TIN TỨC

Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-22 20:51:45
mail facebook google pos stwis
954 lượt xem

LÊ LÂM

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…

 

Nhà văn László Krasznahorkai

 

Đến nay đã có khoảng 20 tác phẩm, được trao khoảng 20 giải thưởng văn học giá trị của Hungary và quốc tế tiêu biểu như Bestenliste- Preis (1993), Kossuth (2004), America Award in Leterature (2014) - giải thưởng “đối ngã” của Nobel Văn học, Man Booker Quốc tế (2015); được đề cử Nobel Văn học từ năm 2003.

Chuyện bắt đầu từ Korin một nhân viên lưu trữ người Hungary đọc được cảo bản ký hiệu IV.3/1941- 42 không đầu đề cũng không có tên tác giả. Anh đưa về nhà, và nhận sứ mệnh phải mang đến Trung tâm thế giới, cho nó một dạng thức toàn cầu để vào cõi vĩnh hằng. Tránh bị buộc tội anh tìm cách trốn khỏi đất nước. Tài sản đã bán, tiền nong thậm chí đã khâu vào vạt áo. Cũng nghĩ việc này sẽ thuận lợi khi lĩnh một công việc “vĩ đại”. Hoàn thành, không lý do gì để không chấm dứt tất cả!

Nhưng con người này đã chịu “vận rủi” ngay từ đầu. Ở tuổi 44, đúng ngày sinh nhật cũng không dám về ngôi nhà trống vắng, hôn nhân tan vỡ trước đó, và cũng đã “đốt cháy mình trong một mối tình nồng nàn” sau đó… Hàng ngày bị bạn bè, đồng nghiệp xa lánh, thành người cô độc. Thuở nhỏ đã thế, không đứng về phía kẻ mạnh, khiến bọn trẻ ra sức giễu cợt. “Cay đắng” vì mất tự do anh phải mang theo suốt đời. Anh gặp bảy đứa trẻ ngỗ nghịch trên đường nhưng chúng không muốn giết một gã điên “không mới cũng chẳng có gì mạo hiểm lắm”. Đến nỗi một cô nhân viên hàng không trò chuyện, có cảm tình với anh cũng bị người ta dị nghị. Không có gì mang theo, anh ra khỏi đất nước dễ dàng, cũng dễ dàng nhập vào một đất nước khác khi không có cả một chiếc vali, được xếp vào loại người “vô hại”. Đến nỗi khi đến được New York còn ít tiền, lại bị đồng hương phiên dịch “trấn nốt” sau khi thỏa thuận dành cho một chỗ ở rẻ tiền. Tưởng yên ổn, cũng hàm ơn “ông chủ” đã hết sức giúp đỡ. Trong cái góc chật chội tận cùng của ngôi nhà chỉ đủ chỗ đặt lưng và làm cái công việc duy nhất đánh máy, và đúng 5 giờ chiều phải ra ngoài, xuống mua thực phẩm ở chợ cũ người Việt Nam, hoặc khám phá phố phường để trả lại không gian cho chủ. Anh đã chứng kiến cảnh Sarvary, trở về trong những cơn say, chuyện một người từ Puerto Rico thoát khỏi “vũng lầy” buộc phải gắn bó số phận với y, thân thể khô gầy, mặt mày thương tích. Anh thông cảm với người đàn bà cam chịu nhưng vẫn thấy “hạnh phúc” khi tình nhân mang về nhiều thứ, cũng là người say mê trang sức khi xem quảng cáo… Đến bước đường cùng còn biết đi đâu, cứ tính một ngày không khéo bị đuổi khỏi nhà dù luôn bị y xem là người “mờ nhạt”, là kẻ “gàn dở” đến đây “để chết” như y từng chế giễu khi nhắc lại với Maria, lại còn ghen tuông nữa chứ, thậm chí tức giận như chính anh ngăn trở công việc làm ăn của y, có ý thông đồng với “con đĩ thối tha” như y thường gọi. Tìm được người biết lắng nghe, dù mọi lúc chị luôn quay lưng về phía anh, với Korin như thế là đủ. Maria cũng thấy thương Korin, từng vuốt lên bàn tay có vết sẹo lúc anh đang ngủ, cho đến phút cuối, Sarvary trở về với giấc mơ đổi đời, muốn tìm Korin, được Maria khóc nói “anh ta bỏ lại đây mọi thứ nhưng người thì đã đi rồi”. Korin từng phát điên lên, nhận ra chẳng có New York, chẳng có gì hết, ngay cửa ngõ khách sạn đã bẩn thỉu; cũng đã từng nhủ thầm nếu không đánh mất lòng tự trọng mọi việc sẽ ổn…Đi không để thoát khỏi ngôi nhà, bởi mình còn mang theo bốn người rất “dễ thương”, đã đến đây, bị truy lùng gắt gao, phải tìm cách lánh nạn. Lại mang họ về phía Washington, “thủ đô quan trọng nhất, nhạy cảm nhất, kỳ vĩ nhất” nơi có những ngôi nhà chọc trời như được xây bằng nhiều tháp Babel bảy tầng. Bốn con người từ đầu thế kỷ 15, phải trốn tránh trước cuộc chiến, bị trói trong ca bin con tàu. Hết trải qua hoạn nạn ở Crete, Kὅln, đến Venice … Bão tố nổi lên, đêm tối vây bọc lấy họ ngay cả lúc ở hải cảng trên đường sang Venice. Điều khiến họ quan tâm lúc này ai là thị trưởng, và vẫn phải lo chiến sự xảy ra lúc đến Padova vào nửa đêm 28/4/1423… Cuộc đời Korin càng bị điêu đứng hơn khi đã không mang nổi mình, lại không muốn để những con người “trung cổ” chịu thêm tai họa. “Như một ngôi nhà cháy” là tình cảnh khi ra khỏi nhà. Đến được nơi cần đến trong “tâm trạng phấn khích” nhìn về phía nước Hung “đã biến mất vĩnh viễn”; vả lại còn đâu người Hung, theo anh tất cả đã rời khỏi đây 100 - 150 năm trước. Quê hương mờ mịt, còn hơn “sảy nhà ra thất nghiệp”; ra ngoài thì sợ, ở lại trong khách sạn ba ngày, nghĩ về mọi thứ trải qua gục xuống vì mệt, đã run, đã khóc lại bị cơn đói hành hạ, cảm thấy đây là một nơi hoàn toàn xa lạ. Kiểm lại đời mình anh hiểu rõ từng bị đánh, từng bị săn đuổi khắp nơi và đã bị nỗi buồn số phận giáng xuống đầu không ngóc lên được! 

 

Bìa tiểu thuyết Chiến tranh và chiến tranh của nhà văn László Krasznahorkai

 

Với bút pháp siêu thực, tác giả đã khái quát được một vấn đề rất thực. Sự tiếp nối những kiếp người trong chiến tranh làm người đọc ám ảnh. Chiến tranh có quan hệ gì tới những người như Mastemann? Tính khí khác thường; biến mất khi phát hiện sư tử về nằm chết trên quảng trường, vẫn làm người ta không thôi sợ hãi; từng nói đến xứ sở thần tiên nơi bốn người sẽ đến, nhưng lại chán đời muốn tìm thú vui, xuất hiện cùng đám gái điếm bu quanh; từng báo Thánh đường sẽ bị bỏ dở dù đã 621 năm; chỉ chăm chú vuốt ve con mèo lông đỏ, cho những người đi nhờ để “giải buồn” trong chiếc xe kiệu chật chội, khách cứ lắc lư bị ru ngủ vì mệt mỏi; mừng rỡ trước thắng lợi của tinh thần Genova, ca ngợi vua Tây Ban Nha; cho việc Christopher Colombo (1451-1506), đô đốc của Hoàng đế Castila, khám phá châu Mỹ năm 1493 trở về đúng hẹn hay mất hút ở chân trời là một kỳ tích; coi trọng quyền lực, đồng tiền và sức mạnh của nó, cho “con người không xem thế giới quá lớn để chiếm đoạt”; giao xà ích kiêm thư ký, người quan niệm “cuộc sống con người là linh hồn của chiến tranh” thảo văn bản 13 điều buộc bốn người phải dừng lại... Chính con người không rõ tung tích này luôn xem thường cuộc sống nhân gian, nhưng lại muốn được tôn thờ như một vị thánh. Chiến tranh có quan hệ gì với một người như Custus với những câu nói nhát gừng gây ấn tượng mạnh nhưng chỉ dẫn đến sự mù mờ, nhận nhiệm vụ “phái viên” dẫn đường đưa bốn người, vượt qua bao gian nan vẫn chùn bước trước một toán lính nghi của Mastemann chặn đường trên chuyến tham dự “hội bò đực”. Chiến tranh quan hệ gì với chủ quán bia bình thường như Hirschhardt “mắt khó đăm đăm” tường tận mọi vấn đề khiến bốn người bị nạn cũng sợ dù từng được ví là những “anh hùng chiến tranh”, luôn theo sát bước chân và cho cuộc sống bí ẩn của họ như một “dòng tu đặc biệt”; từng ca ngợi một bên chiến thắng huy hoàng, bên kia là địa ngục với 43.000 người Áo tử trận; từng gia nhập dàn đồng ca náo nhiệt mừng vinh quang chiến thắng “bọn Pháp ô trọc”… Còn nạn nhân? Bốn người chạy trốn từ xa xưa đến khi tai qua nạn khỏi vẫn cứ yếu đuối như thế, lại không phải lúc nào cũng thành một khối, do đau ốm, do sợ hãi mà né tránh các câu chuyện hóa người “im lặng”. Có lẽ đây cũng là dụng ý của tác giả quan niệm người thường vốn nhỏ bé. Họ cũng sẵn sàng khuất phục trước kẻ mạnh… Nạn bạo hành đường phố bây giờ luôn là nỗi sợ hãi ở ngay “trung tâm thế giới”. Korin không những bị cú đấm vào môn vị khiến anh co gập người lại, rồi gục xuống sân bay bởi một thanh niên Trinidad, còn bị xem như một cục phân cần hắt vệ đường, trước khi gặp người dọn vệ sinh cho là thứ rác rưởi, nhưng khi phát hiện trong áo có 440 đô bị cuỗm luôn, đành nén đau, thiểu não bước xuống tàu điện ngầm “như một xác chết” lại cố leo lên bước tiếp cho đến lúc nhìn thấy cánh cổng nhà gần nhất cố đẩy để nằm xuống chân cầu thang vì kiệt sức. Bạo lực còn vào hẳn trong nhà. Một người tự tin đã thành “thổ công” đất này, một nghệ sỹ video, một nhà thơ với giấc mơ có đầy đủ phương tiện hành nghề, “dự định làm một tác phẩm không thể bỏ qua và không thể tranh cãi” phải trả một giá đắt khi bị treo xác lên ống nước trung tâm trong chính ngôi nhà vừa được đổi đồ đạc, đến nỗi Korin quay về nhìn thấy đã khóc, rồi hoảng hốt bỏ chạy. Tội nghiệp Maria không bao giờ còn nữa với chiếc hộp trang sức vừa được nhận. Đúng là một xứ sở “nghiệt ngã” như người ta cảnh báo trước Korin. Một người từng quên cả tên mẹ, tên mình, tên quả táo… lại được dạy cho phải tỉnh, tự dưng không còn quên, không còn là người mất trí nữa…

Chương cuối “Asaia đã đến” mượn chuyện của một bậc tiên tri từ thế kỷ thứ 8 trước công nguyên, báo hiệu chúa Giêsu ra đời đã nói lên tất cả. Thực hiện lời hứa vào tháng Ba năm Công lịch 1992, Korin không ngờ lại đối mặt với một “thiên thần” có tài hút thuốc, nhả và cho khói quay trở lại buồng phổi theo ý mình, phải chăng chính người không rõ xuất xứ, cùng hiện ra khi bốn nạn nhân được cứu trong con tàu chìm, người luôn mặc áo choàng đen, đến đâu cũng gieo sợ hãi, phủ đau thương đến đó. Con người này đã chứng kiến Korin tự bắn vào mình cho đến khi gục ngã, và cũng “biến” thật nhanh một cách vô can khi chủ quầy Bela xót xa “ăn uống ở đây suốt một ngày, và không trả một đồng xu rách nào”.

Đoạn Korin tự vấn có thể xem là đặc trưng phong cách tác giả ở lối văn luận chiến, với cảm quan thời đại, và trên hết là nỗi đau nhân tình không thiếu vắng ở thời nào. Nó cũng vượt qua cả cách viết không theo cú pháp thông thường của chủ nghĩa hậu hiện đại, có khi cả chương chỉ một câu trước đây còn lạ để thể hiện “dòng ý thức”. Đóng góp của tác giả là hòa quyện nhiều sự kiện, nhiều tâm trạng ở những thời khắc khác nhau ở những đất nước khác nhau, đưa cổ đại và hiện đại vào chung một bình diện, và thành công trong một tác phẩm chỉnh thể chỉ có tài năng mới làm được. Văn rất nhuần nhuyễn, mạch lạc không thể không nói đến công của người chuyển ngữ.

Không cứu nổi mình tốt nhất là tìm đến cái chết! Đây cũng là lời cảnh báo đầy tính thời sự. Loài người không muốn nhưng chiến tranh vẫn cứ kéo dài, thậm chí không bao giờ có hồi kết.

Con người “đã bị làm hỏng hết rồi” lời than vãn của Korin tưởng có thể thấu trời xanh; cái cao cả biến mất; không phải tội Thánh thần; cảo bản đã từng đề cập đến một tương lai không có thiên thần, “bóng tối và bùn lầy đâu còn quan trọng nữa”; lịch sử, sự chiến thắng được duy trì bởi bạo lực, sẽ tạo mầm mống tai họa; con người với bi kịch cá nhân như một tiền kiếp. Trí tuệ và khai sáng cũng thành bất lực trước cái ác. Bước ngoặt ư? Phải đổi bằng mạng sống!

Bi kịch! Nhưng khách quan tác phẩm vẫn để lại trong đau thương những con người dù quá khứ có biến mất thì những hình ảnh đẹp đẽ ấy vẫn còn. Những con người cách nay nhiều thế kỷ vẫn cứ rõ nét, được đặc tả qua đôi mắt, biểu hiện “nhãn quan” sáng suốt; một Kasser, chịu lạnh kém, có ánh mắt tinh tế và suy tư, cằm nhọn, vầng trán cao, xem tình yêu trong sáng làm hoàn hảo con người, cho thực tế trái ngược lý tưởng; Falke, đôi mắt đẹp hình quả hạnh, hiền lành và khắc khổ, cái mũi khoằm to và mái tóc rậm dài chấm vai, cho Venice xây dựng ở một vị trí hợp lý, tin Chúa trời, khẳng định con người được thức tỉnh tạo ra các công trình to lớn; Bengazza, mắt xanh tuyệt đẹp, sống mũi thanh tú như phụ nữ và những nếp nhăn hiện rõ trên trán, giọng ồm ồm, đã nhìn thấy lính tráng thay cho tinh thần xây dựng đặc biệt, nhận ra tai họa đang đến với dáng vẻ mệt mỏi, tin rằng Venice chỉ có thể tồn tại trong phồn vinh dựa trên sự gìn giữ hòa bình; Toót, cặp mắt tròn nhỏ, cái mũi tẹt và những vết hằn sâu chạy dưới mắt, quanh mũi và ngang trên cằm, như được chạm khắc lên, cho phát hiện châu Âu có hai điều quan trọng: tình thương yêu và lòng tốt… Con người ở các quốc gia khác nhau vẫn hiểu nhau, bày tỏ được với nhau. Maria vẫn chia sẻ được với Korin, “sứ giả” của cái thiện khi mang trong mình bốn con người…Chỗ làm họ gặp nhau là tấm lòng. Còn người đàn ông Hung tốt bụng đã cho Korin lời khuyên phải rời bỏ đất này ngay nếu không bị cướp cũng rơi vào tay cảnh sát. Đáng quý biết bao cái vòng ôm thân thiết và mắt vẫn hướng theo, Korin đã không hề ngoái lại bởi đang mải nhìn qua vai người lái xe về phía trước, chính chuyến xe đã được gọi đến đúng 2 giờ sáng để đưa anh đi.

Con người hèn mọn luôn bị chà đạp bởi những kẻ vô nhân tính, điều Korin cho thấy bằng chính cuộc đời mình. Đến khi tâm thần rối loạn, ngôn ngữ bị xô đẩy như lời lẽ trong cảo bản đứt gãy, va đập khiến người ta nghĩ được viết bởi một “người điên”, Korin vẫn cho rằng bản thân không điên, vẫn không thôi lên án thế lực đen tối được chắp thêm nanh vuốt từ những kẻ “mạnh”, đôi mắt mang “màu bùn lầy và vũng nước” vẫn thấy rõ mọi chuyện. Chính ở đây phẩm chất tốt đẹp con người cũng chỉ được nhận ra bởi những con người. Bốn người bị đắm tàu vẫn được dân làng chài cho ăn uống, trú ngụ để họ không thôi thán phục vẻ đẹp lóa mắt ở Kommos nhưng phải chạy trốn trước tai họa khi những con vật báo trước... Họ vẫn cảm mến Korin, dắt dẫn anh đi như chính Korin đã dành tình thương cho họ, như chính anh từng cảm động trước các nhà thơ có số phận bi kịch, từng chia sẻ với bạn bè yếu thế thuở nhỏ. Korin tìm đến cái chết trong tuyệt vọng, khi xem mọi băng hoại với con người không còn phương cứu chữa, cũng chính tâm hồn anh “không thể chữa lành”, như một Atlantic đã mất; như một chiếc cốc rỗng không; quyền năng cá nhân thực sự không xác định được, đâu phải như chuyện nhà vua xuất hiện giữa những người thợ đá đã làm người Babylon xem không còn luật lệ nữa; con tàu vẫn chạy cả khi “bộ máy” cũng không còn, và đầu tàu đang đâm vào các toa tàu, khiến người ta “hiểu nhầm thế giới”, đấy là cách nói hình tượng, còn thời đại nguyên tử lại càng bi đát nếu xảy ra chiến tranh với vũ khí hủy diệt hàng loạt; tình trạng hỗn loạn, con người mất phương hướng, người cứu nạn hình như chưa sinh, và xem chừng Đấng toàn năng cũng không có! Nhưng sự “cứu rỗi” từ khách quan tác phẩm vẫn toát ra. Loài người vẫn phải vươn lên đương đầu với chiến tranh để cứu thế giới, và đã nhiều phen giành được sự sống cho mình. Mọi mất mát, dù có thể không lấy lại được nhưng suy cho cùng nhân loại vẫn trường tồn. Số phận cá nhân có thể chấm dứt. Lịch sử có những trang đẫm máu, nhưng dòng chảy của nó vẫn không ngừng. Hòa bình xuất hiện dù chỉ những khoảnh khắc vẫn mang lại hy vọng cho một ngày khi qua đêm tối.

Bi kịch chưa kết thúc thì chính những trang đau thương đã giúp hé lộ những trang mới. Trong ý nghĩa ấy người ta cảm ơn tác giả vì những lời cảnh báo. Bài học từ sự “mất tự do” của những người cùng khổ không phải không thiết thực với những người đi sau.

Điều đáng nói War and War (Chiến tranh và chiến tranh), từ một cảo bản nằm trong phòng lưu trữ nhỏ không ai biết đã được Korin “một sử gia địa phương” cho nó một cái tên và được loan ra thế giới. Nếu chưa đọc, nhìn tên sách dễ cho toàn những cảnh đau thương, chết chóc... Nhưng trái lại, chiến tranh không được miêu tả trực diện, tác giả chỉ nói đến hậu quả của nó, cũng không đi sâu vào những cảnh “rùng rợn” như người ta nghĩ. Bốn con người đơn độc thuở xa xưa không có chỗ dung thân vẫn chăm chú nhìn lên Thánh đường đang xây, với niềm hy vọng. Cũng không phải họ không muốn tìm một bến đỗ bình yên. Korin thấy mình đã hoàn tất công việc nhọc nhằn khi đến Schaffhausen, Thụy Sĩ được đề nghị gắn tấm biển đồng để ghi chú một sự kiện ở nơi có tác phẩm của họa sỹ Ý tài ba Mario Merz (1925- 2003), “vì con người này xứng đáng tìm thấy sự an lạc ở đây” như lời giám đốc bảo tàng; cho đến phút cuối tự kết liễu đời mình, một việc làm chủ động sau nhiều năm trăn trở, với những điều bộc bạch từ gan ruột báo trước cái chết cũng đã làm dịu đi không khí u ám của tác phẩm. Người đọc không thấy “sợ hãi”, dù trong sách cũng đầy sự sợ hãi. Điều tác giả chỉ ra, chiến tranh cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng ở thời nào cũng làm người ta chán ghét. Như vậy, chiến tranh là mặt trái của cuộc sống. Dù chiến tranh có như một thảm họa không tránh khỏi thì con người nói chung vẫn mong muốn bình yên. Những kẻ gây chiến sẽ bị trừng phạt. Korin, nhân vật chính của tác phẩm đến phút cận kề cái chết vẫn không thôi lên án cái xấu, cái đểu cáng, cái đố kỵ và mong cho nó tuyệt diệt đó sao!

Và hạnh phúc con người là điều có thật. Không phải ngẫu nhiên, vô hình trung chứng kiến cái chết của Korin lại là hai người dáng vẻ ăn mày già; khi nghe tiếng nổ vẫn hốt hoảng choàng dậy, “không dám động đậy, cứ ngồi chết lặng”. Tình yêu có thể tồn tại ở nơi khốn quẫn, dù có bị thóa mạ cũng không xóa được những ham muốn trần thế. Korin cũng đã từng bộc lộ “điều khó nói” khi ở chung nhà với Maria. Chính điều này, tác phẩm cho thấy cuộc đời của một Korin sẽ tự tận, một Maria kết cục trong oan uổng, nhưng cuộc đời những con người khác vẫn tiếp tục. Đây cũng là hệ quả tất yếu, con người luôn muốn được mãi sống trong hòa bình.

Từ “Nobel văn học đầu thế kỷ 21”

Giáp Văn Chung dịch - NXB Hội Nhà văn & Nhã Nam - 2017.        

L.L

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm