TIN TỨC

Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-16 18:29:39
mail facebook google pos stwis
504 lượt xem

NGÔ MINH OANH

(Về tập thơ "Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong" của nhà thơ Trần Kim Dung, NXB Hội Nhà văn 2025)

Nhận được tập thơ chị gửi tặng Những bước chân thơ vẫn ruổi rong, NXB Hội Nhà văn 2025, dày dặn, in đẹp với 80 bài thơ, chưa kể 3 bài thơ được phổ nhạc. Mừng cho nhà thơ, một người chị lớn tuổi luôn dịu dàng, bao dung với mọi người, vẫn tràn đầy nội lực để viết khỏe, để cho ra đời tập thơ thứ tư còn thơm mùi mực. Với sự hứng khởi, tôi say mê đọc, khi đến bài thơ Tháng Tư ấy với những dòng hồi ức: Tháng tư ấy cả đất trời u ám/Tôi oa oa cất tiếng khóc chào đời/Bỗng tháng Tám về khí thế sực sôi/Áo rách nón mê phá kho thóc Nhật/Cờ đỏ tung bay, Tuyên ngôn độc lập/Nô lệ đói nghèo thoát khỏi từ đây (Tháng Tư ấy). Như vậy, chị được sinh ra trong những ngày cách mạng tháng Tám, lớn lên cùng dân tộc mà cả đất nước ta vừa hứng khởi với sự kiện A.80, kỷ niệm 80 năm ngày Cách mạng tháng Tám, vì vậy là Nhà thơ Trần Kim Dung cũng đã bước sang tuổi tám mươi. 80 năm với một đất nước có thể không dài, nhưng 80 năm với cuộc đời một con người thì dài lắm, nhiều dấu ấn kỷ niệm lắm. Trải qua bao thăng trầm, sóng gió người ta đã có đủ thời gian để ngoái nhìn lại, mà chiêm nghiệm cuộc đời với những vui buồn, được mất. Với người thường đã như vậy thì với nhà thơ lại càng như vậy. Chính vì thế, có thể nói xuyên suốt cả tập thơ của chị là một dòng chảy hoài niệm rưng rưng những miền ký ức. Những kí ức, hoài niệm của chị là những vùng quê giàu đẹp hay nghèo khó trên mảnh đất hình chữ S thân thương; những địa danh, vùng đất xa lạ nào đó mà nhà thơ đã từng đặt chân đến; hoài niệm về những ngày thơ bé, giặc giã chiến tranh, lớn lên trong nghèo khó; rồi những hoài niệm, nghĩ suy khi đã lớn tuổi về cha mẹ và con cái; đặc biệt là những hoài niệm của một người hành đạo về cõi tâm linh Phật giáo… Tất cả những điều đó cứ hoà quyện vào nhau làm nên một giọng điệu thơ rất riêng của chị, thấm đẫm tình đời, tình người, tình đất nước.

Tác phẩm mới của nhà thơ Trần Kim Dung sẽ được ra mắt vào sáng ngày 18/1/2024.

Trước hết nói về miền ký ức của chị về quê hương, đất nước, chị đã đặt dấu chân của mình lên hầu hết những vùng đất Việt Nam. Những địa danh đọng lại trong những bài thơ của chị minh chứng cho điều đó: Dấu xưa Lạng Sơn, Địa đầu Móng cái, Chốc lát Vân Đồn, Đất tổ Hùng Vương, Cát Bà, Chiều Hồ Gươm, Tháp Rùa, Thành Cổ Loa, Đèo Hải Vân, Sông Hàn, Bảo Lộc, Chợ đêm Đà Lạt, Ghềnh Đá Đĩa, Gửi Phú Yên, Mũi Né, Sông Sài Gòn, Về lại Tiền Giang, Về lại xứ dừa, Chào Bạc Liêu… Theo dấu chân ruổi rong của chị, đọc những bài thơ của chị cho ta cảm giác non sông liền một dãi từ Bắc chí Nam, yêu quê hương đất nước là tìm đến, gắn bó sâu nặng và nhớ về. Có phải là ý thức không, với mỗi vùng quê, vùng quê nào chị cũng chia đều nổi nhớ và hoài niệm. Viết về sông, thơ chị nhắc đến nhiều sông (sông Hàn, Bạch Đằng giang, Sông Cấm, sông Tô Lịch, sông Sài Gòn, sông Tiền, sông Hậu); đèo, nhắc đến nhiều đèo (đèo Mã phục, đèo Hải Vân, đèo Bảo Lộc…); hồ chị cũng nhắc đế nhiểu hồ (Hồ Gươm, hồ Tuyền Lâm, hồ Tràm…); hoa, chị nhắc đến nhiều loài hoa (hoa Mai trắng, hoa Loa Kèn, hoa Lộc vừng…) mà mỗi cái tên đều gợi nhớ đến nhiều vùng đất.

Với mỗi nơi đi qua, nhà thơ đều có nhiều dấu ấn sâu đậm: Với Yên Tử, chị viết: Đây chùa Đồng nơi giao thoa Trời Đất/Khói hương hoa ngút ngát quyện mây trời/Mái cong vén sương, vén mây bay lên đỉnh núi/Chuông khánh ngân dài nghiêng ngã khắp trùng khơi (Yên Tử);  Trước Hồ Gươm, chị viết: Nắng hè trải lụa vàng xuống phố/Sóng lăn tăn xanh biếc mặt hồ/Tháp Rùa đó hiện ra như cổ tích. Rồi nhà thơ hoài niệm: Thấp thoáng rùa Vàng ngậm kiếm trước thuyền vua (Chiều Hồ Gươm).

Đà Lạt là vùng đất chị dành ưu ái đến nhiều và viết nhiều về đây: Mây ơi đến tự phương nào/Mà giăng kín cả lối vào rừng thông/Để cho nước biếc chạnh lòng/Để con thuyền nhỏ mắc dòng tương tư. (Hồ Tuyền Lâm). Chị viết về sông Sài Gòn: Ba trăm năm lẽ vơi đầy/Sông giờ trẻ lại hơn ngày hôm qua/Lặng thầm gom góp phù sa/Làm nên mảnh đất đậm đà nghĩa nhân. (Sông Sài Gòn).

Trong tập thơ, chị dành nhiều về quê hương Hải Phòng, nơi chôn nhau cắt rốn của chị: Một tự hào về quê hương cụ Trạng, rồi bồi hồi trở về sông Cấm: Sông Cấm ơi tự thuở nào/Mà ta nghe sóng rì rào bên nôi/Bỗng mùa phượng đỏ tháng Năm/Bao nhiêu mơ ước trăm năm ùa về/Bến sông, cầu cảng, tàu bè/Xôn xao con sóng tràn trề niềm vui. (Trở về sông Cấm). Chị vui với quê hương đổi mới: Quê giờ rộn rã tiếng ve/Xôn xao sông Lấp, phượng khoe má hồng/Đồ Sơn thức dậy Đồi Rồng/Vũ Yên rực sáng bên dòng Cấm giang (Tháng Năm).

Nhà thơ Trần Kim Dung đặt bước chân đến nhiều nơi trên đất nước và cả nhiều nơi trên thế giới. Thấy chị vừa mới viết về quê đó, nhưng khi đến một vùng đất khác thì những miền ký ức của chị lại ùa về. Ở nước ngoài thì nhớ về đất nước, ở trong nước thì nhớ về quê hương, ở quê hương thì nhớ về quá khứ, nhớ về lịch sử hào hùng của dân tộc. Viên mãn sống với thời hiện tại lại nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ về thời gian khó. Những miền ký ức cứ đeo bám chị, nặng tình với chị bởi trái tim người thi sĩ trong chị cũng luôn nặng nghĩa với tình đất, tình người không kém. Khi ở trên đất nước Triệu Voi, chị viết: Đi giữa cố đô ngói cổ êm đềm/Ngỡ được về Hội An đất Quảng/Gặp Chăm pa trên đường loang loáng/Nhớ Yên Tử quê nhà hoa đại trắng trong mây. (Tản mạn về Lào). Khi ở xứ Kim Chi: Sớm tối kim chi rong biển mời chào/Áo Hanbok đủ sắc màu, ý tưởng/Bỗng thấy nhớ nhà mơ bữa cơm rau muống/Cà pháo giòn canh cua nấu rau đay ! (Xứ Kim chi).

Còn ký ức về một thời oanh liệt chống ngoại xâm của dân tộc, chị viết khi ở địa đầu Móng Cái: Đây Pò Hèn ghi dấu những ngày đêm/Khói lửa ngút trời bên kia tràn tới/Chúng đốt phá cả một vùng biên giới/Bao nhiêu người đã anh dũng hy sinh/Tượng đài Pò Hèn cao vút trời xanh/Xin được cúi đầu nơi biên cương Tổ quốc/Ta đứng đây trông về Cà Mau rừng đước/Thấy bờ biển chữ S vững chắc trước biển Đông. (Địa đầu Móng cái). Thăm Cầu Tàu 914 ở Côn Đảo chị lại nhớ: Trông ra cầu tàu 914/Thấy người tù xưa khuân đá gục bên cầu/Kiệt sức, đòn roi hàng nghìn người bỏ mạng/Để cây cầu mang mãi nỗi đau. (Về Côn Đảo). Bước sang tuổi tám mươi, đã hoàn thành nhiệm vụ với đời, cháu con phương trưởng nhưng chị vẫn luôn nhớ về một thời gian khó như là nhắc nhở mình, nhắc nhỏ cháu con và cám ơn cuộc đời đã cho chị ngày hôm nay: Thương lắm mẹ cha cực khổ kiếm tiền/Vắt kiệt sức nuôi đàn con khôn lớn/Mẹ mắc bệnh ra đi, cha một mình hôm sớm/Con không làm được gì để đền đáp Mẹ ơi ! (Tháng Tư ấy). Hay: Đội ơn mẹ cha đã cho con có mặt trên đời/Cám ơn cháu con cùng những người yêu dấu/Cho tôi ấm áp đủ đầy, sẽ chia quý báu/Trong an bình, hạnh phúc thân thương/Mong được khỏe vui để đi nốt đoạn đường/Ngày viết đôi câu gửi vào mây gió. (Tháng Tư ấy).              

Với điệp trùng hoài niệm về những miền ký ức, nhà thơ Trần Kim Dung đã dẫn dắt ta đi trong nhiều cung bậc cảm xúc, ta như đã hòa nhập với những cảm, những nghĩ của chị lúc nào không biết. Điều này đã làm nên thế mạnh và sức hấp dẫn của tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong.

  Lời thơ giản dị, chân thành nhưng không thiếu đi những thủ pháp ẩn dụ, liên tưởng, nhân cách hóa… góp phần tạo nên sức hấp dẫn của tập thơ. Chị gọi những “đại lão Tùng”, “lão Đại”, “cụ Đề”, “cụ Đa”, “cụ Lộc vừng”, “cụ Sưa”, “cụ Phượng”… nghe thật gần gũi và thú vị. Chị nhìn thấy cầu Long Biên “Dũng mãnh như Rồng bay trong gió, một mình khiêng rét vượt qua sông”, hay “Lăng Cô cát trắng đón chào/Rồng bay lên núi, lượn vào mây xanh/Hải Vân quan đứng giữ thành/Áo khăn rêu phủ, trên mình đẫm sương. (Đèo Hải Vân).

Tập thơ có nhiều câu thơ hay, gợi cảm, gợi nghĩ: Làng cổ Đường Lâm rộn rã sớm trưa/Tường đá ong như lá phổi phập phồng ngàn năm vẫn thở…(Làng cổ Đường Lâm); Đi trong hương nhãn tràn trề/Tiếng chuông thức dậy bốn bề trời xanh (Chùa Nôm); Đền Quan Lạn quân tướng về dậy sóng/Trống hội quạt cờ nghiêng ngã bến sông Mang (Chốc lát Vân Đồn); Hải Vân đứng giữa sơn hà/Ngàn năm mây trắng la đà biển xanh (Đèo Hải Vân); Bến nghiêng xanh biếc đồi thông/Trời nghiêng một dãi mây hồng rong chơi/Lưới thuyền nghiêng mẻ cá tươi/Chiều nghiêng một giọt chuông rơi bồng bềnh. (Bến Nghiêng).

Có thể nói nhiều điều hơn nữa về tập thơ, nhưng với bấy nhiêu thôi, tập thơ cũng đã thành công mỹ mãn. Xin chúc mừng Tác giả, Nhà thơ Trần Kim Dung với tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong được nhiều bạn văn đón nhận và chúc chị tiếp tục gặt hái được nhiều thành công hơn nữa trên con đường văn chương của mình.  

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2026, 

N.M.O.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm