TIN TỨC

Mỗi giọt máu như mặt trời

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-06-03 17:39:12
mail facebook google pos stwis
2118 lượt xem

 

Vũ Tuấn

Theo dòng ký ức, tôi nhớ lần đầu tiên đọc thơ của nhà thơ Võ Tấn Cường trên tập san Văn hóa Văn nghệ huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang năm 1988. Năm tôi bước vào học cấp ba, cũng là lúc tập tễnh làm thơ, mở tờ báo ra là tìm ngay trang thơ, thói quen này còn theo tôi đến giờ.


Nhà văn Võ Tấn Cường.

Bài thơ “Đêm đồng sen”, có hai câu kết dễ nhớ, vì nó đánh trúng tâm trạng tôi, năm đó tôi có một mối tình đầu vừa tan vỡ sau phút hào nhoáng ngây thơ của tuổi học trò, đã để lại tâm hồn mình dư âm buồn khôn xiết, một dư chấn yêu thương còn run rẩy như tờ giấy trắng lấm mực không cách gì bôi xóa…

Câu thơ như mối duyên nợ “chở khẳm” tình cảm của tôi và anh tới nay, chắc chắn còn “khẳm” thêm cho tình yêu thơ ca bao la về sau…

“Nếu vắng em đồng không trời trống
Xuồng anh chở khẳm nỗi niềm thương”

Đồng điệu về tâm trạng, câu thơ neo lại hồn tôi. Chính vì nó đã biến hóa tài tình thành chiếc xuồng ”tâm thức” chuyên chở nỗi nhớ niềm thương cho tất cả những ai đã yêu, đang yêu, sẽ yêu nên không bao giờ chìm khuất trong cái biển ngôn từ mênh mông ám ảnh. Lạ là chỉ một từ “khẳm” mà ấn tượng dai dẳng quá.

Và mấy chục năm sau chữ “khẳm” lại quay về trong thơ của Võ Tấn Cường, chuyên chở một cảm thức khác, không kém phần xa xót:

“Con tàu thời gian chở khẳm niềm đau
Miền giá lạnh đời em chờ anh ga cuối?”
(Thèm say)

Không chỉ chở nặng cảm xúc thơ, tâm hồn đa cảm của nhà thơ còn chở nặng bao nhiêu tình ý cuộc đời chất chứa trong hành trình sáng tạo, không bao giờ còn có thể kịp khai phá trên con tàu thời gian lao vùn vụt…

Thơ ca, hay chính xác là ngôn ngữ thơ ca có sức quyến rũ, cuốn hút kỳ lạ. Nó mê hoặc và làm thăng hoa cảm xúc người đọc, qua trái tim và ngòi bút như “cây gậy” quyền uy có khả năng “điều binh khiển tướng” của nhà thơ. Nó vượt thoát tầm kiểm soát, mang về cho nhà thơ những “thắng lợi” tinh thần ngoài mong đợi…

Qua nhà thơ Võ Tấn Cường tôi biết và làm quen nhiều nhà thơ đàn anh ở Mỹ Tho như: Lê Ái Siêm, Nguyễn Thạnh, La Quốc Tiến, Nguyễn Chi… Bây giờ, trong các anh có người đã gánh thơ thong dong về miền mây trắng… như La Quốc Tiến, Nguyễn Chi. Còn lại anh em làm thơ chúng tôi phải chịu “cuộc lưu đày xứ mộng” (“Nhà thơ và cuộc lưu đày xứ mộng”, tập tiểu luận phê bình của nhà thơ Võ Tấn Cường) không biết đến bao giờ?

Riêng nhà thơ Võ Tấn Cường là người luôn gần gũi, gắn bó, chia sẻ thân tình trao đổi nhiều về công việc sáng tác đối với tôi.

Tôi có đủ năm tập thơ của anh, từ tập đầu tay: “Cánh thời gian” đến tập thơ xuất bản gần đây là “Ru giọt máu” và hai tập tiểu luận phê bình anh tặng mỗi dịp xuất bản. Nếu chọn đọc để “khám phá cơ chế sáng tạo” như ý anh đã viết thì tôi chọn đọc cả hai mảng. Nếu chọn một để thưởng thức, tìm cái chất, cái vẻ đẹp nhân văn mang chiều sâu nội tâm thì tôi chọn thơ. Suy cho cùng, khám phá tâm hồn nhà thơ cũng không gì khác hơn là khám phá tác phẩm nhà thơ sáng tạo để dâng tặng cuộc đời…


Tập thơ “Ru giọt máu” của Võ Tấn Cường.

Có lần ghé thăm nhà văn Trang Thế Hy ở Bến Tre, ông nhắn nhủ đôi điều về công việc viết lách, tôi đã ghi vào sổ tay của tôi: ”Đừng ngại sự bắt chước, miễn là bắt chước có sáng tạo”. Đôi lúc, tôi cứ nghĩ theo cách của mình thật ra, công việc sáng tác với các nhà văn có thể nói là một sự bắt chước “vĩ đại”, nếu không bắt chước hiện thực cuộc đời, bắt chước cách nói, cách nghĩ của xã hội loài người, nhà văn có được bao nhiêu vốn sống để viết? Điều ₫ó nói lên rằng sức sống của ngôn ngữ thật kỳ lạ!

Ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ của thơ ca có lẽ giống triết lý “một trong tất cả, tất cả trong một” chăng? Ngôn ngữ là của chung nhưng ta lại có quyền xác lập một “bản quyền” bất khả xâm phạm khi sáng tạo nó theo cách riêng của mình? Nhà văn – anh “sáng tạo” đúng nghĩa được bao nhiêu phần trăm? Câu hỏi này luôn truy vấn tôi trong suốt quá trình làm thơ, để nhắc nhở mình “tỉnh táo” trước cơn say bốc đồng ngôn ngữ dễ ngộ nhận…

Một chữ “khẳm” khi đọc thơ của Võ Tấn Cường từ những ngày đầu biết yêu, tập tễnh làm thơ, rồi găm trong tiềm thức của mình, bất chợt một hôm nó bay vào câu thơ tôi đang viết:

“Mênh mang gió lộng sông Tiền
Ru say búp nõn giữa miền phù sa
Xuồng ai chở khẳm lời ca
Chòng chành giai điệu bay qua cánh đồng!”
(Giai điệu phù sa – Vũ Tuấn)

Nói vậy để thấy rằng sự cảm ứng đồng điệu trong ngôn ngữ thơ ca là có thật!

Với ý thức sáng tạo gần như thiên bẩm, nhà thơ Võ Tấn Cường không chấp nhận nép mình dù phải bay trên đôi ”Cánh thời gian”. Ngay từ tập thơ thứ hai: “Gọi xanh”, anh đã mở lối đi mạnh mẽ cho thơ bằng lối viết tự do, mới mẻ, hiện đại, mạnh dạn kiếm tìm thể nghiệm với cách viết không lặp lại. Nhất là tránh sa đà vào sự ru ngủ của vần điệu khuôn sáo giết chết thơ, đa phần các nhà thơ như vướng phải bẫy rập ngôn từ không cách nào thoát ra được trên hành trình sáng tạo của mình.

Nhưng phải công nhận một điều, ở chặng đầu này anh đã lập nên “kỳ tích” với bài thơ “Cha chơi cờ” từng đoạt giải nhì cuộc thi thơ Tác phẩm tuổi xanh báo Tiền phong năm 1991.

Bài thơ viết theo thể ngũ ngôn truyền thống, khi đó được anh đọc nghe vài lần tôi đã thuộc. Đến giờ này anh đã in năm tập thơ, có nhiều bài thơ hay, tôi chưa thấy có bài thơ nào vượt qua và tỏa sáng hơn?! Tôi tin bài thơ này chính là điểm nhấn làm nên thương hiệu thơ Võ Tấn Cường. Bài thơ mượn hình ảnh cha chơi cờ để nói lên tâm trạng thời đại nhiều ẩn ý.

Nhà thơ, nhà phê bình văn học Hồ Thế Hà đã có bài bình và phân tích rất hay, sâu sắc, tôi chỉ xin chép lại từ trí nhớ của mình ngõ hầu thêm lần gởi đến bạn đọc sự trọn vẹn của một bài thơ hay:

“Cha nhặt tờ lịch cũ
Cánh thời gian rụng rơi
Cha vấn điếu thuốc cũ
Thời gian cháy ngậm ngùi
Cha chơi trận cờ tàn
Đóng hai phe chiến bại
Tướng sĩ thiếu đường chạy
Xe pháo liều chống càn
Tàn trận tướng sĩ lật
Nằm lăn lóc góc nhà
Con tốt trong tay cha
Hóa người hùng cô độc
Cha dọn lòng chôn cất
Bao héo hon tuổi già
Cờ không thể giải mã
Nỗi tủi hờn đời cha.”

Như tất cả các nhà thơ của chúng ta, nhà thơ Võ Tấn Cường cũng “chuyên chế” một loại “biệt dược” đó là thơ tình. Thơ tình của nhà thơ Võ Tấn Cường ba phần đắm say hai phần tỉnh táo. Anh đưa người đọc vào mê lộ tình yêu bằng ngôn ngữ của con tim thiêm thiếp đắm say nhưng luôn được đánh thức bằng cây gậy quyền năng lý trí:

“Mắt em trời thẳm linh thiêng
Tôi bơi vượt thoát bóng đêm hãi hùng
Mắt em hố thẳm không cùng
Tôi rơi vào khoảng lạnh lùng trống không”.
(Mắt em)

Cái nhìn của nhà thơ thật khác lạ. Nếu như với người mình yêu thì đôi mắt là cửa sổ tâm hồn cho ta thả vào đó con thuyền tình ái nồng nàn như nhà thơ Lưu Trọng Lư viết:

“Mắt em là một dòng sông
Thuyền anh bơi lội giữa dòng mắt em”

Thì nhà thơ Võ Tấn Cường lại như người bơi lướt qua nhanh nhanh để vượt thoát sự cám dỗ ấy, rồi như người quá tỉnh táo anh dặn mình hãy cảnh giác với đôi mắt ấy!

Phải chăng thiên hướng nghệ thuật của nhà thơ phát lộ từ cái nhìn đó, nên khi viết về tình yêu anh vẫn còn “lạnh“ và lý trí hơn nữa:

“Em – giọt thủy ngân
Mang hình hài trái tim
Mang gương mặt diều hâu
Biến ảo
Phù phép
Vỡ nụ cười chan nước mắt”
(Chân dung thủy ngân)

Tâm thức nhà thơ là một loại mật ngữ vừa như đóng kín vừa như mở ra vô tận, ta vừa như nắm bắt trọn vẹn vừa như hụt hẫng, cảm giác mông lung đưa ta vào hành trình đồng sáng tạo với nhà thơ như không bao giờ kết thúc. Theo tôi, đó chính là sự thành công của nhà thơ. Bởi nếu ta truy vấn nhà thơ thì lúc ấy tác giả cũng chỉ còn biết cách trả lời ta bằng cách trỏ cho ta một lối đi khác nhiều mê hoặc hơn mà thôi…

“Ru người
Máu chảy về tim
Ru ngày êm ả
Ru đêm yên bình
Ru môi nồng thắm hồi sinh
Nụ hôn say đắm để dành mùa yêu
Ru người
Trọn giấc phiêu diêu
Lặng thinh giọt máu
Trăm điều bão giông…
Mơ hoang ru mặt trời hồng
Đẹp như giọt máu…bềnh bồng đáy tim”.
(Ru giọt máu)

Mơ hoang… Ôi! Cảm ơn phút mơ hoang phiêu hốt này, nhà thơ Võ Tấn Cường đã mang được ngọn lửa vũ trụ là mặt trời hồng vào trái tim mình. Thắp sáng con đường thơ, thắp sáng con đường tình, thắp lên trong ta niềm khát khao hy vọng…

Mỗi giọt máu là một mặt trời hồng. Tôi tin đây chính là thông điệp của nhà thơ Võ Tấn Cường gửi đến mọi người.Tôi tin đây là cánh cửa chính mở ra phía chân trời sáng tạo của thơ ca… “Ru giọt máu” là ẩn dụ nghệ thuật về niềm tin yêu cuộc đời, là bài ca lẽ sống cô đúc trong thể thơ lục bát ngắn gọn mà “trăm điều bão giông.” Bởi cuộc đời rộng lớn ngoài kia chỉ có hình tượng nghệ thuật đặc sắc mới có thể ôm chứa nổi, mới có thể cắt nghĩa được. Đấy là sức mạnh của ngôn từ, thăng hoa qua tâm thức sáng tạo của nhà thơ!

Tình yêu – thi ca – nghệ thuật của một nhà thơ chỉ có một bản chính. Bạn đọc khi tiếp cận có quyền nhân bản nó theo cách cảm, cách hiểu của mình. Không làm nó nhòe mờ mà còn làm phong phú thêm, thú vị thêm…

Tôi không rõ đường tình của nhà thơ Võ Tấn Cường nhưng đọc thơ anh, tôi tin anh trước “ải tình” – mà không mấy kẻ can đảm vượt qua – nhà thơ của chúng ta lại mỉm cười như nhìn rõ “chân tướng” đối phương?

Dù có thể đó không phải tâm trạng cá nhân anh, bởi khi sáng tạo nhà thơ đã hóa thân, tan chảy vào nhịp điệu sôi động của cuộc đời… Tôi vẫn cho đây là một góc nhìn đa diện về tình yêu, của một tâm hồn biết đặt con mắt tỉnh táo bên trái tim đa cảm. Không cần cảnh báo ai, chỉ cần cảnh giác với chính mình bằng con mắt quán sát tinh tế, chắc chắn trên đường đời, đường tình, đường thơ của nhà thơ Võ Tấn Cường ít va vấp và hy vọng anh sẽ về đích trong tâm thế bình yên vượt thoát.

V.T

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm