TIN TỨC

Sách nặng, hồn thanh nhẹ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-11 16:44:13
mail facebook google pos stwis
2000 lượt xem

PHẠM KHẢI

(Đọc "Quách Tấn - Tuyển tập thơ", Nxb Hội Nhà văn, 2006)

Có một hiện tượng tuy ít người nói ra song đã và đang trở nên phổ biến trong đời sống văn nghệ: ấy là việc một số tác giả rất được người đời biết tiếng nhưng khi hỏi đến tác phẩm thì đa phần lại chỉ nhớ… lơ mơ!

Tất nhiên, để xảy tình trạng này có nhiều lý do, trong đó có những lý do nằm ngoài phạm vi tài năng của chính tác giả.

Như bao người yêu thơ khác trên đời, tôi biết đến nhà thơ Quách Tấn chủ yếu nhờ vào phần được trích tuyển trong “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh- Hoài Chân. Từ bấy đến nay, đây đó trên báo chí tôi cũng được đọc thêm một số bài thơ nữa của ông, song xem ra sự tiếp xúc ấy cũng chỉ là “tạm bợ”.

Tôi hiểu, ngoài tôi còn không ít đồng nghiệp cũng chỉ biết về sự nghiệp thi ca của Quách Tấn một cách manh mún, hoàn toàn không tương xứng với sức nặng mà cái tên của ông đã gợi lên trong đời sống văn học mấy chục năm qua.

Cho đến một ngày, tôi và nhiều độc giả có được cuốn “Quách Tấn - tuyển tập thơ”…

Sinh thời, Quách Tấn bị xem là người “không có duyên trong việc xuất bản” nên việc phổ biến văn thơ của ông “rất hạn hẹp” (lời người biên soạn).

Bởi vậy, với độ dày ngót 800 trang in, tập hợp tới hơn 500 bài (tương đương với “Toàn tập thơ” của Xuân Diệu), lại được tuyển lựa từ tất cả các tập thơ đã hoàn tất của tác giả, ta có thể khẳng định ngay rằng, đây là hợp tuyển thơ đồ sộ nhất của Quách Tấn từ trước tới nay.

Bạn đọc tiếp tục được thưởng thức lại trong cuốn sách này những câu thơ hay, đầy mỹ cảm mà cả hai nhà nghiên cứu phê bình văn học Vũ Ngọc Phan và Hoài Thanh đã từng tấm tắc ngợi khen như “Gió vàng cợt sóng sông chau mặt/ Mây trắng vờn cây núi bạc đầu/ Dìu dặt tiếng ve còn vẳng đấy/ Vội vàng cánh nhạn rủ về đâu” (bài “Cảm thu”) và “Tình cũng lơ mà bạn cũng lơ/ Bao nhiêu khăng khít bấy ơ hờ/ Sầu mang theo lệ khôn rơi lệ/ Nhớ gởi vào thơ nghĩ tội thơ…” (bài “Trơ trọi”).

Đặc biệt, có những thi phẩm mà tác giả của “Nhà văn hiện đại” và “Thi nhân Việt Nam” chỉ bình, trích đôi câu, bạn đọc sẽ được tiếp cận trọn bài trong cuốn tuyển thơ này.

Các tập “Một tấm lòng”, “Mùa cổ điển” (từng làm nên thương hiệu của tác giả thời kỳ trước Cách mạng) và “Đọng bóng chiều”, “Mộng Ngân Sơn”, “Giọt trăng” (giúp nhà thơ neo đậu tên tuổi trong lòng bạn đọc những ngày hai miền cắt chia) cùng một vài tập thơ lẻ xuất bản cách đây ít năm sẽ góp cho bạn đọc một cách nhìn tương đối hoàn chỉnh về chân dung nhà thơ Quách Tấn.

So với những bạn thơ của nhóm “Bàn Thành tứ hữu” (có nghĩa là “Bốn người bạn ở đất Thành Bàn”- tức Quy Nhơn), gồm Quách Tấn, Chế Lan Viên, Yến Lan và Hàn Mặc Tử thì Quách Tấn là người… thọ nhất (ông mất năm 1992, khi đã 83 tuổi).

Tuy nhiên, Quách Tấn cũng lại là người có phong cách ổn định, giọng thơ ít thay đổi hơn cả. Nếu như với Hàn Mặc Tử, từ những bài thơ Đường luật “ngay ngắn trang nghiêm” viết lúc còn thiếu niên đến những bài thơ đầy ngẫu hứng và tung phá trong “Máu thơm và hồn điên” là cả một diễn biến tâm lý phức tạp thì ở Quách Tấn không hề có hiện tượng như vậy.

Nếu như vào những năm ba mươi (của thế kỷ trước) ông từng viết: “Sương buông màn lượt phủ bao la/ Non nước chìm sâu trong giấc mơ/ Cung quế im lìm mây ấp nguyệt/ Song đào âu yếm gió hôn hoa” thì 50 năm sau, ông vẫn viết: “Sông sâu thắm đậm bóng non chiều/ Ăm ắp bờ lau ngập tiếng tiêu/ Thuyền ngược nước thu mây nặng nặng/ Sư về am vắng gió hiu hiu”.

Không ai nhìn thấy dấu vết thời gian giữa hai khổ thơ nói trên. Với Quách Tấn, thơ ca như một giấc mơ dài mà suốt cả một đời ông vẫn chưa qua hết.

Một đôi nhà phê bình cự phách đã nhận xét, trong việc làm thơ, Quách Tấn quá chú trọng tới việc gọt câu tỉa chữ. Họ cho rằng như vậy là “già nhân tạo, át thiên chân” và điều đó dẫn tới việc thơ Quách Tấn có thể “ngâm ngợi cho sướng tai” chứ ít có sức lay động tâm can.

Đọc “Quách Tấn - tuyển tập thơ”, tôi không hoàn toàn tán thành ý kiến trên song cũng nhận thấy rằng, với những thể thơ cũ như ngũ ngôn, lục bát, thất ngôn bát cú, tứ tuyệt… (tác giả hầu hết chỉ dùng mấy thể thơ này) mà kéo dài cả tập tới 7-8 trăm trang quả là một sự “nắn gân” độc giả.

Tất nhiên, ta cũng cần phải hiểu, một nhà thơ dù tài ba đến đâu cũng khó mà trở thành “cây đàn muôn điệu” được. Khi sáng tác mỗi người một “tạng”. Vấn đề là làm sao khai thác được đến nơi đến chốn cái “tạng” của mình.

Trong “Quách Tấn - tuyển tập thơ”, còn có một phần rất có ý nghĩa đối với các nhà nghiên cứu văn học sử, đó là những trích đoạn hồi ký của Quách Tấn cùng các bài tựa, bạt, đánh giá nhận xét của bạn bè, đồng nghiệp đối với sự nghiệp thơ ca của ông (phần này chiếm tới non nửa cuốn sách).

Thật thú vị khi ta được tiếp cận với Tản Đà qua bài tựa “Một tấm lòng”, với Hàn Mặc Tử qua lời bạt (cũng dùng cho tập thơ nói trên); với Chế Lan Viên qua lời tựa cho “Mùa cổ điển”…

Tất cả đều thể hiện một thái độ tôn trọng đối với những nỗ lực “làm mới lại các thể thơ cổ điển” của tác giả khi ấy tuổi đời còn trẻ. Chỉ tiếc là cũng ở phần “đọc thêm” này, người đọc đã gặp phải những hạt sạn. Ấy là khi người biên soạn đưa vào tập sách bài viết có tiêu đề “Trách nhiệm của tuổi trẻ Việt Nam đối với Quách Tấn” của tác giả Phạm Công Thiện, với nhận định “Quách Tấn là thi hào vĩ đại nhất ở thế kỷ 20”.

Được biết, sinh thời Quách Tấn là người “biết người biết ta”, và ngay trong cuốn sách này ông cũng đã đưa ra tuyên bố: “Tôi được một chút địa vị tử tế trên đàn thơ là do “Mùa cổ điển” và nhờ công của Chế Lan Viên và Hoài Thanh”. Việc đặt những lời này của ông bên cạnh lời xưng tụng… bốc giời nói trên quả thật là hơi… phản cảm.

***
 

Nhà thơ Ngô Văn Phú: “Ông chơi thơ một cách sang trọng…”

- Là người có khuynh hướng… phục cổ, lại được tiếng “chịu đọc” các bậc tiền nhân, hẳn Quách Tấn cũng là trường hợp mà ông quan tâm?

+ Không chỉ quan tâm mà còn phải… học. Khi còn ngồi trên giảng đường đại học (hồi đầu những năm 60) tôi vẫn nghe các thầy nhắc đến tên Quách Tấn trong giáo trình. “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh chẳng đã chọn của ông rất nhiều, tới 9 bài, hơn cả Chế Lan Viên và Nguyễn Bính. Trong thơ ông này, “Mùa cổ điển” là tập tôi thích nhất.

- Ông có thể nhắc đến một số bài mà ông tâm đắc?

+ Không! Thơ ấy hơi… cổ, phải giở sách ra tôi mới nhớ được. Nhưng nói đến đội ngũ làm thơ Đường luật, không mấy người bén gót được ông đâu. Ông là mẫu nhà thơ tài tử, thích mới làm. Ông chơi thơ một cách sang trọng chứ không phải chơi tạp…

- Với tư cách một người làm nghề, ông có thể nhận định như vậy. Nhưng với tư cách độc giả thì ông thấy thế nào? Vì xem chừng thơ của ông và thơ cụ Quách cũng lại thuộc hai dòng khác nhau?

+ Nói thật, với tư cách độc giả mình cũng không thích lắm đâu. Mình trọng ông, quý ông vì có những câu “tử vì đạo”, nhưng thơ… cổ thế, cũng khó mà thích mãi được thật. Ngay cũng làm thơ Đường luật nhưng thơ Đường luật của Hàn Mặc Tử mình vẫn thích hơn vì nó mới hơn.

- Ông nghĩ thế nào về độ dày của tập sách. Theo người biên soạn cho biết, sắp tới sẽ xuất bản “Toàn tập thi ca Quách Tấn” gồm tới trên 2000 bài. Liệu số lượng như thế có hơi “quá” với sức tiếp nhận của độc giả không?

+ Ông Quách Giao, người biên soạn cuốn sách này là con trai cụ Quách Tấn nên ông muốn chọn cho thân phụ mình bao nhiêu bài là quyền của ông ấy, chúng ta nên tôn trọng. Nhưng theo tôi nghĩ nên khảo sát tâm lý độc giả để chọn lựa sao cho vừa. Nhất là với những người nổi tiếng như Quách Tấn thì việc chọn lựa càng phải kỹ càng hơn.
 

Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng (Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Định): “Đó là hồn xưa của Bình Định…”

- Là Chủ tịch Hội Văn nghệ của một tỉnh từng sản sinh ra các cây đại thụ của thi ca Việt Nam hiện đại như: Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên… ông có thể cho biết ảnh hưởng của Quách Tấn đối với anh em văn nghệ sĩ quê nhà và vị trí riêng biệt của ông so với các bậc cự phách nói trên?

+ Theo mình, tuy mỗi người mỗi vẻ nhưng đó đều là hồn xưa của Bình Định. Riêng với Quách Tấn, có thể nói đó là một nhân vật mà ở Bình Định nhắc tới là nhiều người biết. Ngoài thơ, ông còn được xem là một nhà văn hóa. Những cuốn biên khảo của ông như “Nước non Bình Định” là chiếc chìa khóa giúp du khách hiểu thêm về vùng đất này.

- Nhưng còn phần thơ? Liệu đến nay cụ Quách có rơi vào tình trạng để anh em trẻ phải “kính nhi viễn chi” không? Và cá nhân ông, ông có thường xuyên đọc lại thơ Quách Tấn và mỗi lần đọc có cảm thấy “mệt”?

+ Mình chưa bao giờ đọc thơ Quách Tấn mà cảm thấy mệt cả. Vả chăng, với thơ Quách Tấn, mình hiểu là không phải lúc nào đọc cũng “vào” và lúc nào cũng tiếp cận được. Nếu không có một tâm thế nào đấy thì không nên đọc lại.

Quách Tấn có đặc điểm là rất trung thành với một vài thể loại. Dường như ông chỉ viết cho chính mình mà ít để ý tới độc giả. Thơ Đường của ông hay nhưng mình cũng thích thơ lục bát của ông, như những câu sau: “Một mai ba tấc đất vùi/ Trần gian gửi lại nụ cười cho hoa”.

- Hẳn cuốn “Quách Tấn – tuyển tập thơ” là cuốn hợp tuyển qui mô nhất về thơ Quách Tấn từ trước tới nay. Vậy ít nhiều Hội Văn nghệ Bình Định có hỗ trợ gì không?

+ Thú thật, tuy nhà thơ Quách Tấn là cậu đằng vợ mình, nhưng đến nay mình cũng chỉ nghe nói chứ đã có cuốn này đâu. Anh Quách Giao hiện ở Nha Trang, sách anh ấy tự làm lấy hết. Về mặt tư liệu mình rất tin anh Giao vì anh ấy vốn là nhà nghiên cứu. Những di cảo của cha, anh ấy giữ rất cẩn thận. Giống như cụ thân sinh, anh ấy cũng có “máu biên khảo” mà.

(Báo Văn nghệ Công an số 162, ngày 20-8-2007).

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm