TIN TỨC

Phùng Hiệu – Có một mùa yêu như thế

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-07-13 07:56:56
mail facebook google pos stwis
2123 lượt xem

NGUYỄN THANH TÂM

(Văn chương TPHCM) – Thời gian, với sức mạnh của nó, có thể làm phai nhòa mọi thứ, nhưng có một nơi thời gian cũng trở thành bất lực (một ngày, một mùa hay một đời vẫn thế), đó là nơi tình yêu đã trú ngụ rồi, nơi trái tim còn đập, cũng là nơi chất chứa những tâm tư  nỗi niềm không còn trọn vẹn…

Nhà thơ Phùng Hiệu

Sự nuối tiếc trào dâng khi ta còn yêu, muốn yêu mà không thể tiếp tục yêu? Dường như  tâm sự mà nhà thơ Phùng Hiệu đã gửi gắm trong thi phẩm tuyệt bút này cũng thế. Bài thơ như một lời than thở rất nhẹ, rất khẽ, nhưng cũng rất xót xa, đủ để đọa đày con người khi phải sống chung với nỗi nhớ nhau mà cứ dần xa nhau, thành cơn bão lòng ghê gớm:

 Từ ngày bão réo sang đêm,

 Em còn thút thít gọi thêm mưa về

 Phố chiều ướt trắng cơn mê,

 Bão giông về phía câu thề ngày xưa

 Anh ngồi hong mấy đêm mưa,

Vẫn chưa khô nổi chỗ vừa ướt nhau….

   (Bão lòng)

 Mạch thơ có thể tái hiện tương đối đơn giản: Câu chuyện về hai người yêu nhau, sau bao cách trở họ gặp lại nhau và đau xót chia tay nhau lần nữa. Bài thơ như một lời tự sự chất chứa nhiều nỗi niềm sâu kín, muốn kể lại qua hiện thực phũ phàng của cơn bão về mơ ước một đời chưa với tới đã dần xa .

Lữ Liên đã từng dịch một câu hát rằng “ Thuyền tình nửa đường chuyển bến, cho mơ ước ngàn năm gió bay. Nỗi đắng cay, như lửa thiêu đốt mãi trong lòng…” để diễn tả sự dang dở của tình yêu – như lửa thiêu, như sóng gió cuồn cuộn. Cái tiếc nuối, xót xa ấy, cũng là cảm xúc chung của những cuộc tình chưa đến đích đủ để vỡ òa cảm xúc:

Từ ngày bão réo sang đêm

Em còn thút thít gọi thêm mưa về.

Cốt truyện tự sự hòa với  trữ tình, thi nhân đã tái hiện lại cho người đọc mốc thời gian thật đặc biệt ,  mốc thời gian vô hạn định, mờ nhòe trong kí ức, gợi những suy nghĩ miên man : “ từ ngày” ! Đó là từ khi “ bão réo sang đêm”. Bức tranh hiện thực khốc liệt trước mắt , bão rủ nhau, “ réo” gọi nhau “ từ ngày sang đêm” ầm ầm ào ào không ngơi nghỉ, gầm rú vang lên từng hồi, gay gắt không hề mệt mỏi . Bão réo vào đêm, một khoảng thời gian đặc biệt- ta trở về chính mình ,suy nghĩ và chiêm nghiệm- khi đó, ta sống thật nhất với mình , cảm xúc mãnh liệt nhất, rõ ràng nhất.

 Bất ngờ hơn nữa , tình ý thơ cứ ngỡ gợi sự tương phùng ai dè dự báo thêm bão tố.

 Bão tố như là một cái cớ như một môtip mở đầu rất đổi quen thuộc rót đột ngột xuống câu  bát đầy tâm trạng:

Em còn thút thít gọi thêm mưa về.

Em”, tiếng gọi thân thương đủ để ta thấy cô ấy là tình yêu, là hạnh phúc. Nhưng cô ấy lại “gọi thêm mưa về”, gieo thêm nỗi niềm vốn đã nặng trĩu trong tâm hồn rất nhiều bão tố của chàng trai. Từ “ còn” được nhà thơ sử dụng rất đắt như một lời trách móc thật tinh tế cho sự vô tâm (hay cố tình) của cô gái. Sự đồng diễn âm thanh của đất trời (giữa bao la thiên địa bão bùng) và tiếng khóc của người yêu dấu, đã đánh thức lại kỉ niệm xưa. Có thể nói, bản thân Phùng Hiệu cũng không bao giờ hiểu hết và kiểm soát  được sự “ thút thít” ấy, không thể nào hiểu được hết ý nghĩa của tiếng khóc ấy? đó là sự nén lại cảm xúc bao năm trong lòng, không dám khóc cho thỏa nỗi nhớ niềm đau, mà chỉ khóc để vừa đủ hiểu nhau. Cô gái đã rất “biết điều” nén lại rồi bất ngờ bật ra đột ngột làm anh rối bời, tiếng khóc “vừa đủ” đệm ấy lại có sức mạnh đưa cảm xúc của anh lên trên cả bạo tàn ngoài kia, một cơn bão lòng ập đến không gì che chắn nổi, một nổi buồn sâu lắng lên ngôi.

Tự nhiên, tôi nhớ thơ Lê Thị Kim – Lê Thị Ngà:

“Đừng nhìn em như thế /Cháy lòng em còn gì… Đừng nhìn em như thế /Khắc giờ thành thiên thu”

Thì ra, chỉ một cái nhìn thôi thì cả đời hóa thành si daị

Thì ra, chỉ cần một lần “thút thít” thôi là cả một đời mưa bão.

Như vậy, chỉ bằng cặp câu thơ lục bát đầy trữ tình đã lộ ra một tâm hồn giông bão cuồn cuộn, quay quắt, đầy xót xa. Thi nhân đã chọn sự khởi đầu chủ đạo cho thi phẩm bằng sự tương phản kín dáo mà gay gắt: Bão réo/em thủ thỉ (một âm thanh chói gắt/ một âm thanh khiêm nhường, một âm thanh kinh hoàng của hiện thực tàn khốc/ một âm thanh của duyên phận bẽ bàng …) Đến đây, ta chợt nhớ đến biết bao người con trai con gái, đã từng một mình đối diện với cuộc tình dang dở, với giông tố trong tâm khảm. Một trong số đó có thể kể đến Trần Kim Thanh với “Cơn bão lòng”:

 “Đã có lần em nghe từ cơn bão
  Chẳng phải bão thường mà bão lòng anh
  Cơn bão này nó kéo đến rất nhanh
  Vô tình cuốn tuổi xanh em từ đó!”

 Và chính nơi đây, chàng trai ấy, u mê ở thực tại với những kí ức thời quá khứ

   Phố chiều ướt trắng cơn mê…

Phố này là nơi ta hẹn hò lần đầu, nơi trao cho nhau cái ôm nồng nàn, nơi nụ hôn mãnh liệt. Những kỉ niệm thật đẹp ấy nay đã trở thành cơn mê, đắm vào nhau trong chiều mưa trắng nước, “ướt trắng” không chỉ mang màu sắc mà là sự biến tấu về cảm giác. Để rồi đang đắm chìm trong những vấn vương, bỗng giật mình nhớ lại “câu thề ngày xưa”. Mọi niềm tin, hạnh phúc, hy vọng bỗng chốc hóa thành nỗi đau. Có quá nhiều lí do, có quá nhiều câu trả lời (Chắc hẳn mỗi mảnh ghép trong cuộc tình ấy đều có những vết nứt). Người ra đi cũng có những nỗi đau, người ở lại cũng đang trong mình vô số vết thương.

Bắt đầu từ câu thơ thứ ba:

 Bão giông về phía câu thề ngày xưa.

Gợi nhớ về lời thề tình yêu của đôi trai gái Thái trong truyện thơ “thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa: “Không lấy được nhau mùa hạ, ta sẽ lấy nhau mùa đông/ Không lấy được nhau thời trẻ, ta sẽ lấy nhau khi góa bụa về già”, yêu nhau, thề hẹn nhau là bằng chứng của một tình yêu chân chính.

Mạch thơ đổi khác, không còn chảy theo dòng mưa bão nữa mà nó phát triển ý thơ sang một hướng bất ngờ – theo mạch cảm xúc:

Anh ngồi hong mấy đêm mưa,

 Vẫn chưa khô nổi chỗ vừa… ướt nhau

 Phùng Hiệu đã xử lý thi liệu là những kết nối tương đồng rất hợp lý, rất phổ biến ở cách nói tượng trưng hóa, những ẩn dụ khéo léo: “bão réo”,  “mưa về”, “ ướt trắng cơn mưa”, “chỗ vừa ướt nhau”… Tuy là nhiều hình ảnh nhưng chỉ chứa đựng trong một dạng thể nhất định chính là cơn “ bão lòng”! Thế mới thấy được sự xúc tích của bài thơ.

 Có lẽ đến một lúc nào đó, khi tâm hồn đã trĩu nặng, khi đã quá muộn phiền và mất đi hy vọng, phải nỗ lực quên!  Anh muốn “hong” bầu trời mưa kỉ niệm không ngừng tuôn rơi kia, muốn “hong” những cảm xúc yêu thương rạn vỡ. Thế nhưng, nếu để ý kĩ, sẽ thấy rằng dù có cố gắng mấy “vẫn chưa” thể được – Bởi lẽ, việc “Hong khô mấy đêm mưa” nghe thật vô lí. Trái tim nào đủ mạnh mẽ, đủ cứng rắn, đủ vô tình để có thể quên đi miền kí ức đẹp đẽ ấy?

Vẫn chưa khô nổi chỗ vừa ướt nhau.

Ướt nhau”? (Ướt nước mưa? Ướt nước mắt? Ướt kỉ niệm? Ướt những ái ân mặn nồng? Ướt câu thề? Ướt hình bóng nhau…) ẩn ý đó để tô đậm một niềm tin đủ đầy vào tình yêu chung thủy. Hơn hết, không thể dùng lí trí và ý thức để có thể tìm quên – nhất là quên lời thề với người yêu dấu – mà chỉ có thể nhờ thời gian. “Chưa khô nổi” là một sự thú nhận, một lời nhắn gửi: Có một lời  thề còn mãi trong nhau.  Như Văn Cao đã từng viết:

 Kỷ niệm trong tôi

 Rơi
 như tiếng sỏi
 trong lòng giếng cạn
 Riêng những câu thơ
 còn xanh
 Riêng những bài hát
 còn xanh
 Và đôi mắt em
 như hai giếng nước.

  (Thời gian)

Con người dù muốn thương cũng không dễ mà thương, dù muốn quên cũng không dễ mà quên. Dù dang dở nhưng kỉ niệm làm cho cuộc sống tinh thần ta trở nên phong phú, trọn vẹn hơn, ta mạnh mẽ và thấu hiểu hơn.

Chắc hẳn chính tác giả đã từng trải qua, hoặc chí ít đã chứng kiến những điều như thế. Chỉ có thể là sự trải nghiệm của một vốn sống phong phú, một trái tim đong đầy tình cảm, mới có thể truyền tải một cách tài hoa và tinh tế thông điệp tình yêu đến người đọc. Đó là những thông điệp mang tính phổ quát với giá trị cốt lõi: Cuộc đời có những điều ngỡ là vĩnh viễn, nhưng thực ra không có gì là mãi mãi, có những điều ngỡ có thể quên, nhưng lại chẳng thể phai nhòa.  Hãy biến những điều muốn quên thành những điều không thể quên. Hãy biến những đau thương thành những hồi ức đẹp. Hóa giải những nỗi đau thành liều thuốc chữa cho trái tim. Có như thế, cuộc sống của ta sẽ trở nên thật nhẹ nhàng, thanh thản.

Bài thơ cứ thế từng bước chinh phục trái tim tôi bằng sự hòa quyện giữa hệ thống thi pháp, nội dung và tư tưởng, thi nhân đã kết hợp giữa yếu tố mang tính cổ điển, truyền thống và cũng rất hiện đại (sử dụng thể thơ lục bát cổ truyền của dân tộc, cách tạo nên nhịp điệu cho bài thơ giúp tăng sức gợi, bộc lộ được cảm xúc, hình ảnh chọn lọc, cách nói lạ hóa, cách sử dụng ngôn ngữ đắt giá…) góp phần tạo nên sự thành công cho bài thơ, để lại những hiệu ứng nhất định trong lòng người đọc.

Nếu gặp nhà thơ Phùng Hiệu, tôi sẽ hỏi anh rằng: Năm tháng trôi qua, thời gian dầu đổi khác, song không biết anh đã “hong khô” được chỗ “ướt nhau” ngày nào hay chưa? Hay lòng vẫn say một giấc ngủ tình duyên khi nào trời vẫn còn mưa bão?

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm