TIN TỨC

Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-16 19:37:56
mail facebook google pos stwis
823 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Trần Tế Xương của chúng ta cũng như thế, vì lận đận thi cử, dở thầy dở thợ, mà “vẽ” nên “chân tài” một chân dung. Nếu Trần Tế Xương thuận buồm xuôi gió con đường quan lộ, biết đâu ông đã bị danh lợi ràng buộc (vì lẽ thường con người ở chợ thì ràng buộc chữ lợi, ở triều thì ràng buộc chữ danh - Nguyễn Bỉnh Khiêm). Cho nên có thể nói, chính thời thế đã tác tạo nên tài năng thơ Trần Tế Xương, mà như Xuân Diệu đánh giá:

Ông nghè, ông thám vô mây khói

Đứng lại văn chương một tú tài.

“Không đỗ ông càng tốt bộ ngông”

Trần Tế Xương có tên húy là Trần Duy Uyên. Ông đi học sớm và sớm nổi tiếng thông minh từ nhỏ. Gia thoại kể lại, hồi Uyên 10 tuổi, nhà có khách đến chơi, thấy trước nhà có một dãy chậu hoa, khách bèn ra cho cậu bé Uyên một câu đối: “Đình tiền ngũ sắc hoa” (trước sân có hoa năm sắc). Cậu bé Uyên liền chỉ vào lồng chim khướu treo ở hiên và đối lại: “Lung trung bách thanh điểu” (trong lồng có chim trăm tiếng). Khách nghe đối khen hay nhưng thở dài mà tiên đoán rằng đời thằng bé này không chừng lại lẩn quẩn như chim bị nhốt trong lồng!

Cuộc đời ngắn ngủi 37 năm của Trần Tế Xương đã nằm gọn trong một giai đoạn bi thương nhất của đất nước. Lục tỉnh Nam Kỳ rơi trọn vào tay Pháp lúc ông ra đời 3 năm. Khi ông 12 tuổi, Bắc Kỳ, Nam Định quê ông mất vào tay giặc. Trần Tế Xương là hiện thân của con đường học hành thi cử trong buổi ấy, không phải của “bảng vàng, lộng tía” mà là “giấc mộng tan tành” của phận thư sinh. Cuộc đời Trần Tế Xương gắn liền với thi cử với tất cả là tám lần thi. Sau 3 lần đầu hỏng thi, mãi đến lần thứ tư của khoa Giáp Ngọ (1894) ông mới đậu tú tài, nhưng cũng chỉ là tú tài thiên thủ (lấy thêm). Sau đó thi hoài mà không đỗ cử nhân. Khoa Quý Mão (1903), Trần Tế Xương đổi tên mình thành Trần Cao Xương tưởng rằng bớt đen đủi, nhưng rồi vẫn hỏng, đến nỗi ông phát cáu lên:

Tế đổi làm cao mà chó thế

Kiện trông ra tiệp hỡi trời ôi!

 Song một mặt ông vẫn luôn tự đắc với mình, xem như đó là cách tự an ủi:

Bởi ông hay quá ông không đỗ

Không đỗ ông càng tốt bộ ngông.

Lý do bậc “thần thơ thánh chữ” (đánh giá của nhà văn Nguyễn Công Hoan về Tú Xương) thi hoài không đỗ đã được nhiều nhà nghiên cứu phân tích. Trong đó có nguyên nhân dễ hiểu là tính tình Tú Xương rất phóng túng, ít chịu sự ràng buộc bởi “tầm chương trích cú” nào. Nhưng với thi cử ngày trước, muốn thi đỗ điểm cao phải có điển này tích nọ trong bài làm, mà với thơ Tú Xương thì điều này tuyệt nhiên rất ít thấy dùng đến. Ngặt nghèo một nỗi là, thời ấy, bằng tú tài thuộc loại “dở dở ương ương”. Vì tú tài không được thi Hội, cử nhân mới được thi; tú tài cũng không được bổ quan, cử nhân mới được bổ. Đã đậu tú tài, muốn đậu cử nhân phải đợi 3 năm sau mới có kỳ thi. Hoàn cảnh oái ăm ấy, khiến ông tú tài Trần Tế Xương trở thành nho sinh “dài lưng tốn vải”, trở thành kẻ “ăn bám vợ” như chính ông đã tự thuật về công lao người vợ nuôi ông trong bài thơ Thương vợ:

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Với gia cảnh tám người con, lại khổ với ông chồng đa tình, đa tài và phóng túng, vai bà Tú nặng hơn vì gánh nặng mưu sinh. Tú Xương rất ý thức điều đó, xong cái “tật” của con người có “tài” luôn song hành trong ông. Chính Tú Xương đã “tự kiểm điểm” với vợ trong giai thoại về sự ra đời bài thơ Ba cái lăng nhăng:

Một trà, một rượu, một đàn bà,

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta.

Chừa được cái gì hay cái nấy,

Có chăng chừa rượu với chừa trà!

Để rồi cay đắng nhận bi kịch của con người “thừa” (chữ của Nam Cao) “có chồng hờ hững cũng như không” - Thương vợ. Và để rồi Tú Xương tự “thẹn” với lòng như cụ Tam Nguyên Yên Đổ đã từng thẹn trước đây:

Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành,

Mắt thời thao láo, mặt thời xanh.

Vuốt râu nịnh vợ, con bu nó,

Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh.

Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ,

Rượu chè trai gái đủ tam khoanh.

Thế mà cứ nghĩ rằng ta giỏi,

Cứ việc ăn chơi chẳng học hành.”

(Phỗng sành).

Chính những điều nói trên đã làm nên giọng điệu thơ vô cùng đặc biệt của Tú Xương vừa trào phúng vừa trữ tình, vừa hiện thực vừa lãng mạn: “Vừa say mê nhập cuộc vừa phản ứng lại khoa cử – điều này đã tạo nên sắc thái tự trào độc đáo riêng ở Tú Xương. Chính từ đặc điểm này lại tiếp tục lan tỏa và quy định tiếng nói trữ tình của Tú Xương trong cách cảm nhận về thời thế, trong sự phân thân tạo nên tiếng cười bỡn cợt, bông phèng…” (Một thế kỷ tiếp nhận thơ Tú Xương - Nguyễn Hữu Sơn, Trần Tế Xương - Về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, 2003, tr. 13).

“Kìa ai chín suối xương không nát” (Nguyễn Khuyến)

 

Trần Tế Xương (1870-1907) thường gọi là Tú Xương. Cuộc đời ông chỉ gắn liền với thi cử, có tất cả 8 lần. Đó là các khoa: Bính Tuất (1886), Mậu Tý (1888), Tân Mão (1891), Giáp Ngọ (1894), Đinh Dậu (1897), Canh Tý (1900), Quý Mão (1903) và Bính Ngọ (1906). Sau 3 lần hỏng thi, mãi đến lần thứ 4 khoa Giáp Ngọ (1894) ông mới đậu tú tài, nhưng cũng chỉ là tú tài thiên thủ (lấy thêm). Sau đó không sao lên nổi cử nhân, mặc dù đã khá kiên trì theo đuổi…

 

Dù trước tác không nhiều và mất mát nhiều do không được lưu giữ cẩn thận, tuy nhiên ở thể loại nào (thơ luật Đường, phú, văn tế, câu đối, hát nói, lục bát), Tú Xương cũng tỏ ra là một nghệ sĩ bậc thầy. Tương truyền Nguyễn Khuyến đã khóc Tú Xương với hai câu thơ được ghi trên mộ: “Kìa ai chín suối xương không nát/ Có lẽ ngàn thu tiếng vẫn còn”. Nhà văn Nguyễn Công Hoan suy tôn Tú Xương là bậc “thần thơ thánh chữ”. Còn Xuân Diệu thì xếp hạng Tú Xương thứ 5 sau Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương và Đoàn Thị Điểm. Thi sĩ Tản Đà khi còn sống tự nhận “trong những thi sĩ tiền bối, phục nhất Tú Xương”. Còn bậc thầy tùy bút Nguyễn Tuân thì Tú Xương là “một người thơ, một nhà thơ vốn nhiều công đức trong cuộc trường kỳ xây dựng tiếng nói văn học của dân tộc Việt Nam”.

Tú Xương còn là hiện tượng hiếm có trong lịch sử tác giả Việt Nam khi có các “môn đệ” theo sau để trở thành “môn phái” thơ Tú Xương bằng sự ngưỡng mộ ông. Từ Tú Xương rồi xuất hiện Tú Mỡ, Tú Sụn, Cử Nạc và thêm chi phái Tú Poanh, Đồ Phồn… (dẫn từ lời giới thiệu của Nguyễn Đình Chú, Tú Xương - tác phẩm, giai thoại, Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh, 1986).

Thật khó nói hết cái tài, cái thi vị về cuộc đời và thơ Tú Xương trong một bài viết ngắn. Để tỏ lòng ngưỡng mộ, người viết bài này có vài dòng lục bát tỏ cảm kích với tiên sinh Tú Xương:

Tài cao phận thấp là đây

Tám lần ứng thí, trắng tay… tám lần

Trách trời ăn ở bất cân

Thơ ngâm không hết, gạo lần chẳng ra

Một ca, một rượu, một trà

Một ông ngất ngưởng… vai bà nặng thêm

Ngẫm đời còn một chữ duyên

Còn hai chữ nợ, còn phiền lụy nhau

Chút tình nhắn gửi mai sau

Đừng ăn ở bạc làm đau phận người

...

Trạng nguyên, tiến sĩ đâu rồi

Tú tài còn được cho đời thẩm thơ!

T.N.T

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm