TIN TỨC

Mỗi giọt máu như mặt trời

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-06-03 17:39:12
mail facebook google pos stwis
2210 lượt xem

 

Vũ Tuấn

Theo dòng ký ức, tôi nhớ lần đầu tiên đọc thơ của nhà thơ Võ Tấn Cường trên tập san Văn hóa Văn nghệ huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang năm 1988. Năm tôi bước vào học cấp ba, cũng là lúc tập tễnh làm thơ, mở tờ báo ra là tìm ngay trang thơ, thói quen này còn theo tôi đến giờ.


Nhà văn Võ Tấn Cường.

Bài thơ “Đêm đồng sen”, có hai câu kết dễ nhớ, vì nó đánh trúng tâm trạng tôi, năm đó tôi có một mối tình đầu vừa tan vỡ sau phút hào nhoáng ngây thơ của tuổi học trò, đã để lại tâm hồn mình dư âm buồn khôn xiết, một dư chấn yêu thương còn run rẩy như tờ giấy trắng lấm mực không cách gì bôi xóa…

Câu thơ như mối duyên nợ “chở khẳm” tình cảm của tôi và anh tới nay, chắc chắn còn “khẳm” thêm cho tình yêu thơ ca bao la về sau…

“Nếu vắng em đồng không trời trống
Xuồng anh chở khẳm nỗi niềm thương”

Đồng điệu về tâm trạng, câu thơ neo lại hồn tôi. Chính vì nó đã biến hóa tài tình thành chiếc xuồng ”tâm thức” chuyên chở nỗi nhớ niềm thương cho tất cả những ai đã yêu, đang yêu, sẽ yêu nên không bao giờ chìm khuất trong cái biển ngôn từ mênh mông ám ảnh. Lạ là chỉ một từ “khẳm” mà ấn tượng dai dẳng quá.

Và mấy chục năm sau chữ “khẳm” lại quay về trong thơ của Võ Tấn Cường, chuyên chở một cảm thức khác, không kém phần xa xót:

“Con tàu thời gian chở khẳm niềm đau
Miền giá lạnh đời em chờ anh ga cuối?”
(Thèm say)

Không chỉ chở nặng cảm xúc thơ, tâm hồn đa cảm của nhà thơ còn chở nặng bao nhiêu tình ý cuộc đời chất chứa trong hành trình sáng tạo, không bao giờ còn có thể kịp khai phá trên con tàu thời gian lao vùn vụt…

Thơ ca, hay chính xác là ngôn ngữ thơ ca có sức quyến rũ, cuốn hút kỳ lạ. Nó mê hoặc và làm thăng hoa cảm xúc người đọc, qua trái tim và ngòi bút như “cây gậy” quyền uy có khả năng “điều binh khiển tướng” của nhà thơ. Nó vượt thoát tầm kiểm soát, mang về cho nhà thơ những “thắng lợi” tinh thần ngoài mong đợi…

Qua nhà thơ Võ Tấn Cường tôi biết và làm quen nhiều nhà thơ đàn anh ở Mỹ Tho như: Lê Ái Siêm, Nguyễn Thạnh, La Quốc Tiến, Nguyễn Chi… Bây giờ, trong các anh có người đã gánh thơ thong dong về miền mây trắng… như La Quốc Tiến, Nguyễn Chi. Còn lại anh em làm thơ chúng tôi phải chịu “cuộc lưu đày xứ mộng” (“Nhà thơ và cuộc lưu đày xứ mộng”, tập tiểu luận phê bình của nhà thơ Võ Tấn Cường) không biết đến bao giờ?

Riêng nhà thơ Võ Tấn Cường là người luôn gần gũi, gắn bó, chia sẻ thân tình trao đổi nhiều về công việc sáng tác đối với tôi.

Tôi có đủ năm tập thơ của anh, từ tập đầu tay: “Cánh thời gian” đến tập thơ xuất bản gần đây là “Ru giọt máu” và hai tập tiểu luận phê bình anh tặng mỗi dịp xuất bản. Nếu chọn đọc để “khám phá cơ chế sáng tạo” như ý anh đã viết thì tôi chọn đọc cả hai mảng. Nếu chọn một để thưởng thức, tìm cái chất, cái vẻ đẹp nhân văn mang chiều sâu nội tâm thì tôi chọn thơ. Suy cho cùng, khám phá tâm hồn nhà thơ cũng không gì khác hơn là khám phá tác phẩm nhà thơ sáng tạo để dâng tặng cuộc đời…


Tập thơ “Ru giọt máu” của Võ Tấn Cường.

Có lần ghé thăm nhà văn Trang Thế Hy ở Bến Tre, ông nhắn nhủ đôi điều về công việc viết lách, tôi đã ghi vào sổ tay của tôi: ”Đừng ngại sự bắt chước, miễn là bắt chước có sáng tạo”. Đôi lúc, tôi cứ nghĩ theo cách của mình thật ra, công việc sáng tác với các nhà văn có thể nói là một sự bắt chước “vĩ đại”, nếu không bắt chước hiện thực cuộc đời, bắt chước cách nói, cách nghĩ của xã hội loài người, nhà văn có được bao nhiêu vốn sống để viết? Điều ₫ó nói lên rằng sức sống của ngôn ngữ thật kỳ lạ!

Ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ của thơ ca có lẽ giống triết lý “một trong tất cả, tất cả trong một” chăng? Ngôn ngữ là của chung nhưng ta lại có quyền xác lập một “bản quyền” bất khả xâm phạm khi sáng tạo nó theo cách riêng của mình? Nhà văn – anh “sáng tạo” đúng nghĩa được bao nhiêu phần trăm? Câu hỏi này luôn truy vấn tôi trong suốt quá trình làm thơ, để nhắc nhở mình “tỉnh táo” trước cơn say bốc đồng ngôn ngữ dễ ngộ nhận…

Một chữ “khẳm” khi đọc thơ của Võ Tấn Cường từ những ngày đầu biết yêu, tập tễnh làm thơ, rồi găm trong tiềm thức của mình, bất chợt một hôm nó bay vào câu thơ tôi đang viết:

“Mênh mang gió lộng sông Tiền
Ru say búp nõn giữa miền phù sa
Xuồng ai chở khẳm lời ca
Chòng chành giai điệu bay qua cánh đồng!”
(Giai điệu phù sa – Vũ Tuấn)

Nói vậy để thấy rằng sự cảm ứng đồng điệu trong ngôn ngữ thơ ca là có thật!

Với ý thức sáng tạo gần như thiên bẩm, nhà thơ Võ Tấn Cường không chấp nhận nép mình dù phải bay trên đôi ”Cánh thời gian”. Ngay từ tập thơ thứ hai: “Gọi xanh”, anh đã mở lối đi mạnh mẽ cho thơ bằng lối viết tự do, mới mẻ, hiện đại, mạnh dạn kiếm tìm thể nghiệm với cách viết không lặp lại. Nhất là tránh sa đà vào sự ru ngủ của vần điệu khuôn sáo giết chết thơ, đa phần các nhà thơ như vướng phải bẫy rập ngôn từ không cách nào thoát ra được trên hành trình sáng tạo của mình.

Nhưng phải công nhận một điều, ở chặng đầu này anh đã lập nên “kỳ tích” với bài thơ “Cha chơi cờ” từng đoạt giải nhì cuộc thi thơ Tác phẩm tuổi xanh báo Tiền phong năm 1991.

Bài thơ viết theo thể ngũ ngôn truyền thống, khi đó được anh đọc nghe vài lần tôi đã thuộc. Đến giờ này anh đã in năm tập thơ, có nhiều bài thơ hay, tôi chưa thấy có bài thơ nào vượt qua và tỏa sáng hơn?! Tôi tin bài thơ này chính là điểm nhấn làm nên thương hiệu thơ Võ Tấn Cường. Bài thơ mượn hình ảnh cha chơi cờ để nói lên tâm trạng thời đại nhiều ẩn ý.

Nhà thơ, nhà phê bình văn học Hồ Thế Hà đã có bài bình và phân tích rất hay, sâu sắc, tôi chỉ xin chép lại từ trí nhớ của mình ngõ hầu thêm lần gởi đến bạn đọc sự trọn vẹn của một bài thơ hay:

“Cha nhặt tờ lịch cũ
Cánh thời gian rụng rơi
Cha vấn điếu thuốc cũ
Thời gian cháy ngậm ngùi
Cha chơi trận cờ tàn
Đóng hai phe chiến bại
Tướng sĩ thiếu đường chạy
Xe pháo liều chống càn
Tàn trận tướng sĩ lật
Nằm lăn lóc góc nhà
Con tốt trong tay cha
Hóa người hùng cô độc
Cha dọn lòng chôn cất
Bao héo hon tuổi già
Cờ không thể giải mã
Nỗi tủi hờn đời cha.”

Như tất cả các nhà thơ của chúng ta, nhà thơ Võ Tấn Cường cũng “chuyên chế” một loại “biệt dược” đó là thơ tình. Thơ tình của nhà thơ Võ Tấn Cường ba phần đắm say hai phần tỉnh táo. Anh đưa người đọc vào mê lộ tình yêu bằng ngôn ngữ của con tim thiêm thiếp đắm say nhưng luôn được đánh thức bằng cây gậy quyền năng lý trí:

“Mắt em trời thẳm linh thiêng
Tôi bơi vượt thoát bóng đêm hãi hùng
Mắt em hố thẳm không cùng
Tôi rơi vào khoảng lạnh lùng trống không”.
(Mắt em)

Cái nhìn của nhà thơ thật khác lạ. Nếu như với người mình yêu thì đôi mắt là cửa sổ tâm hồn cho ta thả vào đó con thuyền tình ái nồng nàn như nhà thơ Lưu Trọng Lư viết:

“Mắt em là một dòng sông
Thuyền anh bơi lội giữa dòng mắt em”

Thì nhà thơ Võ Tấn Cường lại như người bơi lướt qua nhanh nhanh để vượt thoát sự cám dỗ ấy, rồi như người quá tỉnh táo anh dặn mình hãy cảnh giác với đôi mắt ấy!

Phải chăng thiên hướng nghệ thuật của nhà thơ phát lộ từ cái nhìn đó, nên khi viết về tình yêu anh vẫn còn “lạnh“ và lý trí hơn nữa:

“Em – giọt thủy ngân
Mang hình hài trái tim
Mang gương mặt diều hâu
Biến ảo
Phù phép
Vỡ nụ cười chan nước mắt”
(Chân dung thủy ngân)

Tâm thức nhà thơ là một loại mật ngữ vừa như đóng kín vừa như mở ra vô tận, ta vừa như nắm bắt trọn vẹn vừa như hụt hẫng, cảm giác mông lung đưa ta vào hành trình đồng sáng tạo với nhà thơ như không bao giờ kết thúc. Theo tôi, đó chính là sự thành công của nhà thơ. Bởi nếu ta truy vấn nhà thơ thì lúc ấy tác giả cũng chỉ còn biết cách trả lời ta bằng cách trỏ cho ta một lối đi khác nhiều mê hoặc hơn mà thôi…

“Ru người
Máu chảy về tim
Ru ngày êm ả
Ru đêm yên bình
Ru môi nồng thắm hồi sinh
Nụ hôn say đắm để dành mùa yêu
Ru người
Trọn giấc phiêu diêu
Lặng thinh giọt máu
Trăm điều bão giông…
Mơ hoang ru mặt trời hồng
Đẹp như giọt máu…bềnh bồng đáy tim”.
(Ru giọt máu)

Mơ hoang… Ôi! Cảm ơn phút mơ hoang phiêu hốt này, nhà thơ Võ Tấn Cường đã mang được ngọn lửa vũ trụ là mặt trời hồng vào trái tim mình. Thắp sáng con đường thơ, thắp sáng con đường tình, thắp lên trong ta niềm khát khao hy vọng…

Mỗi giọt máu là một mặt trời hồng. Tôi tin đây chính là thông điệp của nhà thơ Võ Tấn Cường gửi đến mọi người.Tôi tin đây là cánh cửa chính mở ra phía chân trời sáng tạo của thơ ca… “Ru giọt máu” là ẩn dụ nghệ thuật về niềm tin yêu cuộc đời, là bài ca lẽ sống cô đúc trong thể thơ lục bát ngắn gọn mà “trăm điều bão giông.” Bởi cuộc đời rộng lớn ngoài kia chỉ có hình tượng nghệ thuật đặc sắc mới có thể ôm chứa nổi, mới có thể cắt nghĩa được. Đấy là sức mạnh của ngôn từ, thăng hoa qua tâm thức sáng tạo của nhà thơ!

Tình yêu – thi ca – nghệ thuật của một nhà thơ chỉ có một bản chính. Bạn đọc khi tiếp cận có quyền nhân bản nó theo cách cảm, cách hiểu của mình. Không làm nó nhòe mờ mà còn làm phong phú thêm, thú vị thêm…

Tôi không rõ đường tình của nhà thơ Võ Tấn Cường nhưng đọc thơ anh, tôi tin anh trước “ải tình” – mà không mấy kẻ can đảm vượt qua – nhà thơ của chúng ta lại mỉm cười như nhìn rõ “chân tướng” đối phương?

Dù có thể đó không phải tâm trạng cá nhân anh, bởi khi sáng tạo nhà thơ đã hóa thân, tan chảy vào nhịp điệu sôi động của cuộc đời… Tôi vẫn cho đây là một góc nhìn đa diện về tình yêu, của một tâm hồn biết đặt con mắt tỉnh táo bên trái tim đa cảm. Không cần cảnh báo ai, chỉ cần cảnh giác với chính mình bằng con mắt quán sát tinh tế, chắc chắn trên đường đời, đường tình, đường thơ của nhà thơ Võ Tấn Cường ít va vấp và hy vọng anh sẽ về đích trong tâm thế bình yên vượt thoát.

V.T

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm