TIN TỨC

Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-16 19:37:56
mail facebook google pos stwis
1046 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Trần Tế Xương của chúng ta cũng như thế, vì lận đận thi cử, dở thầy dở thợ, mà “vẽ” nên “chân tài” một chân dung. Nếu Trần Tế Xương thuận buồm xuôi gió con đường quan lộ, biết đâu ông đã bị danh lợi ràng buộc (vì lẽ thường con người ở chợ thì ràng buộc chữ lợi, ở triều thì ràng buộc chữ danh - Nguyễn Bỉnh Khiêm). Cho nên có thể nói, chính thời thế đã tác tạo nên tài năng thơ Trần Tế Xương, mà như Xuân Diệu đánh giá:

Ông nghè, ông thám vô mây khói

Đứng lại văn chương một tú tài.

“Không đỗ ông càng tốt bộ ngông”

Trần Tế Xương có tên húy là Trần Duy Uyên. Ông đi học sớm và sớm nổi tiếng thông minh từ nhỏ. Gia thoại kể lại, hồi Uyên 10 tuổi, nhà có khách đến chơi, thấy trước nhà có một dãy chậu hoa, khách bèn ra cho cậu bé Uyên một câu đối: “Đình tiền ngũ sắc hoa” (trước sân có hoa năm sắc). Cậu bé Uyên liền chỉ vào lồng chim khướu treo ở hiên và đối lại: “Lung trung bách thanh điểu” (trong lồng có chim trăm tiếng). Khách nghe đối khen hay nhưng thở dài mà tiên đoán rằng đời thằng bé này không chừng lại lẩn quẩn như chim bị nhốt trong lồng!

Cuộc đời ngắn ngủi 37 năm của Trần Tế Xương đã nằm gọn trong một giai đoạn bi thương nhất của đất nước. Lục tỉnh Nam Kỳ rơi trọn vào tay Pháp lúc ông ra đời 3 năm. Khi ông 12 tuổi, Bắc Kỳ, Nam Định quê ông mất vào tay giặc. Trần Tế Xương là hiện thân của con đường học hành thi cử trong buổi ấy, không phải của “bảng vàng, lộng tía” mà là “giấc mộng tan tành” của phận thư sinh. Cuộc đời Trần Tế Xương gắn liền với thi cử với tất cả là tám lần thi. Sau 3 lần đầu hỏng thi, mãi đến lần thứ tư của khoa Giáp Ngọ (1894) ông mới đậu tú tài, nhưng cũng chỉ là tú tài thiên thủ (lấy thêm). Sau đó thi hoài mà không đỗ cử nhân. Khoa Quý Mão (1903), Trần Tế Xương đổi tên mình thành Trần Cao Xương tưởng rằng bớt đen đủi, nhưng rồi vẫn hỏng, đến nỗi ông phát cáu lên:

Tế đổi làm cao mà chó thế

Kiện trông ra tiệp hỡi trời ôi!

 Song một mặt ông vẫn luôn tự đắc với mình, xem như đó là cách tự an ủi:

Bởi ông hay quá ông không đỗ

Không đỗ ông càng tốt bộ ngông.

Lý do bậc “thần thơ thánh chữ” (đánh giá của nhà văn Nguyễn Công Hoan về Tú Xương) thi hoài không đỗ đã được nhiều nhà nghiên cứu phân tích. Trong đó có nguyên nhân dễ hiểu là tính tình Tú Xương rất phóng túng, ít chịu sự ràng buộc bởi “tầm chương trích cú” nào. Nhưng với thi cử ngày trước, muốn thi đỗ điểm cao phải có điển này tích nọ trong bài làm, mà với thơ Tú Xương thì điều này tuyệt nhiên rất ít thấy dùng đến. Ngặt nghèo một nỗi là, thời ấy, bằng tú tài thuộc loại “dở dở ương ương”. Vì tú tài không được thi Hội, cử nhân mới được thi; tú tài cũng không được bổ quan, cử nhân mới được bổ. Đã đậu tú tài, muốn đậu cử nhân phải đợi 3 năm sau mới có kỳ thi. Hoàn cảnh oái ăm ấy, khiến ông tú tài Trần Tế Xương trở thành nho sinh “dài lưng tốn vải”, trở thành kẻ “ăn bám vợ” như chính ông đã tự thuật về công lao người vợ nuôi ông trong bài thơ Thương vợ:

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Với gia cảnh tám người con, lại khổ với ông chồng đa tình, đa tài và phóng túng, vai bà Tú nặng hơn vì gánh nặng mưu sinh. Tú Xương rất ý thức điều đó, xong cái “tật” của con người có “tài” luôn song hành trong ông. Chính Tú Xương đã “tự kiểm điểm” với vợ trong giai thoại về sự ra đời bài thơ Ba cái lăng nhăng:

Một trà, một rượu, một đàn bà,

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta.

Chừa được cái gì hay cái nấy,

Có chăng chừa rượu với chừa trà!

Để rồi cay đắng nhận bi kịch của con người “thừa” (chữ của Nam Cao) “có chồng hờ hững cũng như không” - Thương vợ. Và để rồi Tú Xương tự “thẹn” với lòng như cụ Tam Nguyên Yên Đổ đã từng thẹn trước đây:

Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành,

Mắt thời thao láo, mặt thời xanh.

Vuốt râu nịnh vợ, con bu nó,

Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh.

Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ,

Rượu chè trai gái đủ tam khoanh.

Thế mà cứ nghĩ rằng ta giỏi,

Cứ việc ăn chơi chẳng học hành.”

(Phỗng sành).

Chính những điều nói trên đã làm nên giọng điệu thơ vô cùng đặc biệt của Tú Xương vừa trào phúng vừa trữ tình, vừa hiện thực vừa lãng mạn: “Vừa say mê nhập cuộc vừa phản ứng lại khoa cử – điều này đã tạo nên sắc thái tự trào độc đáo riêng ở Tú Xương. Chính từ đặc điểm này lại tiếp tục lan tỏa và quy định tiếng nói trữ tình của Tú Xương trong cách cảm nhận về thời thế, trong sự phân thân tạo nên tiếng cười bỡn cợt, bông phèng…” (Một thế kỷ tiếp nhận thơ Tú Xương - Nguyễn Hữu Sơn, Trần Tế Xương - Về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, 2003, tr. 13).

“Kìa ai chín suối xương không nát” (Nguyễn Khuyến)

 

Trần Tế Xương (1870-1907) thường gọi là Tú Xương. Cuộc đời ông chỉ gắn liền với thi cử, có tất cả 8 lần. Đó là các khoa: Bính Tuất (1886), Mậu Tý (1888), Tân Mão (1891), Giáp Ngọ (1894), Đinh Dậu (1897), Canh Tý (1900), Quý Mão (1903) và Bính Ngọ (1906). Sau 3 lần hỏng thi, mãi đến lần thứ 4 khoa Giáp Ngọ (1894) ông mới đậu tú tài, nhưng cũng chỉ là tú tài thiên thủ (lấy thêm). Sau đó không sao lên nổi cử nhân, mặc dù đã khá kiên trì theo đuổi…

 

Dù trước tác không nhiều và mất mát nhiều do không được lưu giữ cẩn thận, tuy nhiên ở thể loại nào (thơ luật Đường, phú, văn tế, câu đối, hát nói, lục bát), Tú Xương cũng tỏ ra là một nghệ sĩ bậc thầy. Tương truyền Nguyễn Khuyến đã khóc Tú Xương với hai câu thơ được ghi trên mộ: “Kìa ai chín suối xương không nát/ Có lẽ ngàn thu tiếng vẫn còn”. Nhà văn Nguyễn Công Hoan suy tôn Tú Xương là bậc “thần thơ thánh chữ”. Còn Xuân Diệu thì xếp hạng Tú Xương thứ 5 sau Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương và Đoàn Thị Điểm. Thi sĩ Tản Đà khi còn sống tự nhận “trong những thi sĩ tiền bối, phục nhất Tú Xương”. Còn bậc thầy tùy bút Nguyễn Tuân thì Tú Xương là “một người thơ, một nhà thơ vốn nhiều công đức trong cuộc trường kỳ xây dựng tiếng nói văn học của dân tộc Việt Nam”.

Tú Xương còn là hiện tượng hiếm có trong lịch sử tác giả Việt Nam khi có các “môn đệ” theo sau để trở thành “môn phái” thơ Tú Xương bằng sự ngưỡng mộ ông. Từ Tú Xương rồi xuất hiện Tú Mỡ, Tú Sụn, Cử Nạc và thêm chi phái Tú Poanh, Đồ Phồn… (dẫn từ lời giới thiệu của Nguyễn Đình Chú, Tú Xương - tác phẩm, giai thoại, Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh, 1986).

Thật khó nói hết cái tài, cái thi vị về cuộc đời và thơ Tú Xương trong một bài viết ngắn. Để tỏ lòng ngưỡng mộ, người viết bài này có vài dòng lục bát tỏ cảm kích với tiên sinh Tú Xương:

Tài cao phận thấp là đây

Tám lần ứng thí, trắng tay… tám lần

Trách trời ăn ở bất cân

Thơ ngâm không hết, gạo lần chẳng ra

Một ca, một rượu, một trà

Một ông ngất ngưởng… vai bà nặng thêm

Ngẫm đời còn một chữ duyên

Còn hai chữ nợ, còn phiền lụy nhau

Chút tình nhắn gửi mai sau

Đừng ăn ở bạc làm đau phận người

...

Trạng nguyên, tiến sĩ đâu rồi

Tú tài còn được cho đời thẩm thơ!

T.N.T

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm