TIN TỨC

Tết Cồn Cù nhớ… lân ky!

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-06 19:42:35
mail facebook google pos stwis
1964 lượt xem

TRẦN DŨNG

“Lân ky” không chỉ mang đến cho Cồn Cù một phong vị Tết kháng chiến độc đáo mà nó còn trở thành niềm tự hào của các thế hệ cư dân địa phương.

Xuân này theo chân mấy anh bạn cũ, tôi có dịp trở về đón Tết ở Cồn Cù sau gần ba mươi năm xa cách. Những đầu tư kết cấu hạ tầng của Nhà nước nhằm phát triển vùng kinh tế trọng điểm ven biển đã từng bước làm đổi thay diện mạo kinh tế - xã hội và đời sống người dân vùng căn cứ kháng chiến năm nào.

Chiếc cầu bê-tông vĩnh cửu thuộc loại lớn và đẹp nhất Trà Vinh, được chiếu sáng bởi hai hàng đèn cao áp, như vầng trăng non khổng lồ vắt ngang sông Long Toàn lịch sử, kéo dài Quốc lộ 53 ra tận bờ biển, nối Cồn Cù gần hơn với thị xã Duyên Hải và thành phố Trà Vinh. Sau ba nhà máy nhiệt điện, giờ những công trình điện mặt trời, điện gió hối hả mọc lên chuyển dần sang công nghệ tiên tiến của ngành năng lượng tái tạo, không gây ô nhiễm môi trường. Ngày đêm, trên Quốc lộ 53, đủ chủng loại xe cộ nối đuôi nhau vận chuyển các loại vật tư nguyên liệu ngành công nghiệp năng lượng ngược đường với hàng nông thủy sản, như vận chuyển cả niềm vui của bà con. Hai bên đường, đường dây cao thế, trung thế, hạ thế, dây điện thoại giăng ngang, mắc dọc tạo ra thế vững chãi cho bố cục của bức tranh xuân miền ven biển. Tỷ lệ nhà cơ bản, bán cơ bản lên đến hơn chín mươi phần trăm là hệ quả tất yếu của việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ nghề muối truyền thống sang nuôi thủy sản và các loại dịch vụ khác. Trong dạt dào niềm vui, bên ly rượu nồng ấm nghĩa tình, câu chuyện xoay dần về với những kỷ niệm ngày xưa, vất vả cùng chiếc ky gánh muối…

Nghề muối đã làm cho đời sống người dân Cồn Cù gắn chặt với chiếc ky. Thực ra, người ta cũng không thể làm ra hột muối nếu không có chiếc xa quạt nước, chiếc trang cào… Nhưng xa quạt chỉ cần cho người chủ ruộng còn trang cào thì mỗi gia đình làm muối chỉ cần sắm một vài chiếc cũng đã là quá đủ. Trong khi đó, mỗi lao động làng muối - dù là chủ hay bạn - đều phải có cặp ky và chiếc đòn gánh. Nhà càng nhiều lao động thì càng nhiều ky, không ít gia đình có đến năm, bảy cặp ky. Gánh muối bằng ky tiện lợi hơn bằng thúng bởi ky dễ xúc, dễ đổ lại mau rỏ nước. Khác với những nơi khác, ky Cồn Cù rất đều nhau và có kích cỡ duy nhất là khoảng hai mươi lăm, hai mươi bảy lít, để mỗi gánh là một giạ “phủ bì” chắc ăn. Ky đã trở thành đơn vị đo lường duy nhất để xác định năng suất, sản lượng cũng như trong trao đổi, mua bán của nghề muối Cồn Cù trong suốt dọc dài lịch sử làng nghề.

Trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, Cồn Cù nói riêng và “Trường Long Hòa sắt thép” (khi ấy Cồn Cù là một ấp của Trường Long Hòa, sau tách ra thành lập xã Dân Thành) nói chung là căn cứ địa vững chắc của nhiều cơ quan, đơn vị vũ trang cách mạng tỉnh Trà Vinh và huyện Duyên Hải. Không chỉ vậy, Trường Long Hòa còn là một trong những mắc xích quan trọng, là bến tiếp nhận, lưu kho, phân phối một số lượng lớn vũ khí, trang thiết bị chiến tranh mà hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho chiến trường đồng bằng sông Cửu Long theo tuyến đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển. Do vậy, từ Vùng IV chiến thuật cho đến Tiểu khu Vĩnh Bình, Chi khu Long Toàn, Chi khu Long Khánh… đều xem đây là mục tiêu tự do tác xạ, tự do oanh kích. Ba trận địa pháo từ Long Toàn, Long Khánh và từ Hạm đội Bảy của Mỹ túc trực trên Biển Đông cứ thay nhau cấp tập nhả đạn vô tội vạ, bất kể ngày hay đêm. Các loại máy bay chiến đấu đến phản lực, pháo đài bay B52… ngày đêm rình rập, sẵn sàng oanh kích bằng bom tấn, bom rải thảm, bom napalm… vào bất cứ mục tiêu nào được xem là tín hiệu sự sống của con người, dù là nhỏ nhất. Trên đường đi bắn phá, ném bom mục tiêu nào đó trở về, nếu còn bom đạn không sử dụng hết, chúng sẵn sàng “tặng không” một cách hào phóng cho vùng đất Cồn Cù. Mỗi khi hành quân càn quét vào đây, các đơn vị từ chủ lực, biệt kích đến bảo an luôn được “quán triệt tư tưởng” giết sạch, đốt sạch, phá sạch. Để sống và chiến đấu chính nơi kẻ thù ra sức hủy diệt, người dân Trường Long Hòa phải làm nhà âm vào lòng cát. Mọi sinh hoạt trên mặt đất chỉ diễn ra vào ban đêm.

Dưới sự hủy diệt của kẻ thù, Trường Long Hòa như bị băm nát. Gần trăm nóc nhà ở Cồn Cù không còn được vật dụng gì đáng giá nguyên vẹn, đến chiếc lu sành chứa nước ngọt lành lặn cũng không. Nhưng những chiếc ky vẫn hiên ngang tồn tại, thấm đẫm vị mặn của muối, của mồ hôi và cả máu người. Đêm, ky ra đồng gánh muối. Ngày, ky vào nhà âm cùng người nghỉ ngơi. Có thể nói, với người dân Cồn Cù những năm đó, chiếc ky là một phần của cuộc sống, của tâm hồn. Mà không chỉ ở thời điểm đó, ngày nay, dù đã khá giả với nghề nuôi tôm, nhiều gia đình ở đây vẫn trân trọng treo cặp ky ở góc nhà như một hoài niệm về quá khứ cơ cực mà hào hùng.

Dưới sự hủy diệt của kẻ thù, Trường Long Hòa vẫn bền bỉ một sức sống mãnh liệt. Dưới những ngôi nhà âm trong lòng cát, người ta vẫn bình thản sinh sống, bình thản cưới xin, bình thản sanh con đẻ cái, bình thản mở trường dạy học… Và, theo dòng tuần hoàn của thời gian, cứ đông tàn thì mùa xuân lại đến, bất chấp những khắc nghiệt của cuộc sống.

Bất ngờ, sáng mồng Một Tết năm Kỷ Dậu - 1969, cả ấp Cồn Cù vang động nhịp trống lân. Từ phía cuối giồng, một đoàn lân xuất hiện kéo theo đám trẻ con reo hò ầm ĩ, dần dần kéo luôn cả những người lớn tuổi rời khỏi nhà âm, nôn nả đón nàng xuân phơi phới như chưa hề có sự hủy diệt của chiến tranh. Lạ lùng thay, “trống lân” là những chiếc xoong, cái thau đã bung vành, hở bụng. “Đuôi lân” là chiếc cửa màn của đôi trai gái mới cưới nhau hồi trong năm. “Đầu lân” là chiếc ky gánh muối mới được bồi thêm mấy lớp giấy đủ màu vui mắt, có cả râu, cả miệng, cả mắt… Chiếc ky cùng con người cực nhọc ngày nào bỗng hóa thân thành niềm vui đón xuân trên vùng đất Cồn Cù đầy lửa đạn chiến tranh. Người cầm trống cứ tha hồ gõ nhịp một cách tùy thích. Vũ điệu của lân cũng là cảm hứng bất chợt của mấy thanh niên trong xóm chưa một lần được ai hướng dẫn, chỉ bảo. Thậm chí, nhiều chú, nhiều anh có tuổi sau năm ba ly rượu đón xuân cao hứng nhảy vào giành lấy đầu lân. “Lân ky” là sáng kiến của anh thương binh Ba Én - một cán bộ đại đội thuộc Tiểu đoàn 501 bộ đội địa phương tỉnh Trà Vinh, sau nhiều lần vào sanh ra tử được đơn vị cho về dưỡng thương tại Cồn Cù. Trong cuộc tập kích chiến lược Xuân Mậu Thân, chiến sĩ Ba Én cùng Tiểu đoàn 501 là đơn vị chủ công tiến công thọc sâu vào nội ô Trà Vinh. Giữa mưa bom bão đạn, bất ngờ anh nhận ra bên vệ đường Hàng me, nằm lăn lóc một chiếc đầu lân, mà chắc đoàn lân nào đó đang biểu diễn phục vụ người dân thì chiến sự ập đến, vội “bỏ của chạy lấy người”. Sau khi bị thương trở về căn cứ, hình ảnh chiếc đầu lân nằm lăn lóc khiến Ba Én nhiều đêm mất ngủ, với nghĩ suy làm sao mang niềm vui tương tự đến cho bà con vùng giải phóng.

Và, đoàn “lân ky” Cồn Cù ra đời từ những đêm dài thao thức đó!

Sau ba ngày vui chơi sôi nổi khắp xóm dưới làng trên, đoàn “lân ky” Cồn Cù trở nên “giàu có”. Những tặng phẩm như dưa hấu, bánh tét, mứt gừng… của các gia đình được “lân ky” đến chúc Tết đã theo chân đoàn lân mang niềm vui đến với những bà mẹ có con vừa hy sinh, những người chị có chồng đang ở chiến trường xa không thể về đón xuân, sum họp gia đình.

“Lân ky” không chỉ mang đến cho Cồn Cù một phong vị Tết kháng chiến độc đáo mà nó còn trở thành niềm tự hào của các thế hệ cư dân địa phương.

Sau ngày giải phóng, để người dân vùng căn cứ vốn chịu nhiều thiệt thòi trong chiến tranh có thêm niềm vui đón mừng xuân mới, UBND xã Dân Thành xuất tiền mua đầu lân, trống lân thật đẹp rồi lên tận thị xã Trà Vinh rước thầy về hướng dẫn thật bài bản, lớp lang. Sau gần hai tháng tập dượt, sáng mồng Một tết, đoàn lân phát pháo xuất hành đi về các ấp chúc Tết. Bất ngờ, từ phía Cồn Cù, đoàn “lân ky” xuất hiện trong nhịp xoong, nhịp chảo. Và cũng thật bất ngờ, bà con Dân Thành vẫn nhiệt tình ủng hộ đoàn “lân ky” có hình vóc thô sơ, vũ điệu hệch hạc ấy. Theo chân đoàn “lân ky”, vẫn cơ man quà tặng, nào là bánh tét, trái cây… hướng về những gia đình chính sách neo đơn. Muối mặt, đoàn lân thiệt xênh xang lân mới, trống đẹp hậm hực quay đầu.

“Lân thiệt đụng lân ky”, kỷ niệm ấy đến nay vẫn không phai mờ trong ký ức các thế hệ cư dân Cồn Cù.

Nguồn: Báo Văn Nghệ Tết Nhâm Dần.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm