưa? Ướt nước mắt? Ướt kỉ niệm? Ướt những ái ân mặn nồng? Ướt câu thề? Ướt hình bóng nhau…) ẩn ý đó để tô đậm một niềm tin đủ đầy vào tình yêu chung thủy. Hơn hết, không thể dùng lí trí và ý thức để có thể tìm quên – nhất là quên lời thề với người yêu dấu – mà chỉ có thể nhờ thời gian. “Chưa khô nổi” là một sự thú nhận, một lời nhắn gửi: Có một lời  thề còn mãi trong nhau.  Như Văn Cao đã từng viết:

 Kỷ niệm trong tôi

 Rơi
 như tiếng sỏi
 trong lòng giếng cạn
 Riêng những câu thơ
 còn xanh
 Riêng những bài hát
 còn xanh
 Và đôi mắt em
 như hai giếng nước.

  (Thời gian)

Con người dù muốn thương cũng không dễ mà thương, dù muốn quên cũng không dễ mà quên. Dù dang dở nhưng kỉ niệm làm cho cuộc sống tinh thần ta trở nên phong phú, trọn vẹn hơn, ta mạnh mẽ và thấu hiểu hơn.

Chắc hẳn chính tác giả đã từng trải qua, hoặc chí ít đã chứng kiến những điều như thế. Chỉ có thể là sự trải nghiệm của một vốn sống phong phú, một trái tim đong đầy tình cảm, mới có thể truyền tải một cách tài hoa và tinh tế thông điệp tình yêu đến người đọc. Đó là những thông điệp mang tính phổ quát với giá trị cốt lõi: Cuộc đời có những điều ngỡ là vĩnh viễn, nhưng thực ra không có gì là mãi mãi, có những điều ngỡ có thể quên, nhưng lại chẳng thể phai nhòa.  Hãy biến những điều muốn quên thành những điều không thể quên. Hãy biến những đau thương thành những hồi ức đẹp. Hóa giải những nỗi đau thành liều thuốc chữa cho trái tim. Có như thế, cuộc sống của ta sẽ trở nên thật nhẹ nhàng, thanh thản.

Bài thơ cứ thế từng bước chinh phục trái tim tôi bằng sự hòa quyện giữa hệ thống thi pháp, nội dung và tư tưởng, thi nhân đã kết hợp giữa yếu tố mang tính cổ điển, truyền thống và cũng rất hiện đại (sử dụng thể thơ lục bát cổ truyền của dân tộc, cách tạo nên nhịp điệu cho bài thơ giúp tăng sức gợi, bộc lộ được cảm xúc, hình ảnh chọn lọc, cách nói lạ hóa, cách sử dụng ngôn ngữ đắt giá…) góp phần tạo nên sự thành công cho bài thơ, để lại những hiệu ứng nhất định trong lòng người đọc.

Nếu gặp nhà thơ Phùng Hiệu, tôi sẽ hỏi anh rằng: Năm tháng trôi qua, thời gian dầu đổi khác, song không biết anh đã “hong khô” được chỗ “ướt nhau” ngày nào hay chưa? Hay lòng vẫn say một giấc ngủ tình duyên khi nào trời vẫn còn mưa bão?

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm