TIN TỨC

Sách nặng, hồn thanh nhẹ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-11 16:44:13
mail facebook google pos stwis
1861 lượt xem

PHẠM KHẢI

(Đọc "Quách Tấn - Tuyển tập thơ", Nxb Hội Nhà văn, 2006)

Có một hiện tượng tuy ít người nói ra song đã và đang trở nên phổ biến trong đời sống văn nghệ: ấy là việc một số tác giả rất được người đời biết tiếng nhưng khi hỏi đến tác phẩm thì đa phần lại chỉ nhớ… lơ mơ!

Tất nhiên, để xảy tình trạng này có nhiều lý do, trong đó có những lý do nằm ngoài phạm vi tài năng của chính tác giả.

Như bao người yêu thơ khác trên đời, tôi biết đến nhà thơ Quách Tấn chủ yếu nhờ vào phần được trích tuyển trong “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh- Hoài Chân. Từ bấy đến nay, đây đó trên báo chí tôi cũng được đọc thêm một số bài thơ nữa của ông, song xem ra sự tiếp xúc ấy cũng chỉ là “tạm bợ”.

Tôi hiểu, ngoài tôi còn không ít đồng nghiệp cũng chỉ biết về sự nghiệp thi ca của Quách Tấn một cách manh mún, hoàn toàn không tương xứng với sức nặng mà cái tên của ông đã gợi lên trong đời sống văn học mấy chục năm qua.

Cho đến một ngày, tôi và nhiều độc giả có được cuốn “Quách Tấn - tuyển tập thơ”…

Sinh thời, Quách Tấn bị xem là người “không có duyên trong việc xuất bản” nên việc phổ biến văn thơ của ông “rất hạn hẹp” (lời người biên soạn).

Bởi vậy, với độ dày ngót 800 trang in, tập hợp tới hơn 500 bài (tương đương với “Toàn tập thơ” của Xuân Diệu), lại được tuyển lựa từ tất cả các tập thơ đã hoàn tất của tác giả, ta có thể khẳng định ngay rằng, đây là hợp tuyển thơ đồ sộ nhất của Quách Tấn từ trước tới nay.

Bạn đọc tiếp tục được thưởng thức lại trong cuốn sách này những câu thơ hay, đầy mỹ cảm mà cả hai nhà nghiên cứu phê bình văn học Vũ Ngọc Phan và Hoài Thanh đã từng tấm tắc ngợi khen như “Gió vàng cợt sóng sông chau mặt/ Mây trắng vờn cây núi bạc đầu/ Dìu dặt tiếng ve còn vẳng đấy/ Vội vàng cánh nhạn rủ về đâu” (bài “Cảm thu”) và “Tình cũng lơ mà bạn cũng lơ/ Bao nhiêu khăng khít bấy ơ hờ/ Sầu mang theo lệ khôn rơi lệ/ Nhớ gởi vào thơ nghĩ tội thơ…” (bài “Trơ trọi”).

Đặc biệt, có những thi phẩm mà tác giả của “Nhà văn hiện đại” và “Thi nhân Việt Nam” chỉ bình, trích đôi câu, bạn đọc sẽ được tiếp cận trọn bài trong cuốn tuyển thơ này.

Các tập “Một tấm lòng”, “Mùa cổ điển” (từng làm nên thương hiệu của tác giả thời kỳ trước Cách mạng) và “Đọng bóng chiều”, “Mộng Ngân Sơn”, “Giọt trăng” (giúp nhà thơ neo đậu tên tuổi trong lòng bạn đọc những ngày hai miền cắt chia) cùng một vài tập thơ lẻ xuất bản cách đây ít năm sẽ góp cho bạn đọc một cách nhìn tương đối hoàn chỉnh về chân dung nhà thơ Quách Tấn.

So với những bạn thơ của nhóm “Bàn Thành tứ hữu” (có nghĩa là “Bốn người bạn ở đất Thành Bàn”- tức Quy Nhơn), gồm Quách Tấn, Chế Lan Viên, Yến Lan và Hàn Mặc Tử thì Quách Tấn là người… thọ nhất (ông mất năm 1992, khi đã 83 tuổi).

Tuy nhiên, Quách Tấn cũng lại là người có phong cách ổn định, giọng thơ ít thay đổi hơn cả. Nếu như với Hàn Mặc Tử, từ những bài thơ Đường luật “ngay ngắn trang nghiêm” viết lúc còn thiếu niên đến những bài thơ đầy ngẫu hứng và tung phá trong “Máu thơm và hồn điên” là cả một diễn biến tâm lý phức tạp thì ở Quách Tấn không hề có hiện tượng như vậy.

Nếu như vào những năm ba mươi (của thế kỷ trước) ông từng viết: “Sương buông màn lượt phủ bao la/ Non nước chìm sâu trong giấc mơ/ Cung quế im lìm mây ấp nguyệt/ Song đào âu yếm gió hôn hoa” thì 50 năm sau, ông vẫn viết: “Sông sâu thắm đậm bóng non chiều/ Ăm ắp bờ lau ngập tiếng tiêu/ Thuyền ngược nước thu mây nặng nặng/ Sư về am vắng gió hiu hiu”.

Không ai nhìn thấy dấu vết thời gian giữa hai khổ thơ nói trên. Với Quách Tấn, thơ ca như một giấc mơ dài mà suốt cả một đời ông vẫn chưa qua hết.

Một đôi nhà phê bình cự phách đã nhận xét, trong việc làm thơ, Quách Tấn quá chú trọng tới việc gọt câu tỉa chữ. Họ cho rằng như vậy là “già nhân tạo, át thiên chân” và điều đó dẫn tới việc thơ Quách Tấn có thể “ngâm ngợi cho sướng tai” chứ ít có sức lay động tâm can.

Đọc “Quách Tấn - tuyển tập thơ”, tôi không hoàn toàn tán thành ý kiến trên song cũng nhận thấy rằng, với những thể thơ cũ như ngũ ngôn, lục bát, thất ngôn bát cú, tứ tuyệt… (tác giả hầu hết chỉ dùng mấy thể thơ này) mà kéo dài cả tập tới 7-8 trăm trang quả là một sự “nắn gân” độc giả.

Tất nhiên, ta cũng cần phải hiểu, một nhà thơ dù tài ba đến đâu cũng khó mà trở thành “cây đàn muôn điệu” được. Khi sáng tác mỗi người một “tạng”. Vấn đề là làm sao khai thác được đến nơi đến chốn cái “tạng” của mình.

Trong “Quách Tấn - tuyển tập thơ”, còn có một phần rất có ý nghĩa đối với các nhà nghiên cứu văn học sử, đó là những trích đoạn hồi ký của Quách Tấn cùng các bài tựa, bạt, đánh giá nhận xét của bạn bè, đồng nghiệp đối với sự nghiệp thơ ca của ông (phần này chiếm tới non nửa cuốn sách).

Thật thú vị khi ta được tiếp cận với Tản Đà qua bài tựa “Một tấm lòng”, với Hàn Mặc Tử qua lời bạt (cũng dùng cho tập thơ nói trên); với Chế Lan Viên qua lời tựa cho “Mùa cổ điển”…

Tất cả đều thể hiện một thái độ tôn trọng đối với những nỗ lực “làm mới lại các thể thơ cổ điển” của tác giả khi ấy tuổi đời còn trẻ. Chỉ tiếc là cũng ở phần “đọc thêm” này, người đọc đã gặp phải những hạt sạn. Ấy là khi người biên soạn đưa vào tập sách bài viết có tiêu đề “Trách nhiệm của tuổi trẻ Việt Nam đối với Quách Tấn” của tác giả Phạm Công Thiện, với nhận định “Quách Tấn là thi hào vĩ đại nhất ở thế kỷ 20”.

Được biết, sinh thời Quách Tấn là người “biết người biết ta”, và ngay trong cuốn sách này ông cũng đã đưa ra tuyên bố: “Tôi được một chút địa vị tử tế trên đàn thơ là do “Mùa cổ điển” và nhờ công của Chế Lan Viên và Hoài Thanh”. Việc đặt những lời này của ông bên cạnh lời xưng tụng… bốc giời nói trên quả thật là hơi… phản cảm.

***
 

Nhà thơ Ngô Văn Phú: “Ông chơi thơ một cách sang trọng…”

- Là người có khuynh hướng… phục cổ, lại được tiếng “chịu đọc” các bậc tiền nhân, hẳn Quách Tấn cũng là trường hợp mà ông quan tâm?

+ Không chỉ quan tâm mà còn phải… học. Khi còn ngồi trên giảng đường đại học (hồi đầu những năm 60) tôi vẫn nghe các thầy nhắc đến tên Quách Tấn trong giáo trình. “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh chẳng đã chọn của ông rất nhiều, tới 9 bài, hơn cả Chế Lan Viên và Nguyễn Bính. Trong thơ ông này, “Mùa cổ điển” là tập tôi thích nhất.

- Ông có thể nhắc đến một số bài mà ông tâm đắc?

+ Không! Thơ ấy hơi… cổ, phải giở sách ra tôi mới nhớ được. Nhưng nói đến đội ngũ làm thơ Đường luật, không mấy người bén gót được ông đâu. Ông là mẫu nhà thơ tài tử, thích mới làm. Ông chơi thơ một cách sang trọng chứ không phải chơi tạp…

- Với tư cách một người làm nghề, ông có thể nhận định như vậy. Nhưng với tư cách độc giả thì ông thấy thế nào? Vì xem chừng thơ của ông và thơ cụ Quách cũng lại thuộc hai dòng khác nhau?

+ Nói thật, với tư cách độc giả mình cũng không thích lắm đâu. Mình trọng ông, quý ông vì có những câu “tử vì đạo”, nhưng thơ… cổ thế, cũng khó mà thích mãi được thật. Ngay cũng làm thơ Đường luật nhưng thơ Đường luật của Hàn Mặc Tử mình vẫn thích hơn vì nó mới hơn.

- Ông nghĩ thế nào về độ dày của tập sách. Theo người biên soạn cho biết, sắp tới sẽ xuất bản “Toàn tập thi ca Quách Tấn” gồm tới trên 2000 bài. Liệu số lượng như thế có hơi “quá” với sức tiếp nhận của độc giả không?

+ Ông Quách Giao, người biên soạn cuốn sách này là con trai cụ Quách Tấn nên ông muốn chọn cho thân phụ mình bao nhiêu bài là quyền của ông ấy, chúng ta nên tôn trọng. Nhưng theo tôi nghĩ nên khảo sát tâm lý độc giả để chọn lựa sao cho vừa. Nhất là với những người nổi tiếng như Quách Tấn thì việc chọn lựa càng phải kỹ càng hơn.
 

Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng (Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Định): “Đó là hồn xưa của Bình Định…”

- Là Chủ tịch Hội Văn nghệ của một tỉnh từng sản sinh ra các cây đại thụ của thi ca Việt Nam hiện đại như: Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên… ông có thể cho biết ảnh hưởng của Quách Tấn đối với anh em văn nghệ sĩ quê nhà và vị trí riêng biệt của ông so với các bậc cự phách nói trên?

+ Theo mình, tuy mỗi người mỗi vẻ nhưng đó đều là hồn xưa của Bình Định. Riêng với Quách Tấn, có thể nói đó là một nhân vật mà ở Bình Định nhắc tới là nhiều người biết. Ngoài thơ, ông còn được xem là một nhà văn hóa. Những cuốn biên khảo của ông như “Nước non Bình Định” là chiếc chìa khóa giúp du khách hiểu thêm về vùng đất này.

- Nhưng còn phần thơ? Liệu đến nay cụ Quách có rơi vào tình trạng để anh em trẻ phải “kính nhi viễn chi” không? Và cá nhân ông, ông có thường xuyên đọc lại thơ Quách Tấn và mỗi lần đọc có cảm thấy “mệt”?

+ Mình chưa bao giờ đọc thơ Quách Tấn mà cảm thấy mệt cả. Vả chăng, với thơ Quách Tấn, mình hiểu là không phải lúc nào đọc cũng “vào” và lúc nào cũng tiếp cận được. Nếu không có một tâm thế nào đấy thì không nên đọc lại.

Quách Tấn có đặc điểm là rất trung thành với một vài thể loại. Dường như ông chỉ viết cho chính mình mà ít để ý tới độc giả. Thơ Đường của ông hay nhưng mình cũng thích thơ lục bát của ông, như những câu sau: “Một mai ba tấc đất vùi/ Trần gian gửi lại nụ cười cho hoa”.

- Hẳn cuốn “Quách Tấn – tuyển tập thơ” là cuốn hợp tuyển qui mô nhất về thơ Quách Tấn từ trước tới nay. Vậy ít nhiều Hội Văn nghệ Bình Định có hỗ trợ gì không?

+ Thú thật, tuy nhà thơ Quách Tấn là cậu đằng vợ mình, nhưng đến nay mình cũng chỉ nghe nói chứ đã có cuốn này đâu. Anh Quách Giao hiện ở Nha Trang, sách anh ấy tự làm lấy hết. Về mặt tư liệu mình rất tin anh Giao vì anh ấy vốn là nhà nghiên cứu. Những di cảo của cha, anh ấy giữ rất cẩn thận. Giống như cụ thân sinh, anh ấy cũng có “máu biên khảo” mà.

(Báo Văn nghệ Công an số 162, ngày 20-8-2007).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm