TIN TỨC

Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-16 18:29:39
mail facebook google pos stwis
393 lượt xem

NGÔ MINH OANH

(Về tập thơ "Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong" của nhà thơ Trần Kim Dung, NXB Hội Nhà văn 2025)

Nhận được tập thơ chị gửi tặng Những bước chân thơ vẫn ruổi rong, NXB Hội Nhà văn 2025, dày dặn, in đẹp với 80 bài thơ, chưa kể 3 bài thơ được phổ nhạc. Mừng cho nhà thơ, một người chị lớn tuổi luôn dịu dàng, bao dung với mọi người, vẫn tràn đầy nội lực để viết khỏe, để cho ra đời tập thơ thứ tư còn thơm mùi mực. Với sự hứng khởi, tôi say mê đọc, khi đến bài thơ Tháng Tư ấy với những dòng hồi ức: Tháng tư ấy cả đất trời u ám/Tôi oa oa cất tiếng khóc chào đời/Bỗng tháng Tám về khí thế sực sôi/Áo rách nón mê phá kho thóc Nhật/Cờ đỏ tung bay, Tuyên ngôn độc lập/Nô lệ đói nghèo thoát khỏi từ đây (Tháng Tư ấy). Như vậy, chị được sinh ra trong những ngày cách mạng tháng Tám, lớn lên cùng dân tộc mà cả đất nước ta vừa hứng khởi với sự kiện A.80, kỷ niệm 80 năm ngày Cách mạng tháng Tám, vì vậy là Nhà thơ Trần Kim Dung cũng đã bước sang tuổi tám mươi. 80 năm với một đất nước có thể không dài, nhưng 80 năm với cuộc đời một con người thì dài lắm, nhiều dấu ấn kỷ niệm lắm. Trải qua bao thăng trầm, sóng gió người ta đã có đủ thời gian để ngoái nhìn lại, mà chiêm nghiệm cuộc đời với những vui buồn, được mất. Với người thường đã như vậy thì với nhà thơ lại càng như vậy. Chính vì thế, có thể nói xuyên suốt cả tập thơ của chị là một dòng chảy hoài niệm rưng rưng những miền ký ức. Những kí ức, hoài niệm của chị là những vùng quê giàu đẹp hay nghèo khó trên mảnh đất hình chữ S thân thương; những địa danh, vùng đất xa lạ nào đó mà nhà thơ đã từng đặt chân đến; hoài niệm về những ngày thơ bé, giặc giã chiến tranh, lớn lên trong nghèo khó; rồi những hoài niệm, nghĩ suy khi đã lớn tuổi về cha mẹ và con cái; đặc biệt là những hoài niệm của một người hành đạo về cõi tâm linh Phật giáo… Tất cả những điều đó cứ hoà quyện vào nhau làm nên một giọng điệu thơ rất riêng của chị, thấm đẫm tình đời, tình người, tình đất nước.

Tác phẩm mới của nhà thơ Trần Kim Dung sẽ được ra mắt vào sáng ngày 18/1/2024.

Trước hết nói về miền ký ức của chị về quê hương, đất nước, chị đã đặt dấu chân của mình lên hầu hết những vùng đất Việt Nam. Những địa danh đọng lại trong những bài thơ của chị minh chứng cho điều đó: Dấu xưa Lạng Sơn, Địa đầu Móng cái, Chốc lát Vân Đồn, Đất tổ Hùng Vương, Cát Bà, Chiều Hồ Gươm, Tháp Rùa, Thành Cổ Loa, Đèo Hải Vân, Sông Hàn, Bảo Lộc, Chợ đêm Đà Lạt, Ghềnh Đá Đĩa, Gửi Phú Yên, Mũi Né, Sông Sài Gòn, Về lại Tiền Giang, Về lại xứ dừa, Chào Bạc Liêu… Theo dấu chân ruổi rong của chị, đọc những bài thơ của chị cho ta cảm giác non sông liền một dãi từ Bắc chí Nam, yêu quê hương đất nước là tìm đến, gắn bó sâu nặng và nhớ về. Có phải là ý thức không, với mỗi vùng quê, vùng quê nào chị cũng chia đều nổi nhớ và hoài niệm. Viết về sông, thơ chị nhắc đến nhiều sông (sông Hàn, Bạch Đằng giang, Sông Cấm, sông Tô Lịch, sông Sài Gòn, sông Tiền, sông Hậu); đèo, nhắc đến nhiều đèo (đèo Mã phục, đèo Hải Vân, đèo Bảo Lộc…); hồ chị cũng nhắc đế nhiểu hồ (Hồ Gươm, hồ Tuyền Lâm, hồ Tràm…); hoa, chị nhắc đến nhiều loài hoa (hoa Mai trắng, hoa Loa Kèn, hoa Lộc vừng…) mà mỗi cái tên đều gợi nhớ đến nhiều vùng đất.

Với mỗi nơi đi qua, nhà thơ đều có nhiều dấu ấn sâu đậm: Với Yên Tử, chị viết: Đây chùa Đồng nơi giao thoa Trời Đất/Khói hương hoa ngút ngát quyện mây trời/Mái cong vén sương, vén mây bay lên đỉnh núi/Chuông khánh ngân dài nghiêng ngã khắp trùng khơi (Yên Tử);  Trước Hồ Gươm, chị viết: Nắng hè trải lụa vàng xuống phố/Sóng lăn tăn xanh biếc mặt hồ/Tháp Rùa đó hiện ra như cổ tích. Rồi nhà thơ hoài niệm: Thấp thoáng rùa Vàng ngậm kiếm trước thuyền vua (Chiều Hồ Gươm).

Đà Lạt là vùng đất chị dành ưu ái đến nhiều và viết nhiều về đây: Mây ơi đến tự phương nào/Mà giăng kín cả lối vào rừng thông/Để cho nước biếc chạnh lòng/Để con thuyền nhỏ mắc dòng tương tư. (Hồ Tuyền Lâm). Chị viết về sông Sài Gòn: Ba trăm năm lẽ vơi đầy/Sông giờ trẻ lại hơn ngày hôm qua/Lặng thầm gom góp phù sa/Làm nên mảnh đất đậm đà nghĩa nhân. (Sông Sài Gòn).

Trong tập thơ, chị dành nhiều về quê hương Hải Phòng, nơi chôn nhau cắt rốn của chị: Một tự hào về quê hương cụ Trạng, rồi bồi hồi trở về sông Cấm: Sông Cấm ơi tự thuở nào/Mà ta nghe sóng rì rào bên nôi/Bỗng mùa phượng đỏ tháng Năm/Bao nhiêu mơ ước trăm năm ùa về/Bến sông, cầu cảng, tàu bè/Xôn xao con sóng tràn trề niềm vui. (Trở về sông Cấm). Chị vui với quê hương đổi mới: Quê giờ rộn rã tiếng ve/Xôn xao sông Lấp, phượng khoe má hồng/Đồ Sơn thức dậy Đồi Rồng/Vũ Yên rực sáng bên dòng Cấm giang (Tháng Năm).

Nhà thơ Trần Kim Dung đặt bước chân đến nhiều nơi trên đất nước và cả nhiều nơi trên thế giới. Thấy chị vừa mới viết về quê đó, nhưng khi đến một vùng đất khác thì những miền ký ức của chị lại ùa về. Ở nước ngoài thì nhớ về đất nước, ở trong nước thì nhớ về quê hương, ở quê hương thì nhớ về quá khứ, nhớ về lịch sử hào hùng của dân tộc. Viên mãn sống với thời hiện tại lại nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ về thời gian khó. Những miền ký ức cứ đeo bám chị, nặng tình với chị bởi trái tim người thi sĩ trong chị cũng luôn nặng nghĩa với tình đất, tình người không kém. Khi ở trên đất nước Triệu Voi, chị viết: Đi giữa cố đô ngói cổ êm đềm/Ngỡ được về Hội An đất Quảng/Gặp Chăm pa trên đường loang loáng/Nhớ Yên Tử quê nhà hoa đại trắng trong mây. (Tản mạn về Lào). Khi ở xứ Kim Chi: Sớm tối kim chi rong biển mời chào/Áo Hanbok đủ sắc màu, ý tưởng/Bỗng thấy nhớ nhà mơ bữa cơm rau muống/Cà pháo giòn canh cua nấu rau đay ! (Xứ Kim chi).

Còn ký ức về một thời oanh liệt chống ngoại xâm của dân tộc, chị viết khi ở địa đầu Móng Cái: Đây Pò Hèn ghi dấu những ngày đêm/Khói lửa ngút trời bên kia tràn tới/Chúng đốt phá cả một vùng biên giới/Bao nhiêu người đã anh dũng hy sinh/Tượng đài Pò Hèn cao vút trời xanh/Xin được cúi đầu nơi biên cương Tổ quốc/Ta đứng đây trông về Cà Mau rừng đước/Thấy bờ biển chữ S vững chắc trước biển Đông. (Địa đầu Móng cái). Thăm Cầu Tàu 914 ở Côn Đảo chị lại nhớ: Trông ra cầu tàu 914/Thấy người tù xưa khuân đá gục bên cầu/Kiệt sức, đòn roi hàng nghìn người bỏ mạng/Để cây cầu mang mãi nỗi đau. (Về Côn Đảo). Bước sang tuổi tám mươi, đã hoàn thành nhiệm vụ với đời, cháu con phương trưởng nhưng chị vẫn luôn nhớ về một thời gian khó như là nhắc nhở mình, nhắc nhỏ cháu con và cám ơn cuộc đời đã cho chị ngày hôm nay: Thương lắm mẹ cha cực khổ kiếm tiền/Vắt kiệt sức nuôi đàn con khôn lớn/Mẹ mắc bệnh ra đi, cha một mình hôm sớm/Con không làm được gì để đền đáp Mẹ ơi ! (Tháng Tư ấy). Hay: Đội ơn mẹ cha đã cho con có mặt trên đời/Cám ơn cháu con cùng những người yêu dấu/Cho tôi ấm áp đủ đầy, sẽ chia quý báu/Trong an bình, hạnh phúc thân thương/Mong được khỏe vui để đi nốt đoạn đường/Ngày viết đôi câu gửi vào mây gió. (Tháng Tư ấy).              

Với điệp trùng hoài niệm về những miền ký ức, nhà thơ Trần Kim Dung đã dẫn dắt ta đi trong nhiều cung bậc cảm xúc, ta như đã hòa nhập với những cảm, những nghĩ của chị lúc nào không biết. Điều này đã làm nên thế mạnh và sức hấp dẫn của tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong.

  Lời thơ giản dị, chân thành nhưng không thiếu đi những thủ pháp ẩn dụ, liên tưởng, nhân cách hóa… góp phần tạo nên sức hấp dẫn của tập thơ. Chị gọi những “đại lão Tùng”, “lão Đại”, “cụ Đề”, “cụ Đa”, “cụ Lộc vừng”, “cụ Sưa”, “cụ Phượng”… nghe thật gần gũi và thú vị. Chị nhìn thấy cầu Long Biên “Dũng mãnh như Rồng bay trong gió, một mình khiêng rét vượt qua sông”, hay “Lăng Cô cát trắng đón chào/Rồng bay lên núi, lượn vào mây xanh/Hải Vân quan đứng giữ thành/Áo khăn rêu phủ, trên mình đẫm sương. (Đèo Hải Vân).

Tập thơ có nhiều câu thơ hay, gợi cảm, gợi nghĩ: Làng cổ Đường Lâm rộn rã sớm trưa/Tường đá ong như lá phổi phập phồng ngàn năm vẫn thở…(Làng cổ Đường Lâm); Đi trong hương nhãn tràn trề/Tiếng chuông thức dậy bốn bề trời xanh (Chùa Nôm); Đền Quan Lạn quân tướng về dậy sóng/Trống hội quạt cờ nghiêng ngã bến sông Mang (Chốc lát Vân Đồn); Hải Vân đứng giữa sơn hà/Ngàn năm mây trắng la đà biển xanh (Đèo Hải Vân); Bến nghiêng xanh biếc đồi thông/Trời nghiêng một dãi mây hồng rong chơi/Lưới thuyền nghiêng mẻ cá tươi/Chiều nghiêng một giọt chuông rơi bồng bềnh. (Bến Nghiêng).

Có thể nói nhiều điều hơn nữa về tập thơ, nhưng với bấy nhiêu thôi, tập thơ cũng đã thành công mỹ mãn. Xin chúc mừng Tác giả, Nhà thơ Trần Kim Dung với tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong được nhiều bạn văn đón nhận và chúc chị tiếp tục gặt hái được nhiều thành công hơn nữa trên con đường văn chương của mình.  

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2026, 

N.M.O.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm