TIN TỨC

Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-14 00:00:36
mail facebook google pos stwis
352 lượt xem

THIÊN SƠN

Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.

 

Nhà thơ Nguyễn Bình Phương

 

Không hiểu sao nghĩ đến Nguyễn Bình Phương, tôi lại nghĩ về một đôi mắt nhìn xa vắng vào cõi lạ lùng nào. Đôi mắt có chút thắc thỏm, nhưng vượt thoát mọi bức tường phía trước. Ừ nhỉ, tôi biết đến Nguyễn Bình Phương từ 25 năm trước, khi anh mới bước vào tuổi 35, đang làm biên tập viên cho nhà xuất bản quân đội. Và chính anh đã biên tập cho tôi tập truyện ngắn đầu tay, tập truyện mà tôi coi như một kỷ niệm sâu sắc trên con đường viết văn của mình. Giờ nhớ lại những thời khắc đó cứ như ngày hôm qua. Thế mà tóc xanh trên đầu giờ đã vương màu khói. Có cảm giác thời gian như lá, xếp chồng lên nhau, xanh vàng lẫn lộn. Đời thực đấy mà cũng chập chờn ảo mộng. Suốt những năm tháng ấy, Nguyễn Bình Phương, bằng sự nỗ lực không ngừng đã tiếp tục dấn bước trên con đường gian khó và làm nên một sự nghiệp văn chương đáng ngưỡng mộ với nhiều tiểu thuyết và thơ.

Đường văn chương của anh là con đường độc đạo. Dường như phía trước không có dấu chân. Và phía sau cũng không có người nào theo được. Đấy là con đường khám phá, đi theo sự mách bảo của nội tâm, khai phá những miền u thẳm trong tâm tư con người và những bí ẩn của chính cuộc đời.

Nhưng lần này, tôi chỉ mới có thể nói về thơ của Nguyễn Bình Phương.

***

Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.

Hãy xem anh nhìn thế giới:

“Những đám mây không có bầu trời

Những ngọn nước rào rào chảy ngược

Những tiếng nói thì thào vô chủ

Trong những giờ không thuộc mùa nào

Những người bạn làm ta dằn vặt

Với bức ảnh ngày đông

Mang nụ cười mơ màng phương bắc”.

(Giao thừa)

Đấy là một thế giới phi lý, một thế giới không có trong sự thật. Thế giới phá vỡ mọi quy ước và trật tự truyền thống. Thơ Nguyễn Bình Phương ngay từ buổi đầu đã vượt thoát những ranh giới cổ điển để đi vào một con đường mới.

Những hình ảnh lạ lùng có rất nhiều trong thơ anh tạo thành một thế giới dị biệt, mà những hình thù, những màu sắc ấy cắt thẳng vào tâm tư người đọc như những vệt sắc nhọn làm nứt vỡ những cách cảm suy đã cũ:

“Máu đứt dây cương

Lồng lộn phi nước đại

Đến vùng rừng thâm u mê man”

Hoặc:

“Bóng ông già bị đóng vào nôi

Bóng người mẹ đóng giữa trời giông gió

Bóng hoa đóng lên tường

Những dãy phố bị đóng vào hoàng hôn viễn xứ”

(Trường ca: Khách của trần gian)

Đấy là thế giới một nửa hiện thực và nửa kia là ảo ảnh:

“Em mách rằng có con chim nâu trong bông hoa nâu

Khuya nào đó cũng mải mê hót

Hót vào giấc mơ của em.”

(Khuya nào)

Và đây nữa, là thế giới hoàn toàn mê ảo:

“Động tiên nghe đá già

Nghe ngàn đêm hoa thức

Có xác xơ như tóc

Tóc như cây mùa rơi…”

(Với người trong cổ tích)

“Người đàn ông lang thang bốn mươi năm điên

về gọi mẹ dưới mồ

Mẹ ơi ban mai nào sáng nhất?”

(Trường ca: Khách của trần gian)

Và ngược lại, có khi anh khắc họa cái hiện thực như bay ra từ giấc mơ:

“Con bướm cuối cùng nhẹ nhàng bay ra ngoài giấc mộng

Bằng đôi cánh hoa mơ”

(Tình yêu khuất mặt)

Không chỉ lẫn lộn hiện thực và mơ ảo, ở trường hợp khác, Nguyễn Bình Phương nhìn thấy cái vô hình như đang hiện hữu trong thế giới hữu hình, cái đã mất mà như còn mãi:

“Bóng những bông hoa bị ngắt

Nửa đêm về đậu trên cuống run run

Sau lưng nở nụ cười lơ đãng

Vầng trăng trên nước tọa im lìm.”

(Hình cũ)

Cái thế giới nghệ thuật mà Nguyễn Bình Phương bày ra trước mắt chúng ta là một thế giới vô thủy, vô chung, xáo trộn không gian và thời gian. Không ai biết đến điểm đầu và điểm cuối của nó. Trong thế giới ấy, ta gặp sự hoang lạnh, tàn rữa, u uẩn.

 

Tuyển thơ “Xa xăm gõ cửa” của Nguyễn Bình Phương

 

Nhưng, Nguyễn Bình Phương không phải là người thoát ly hoàn toàn hiện thực. Anh chỉ mang đến một cách nhìn khác, một cách cảm nghĩ khác về hiện thực. Làm sao mà thoát ly hoàn toàn hiện thực được khi người thơ bời bời tâm trạng. Và làm thơ, thực ra cũng chính là một cách để giãi bày những tâm tư sâu kín nhất của lòng mình, những nghiệm suy trước cuộc đời biết bao nghịch lý và giằng xé. Trong cái thế giới thơ tưởng như xa lạ mà anh đã dựng lên, khi chú ý đến những sắc màu, những mối quan hệ chằng chịt của nó, người đọc sẽ thấy đó là ánh phản của thế giới nhân sinh với biết bao thăng trầm, khổ đau, nuối tiếc… được thể hiện trong một hình thức khác với thi ảnh độc đáo và lối liên tưởng mới lạ.

Ta gặp hình ảnh về một tình yêu đẹp đẽ mà tuyệt vọng:

“Em cúi xuống giấc mơ yên ả

Hôn lên mùa thu không còn tôi”

(Em và Hoa)

 “Hôn anh em làm anh mòn mỏi

Ta sẽ chết trong nhụy hoa những cánh hoa khép lại.”

(Vườn khuya)

 Ta gặp những ám ảnh về sự khuyết hao tàn lụi:

“Lạnh phả về từ xa xửa xa xưa

Thủa trong vắt tan vào mơ mộng

Biết mãi còn níu giữ nữa không?”

(Khúc ru)

Và đặc biệt, ta gặp hình tượng nhân vật trữ tình (như một hiện thân của chính nhà thơ) được thể hiện xuyên suốt trong nhiều bài thơ.

Có lúc phảng phất một niềm nuối tiếc về năm tháng đã qua:

“Thời gian ngã

máu tuôn

Tuổi xanh không thể dậy”

(Bài thơ cũ)

Nhưng sau đó lại là sự khước từ quá vãng, là một sự thúc bách vượt qua cái tôi của ngày hôm qua:

“Trong bóng râm lạnh lùng vang lời nhắc:

Ta lớn lên bởi kiếm tìm

Giờ kiếm tìm đã cũ”

(Bài thơ cũ)

Và cuối cùng là một sự thoát thai khỏi khuôn mặt cũ, những ràng buộc cũ và nhân vật trữ tình hiện ra như một bản thể độc đáo, với ý thức về nỗi buồn, sự tự do tuyết đối:

“Tôi là một đỉnh núi

Một nỗi buồn gieo neo bên ký ức phai tàn”

“Tôi là con đường chông gai chưa ai đi”

(Tự sáng)

Trong số các nhà thơ đương đại, Nguyễn Bình Phương là một hiện tượng hết sức độc đáo. Các thi phẩm của anh đậm đặc yếu tố siêu thực. Có thể nói anh là người đã dấn thân mãnh liệt trên con đường đổi mới thơ mình theo nghĩa vượt thoát khỏi sự kiềm tỏa của lý trí, sử dụng những hình ảnh kỳ lạ đầy huyễn hoặc, xác lập một logic nghệ thuật khác – trong đó mọi giới hạn về không gian và thời gian thông thường bị phá vỡ. Thay vào đó là sự chồng lấn giữa ý thức và vô thức, giữa thực tại và quá vãng, giữa hữu hình và vô hình…

Nguyễn Bình Phương xuất bản tập thơ đầu tiên Lam Chướng (1992) khi mới 27 tuổi. Và ngay ở tập thơ này đã có những vượt thoát khỏi những khuôn thức cũ và xuất hiện những câu thơ ấn tượng:

“Nhuốm gót theo ôi đầm sương là sương

Mỗi vòm lá bạt ngàn con mắt khóc.”

(Cái bóng)

Và chỉ mấy năm sau đó, với trường ca Khách của trần gian năm 1996 Nguyễn Bình Phương đã bộc lộ một cái nhìn bung phá mãnh liệt trước những giới hạn cũ và định hình một bản lĩnh sáng tạo. Nhiều câu thơ, ý thơ trong trường ca này đến nay vẫn còn làm cho người đọc ngỡ ngàng, thậm chí kinh ngạc bởi sự mới lạ ở cách nhìn và nghệ thuật ngôn từ kỳ lạ. Cách viết trường ca của Nguyễn Bình Phương không phải để kể một câu chuyện, không giàn dựng một không gian như điểm tựa cho nhân vật hoạt động và bám theo dòng thời gian biên niên đơn giản. Không, không phải vậy. Trường ca là nơi anh trình bày những chiều kích suy tưởng và tưởng tượng. Những chiều kích ấy cứ mở ra vô biên, đến mức dường như thiếu kiểm soát và làm hiện ra một thế giới đủ sắc màu lộn xộn, kỳ dị và cả những cái đẹp se thắt, ảo diệu. Đấy là một tổng phổ của những liên tưởng, cảm suy lạ lẫm về thế giới, về sự sống và về con người.

 

Nhà phê bình Thiên Sơn

 

Tại thời điểm những năm đầu đổi mới, khi mà những trào lưu cách tân thơ vừa mới nhú lên, khi những lý thuyết trường phái hiện đại phương Tây chưa thực sự được phổ biến đầy đủ và cởi mở trong sự tiếp cận ở Việt Nam. Tôi nghĩ Nguyễn Bình Phương không phải là người chủ trương đặt mình vào một trường phái nào. Và có lần anh đã xác nhận với tôi về điều đó. Vậy, những yếu tố siêu thực đậm đặc và thậm chí cả những dấu vết của chủ nghĩa tượng trưng và hậu hiện đại trong thơ anh có lẽ có nguồn gốc nội tại trong cảm quan của nhà thơ, hơn là sản phẩm của một sự tiếp biến văn hóa.

Trong những tập thơ tiếp theo: Xa thân, Từ chết sang trời biếc, Buổi câu hờ hững… Nguyễn Bình phương vẫn giữ được nhịp độ và sự bứt phá của cảm xúc, lối liên tưởng phi thường của anh. Nhưng điểm khác biệt so với trước là người thơ đã ngày càng trầm tĩnh và nghiệm suy hơn, mang màu thế sự nhiều hơn:

“Đứng một mình giữa tĩnh mịch bao la

Thời gian đỗ kềnh trên đầu gối

Qua kẽ tay thế sự nhờn nhợt rơi

Những câu ca lạnh những ngọn triều thần

Mất

Chỉ còn lại gương và lau lách.”

(Tượng đá cầm gươm)

“Cuối cùng

cuộc chuyện trò cũng biến thành câu hỏi

tại sao người nọ dẫn người kia lạc lối

tại sao một linh hồn héo hon

say sưa giảng cho một thân hình héo hon về mốt”

(Ở nơi không có cánh)

Suốt cả hành trình của mình, Nguyễn Bình Phương đã kiên trì một lối thơ riêng. Dù đã có nhiều bài viết về thơ ông, nhưng tôi nghĩ, hầu như mọi người vẫn chưa dễ nắm bắt được tường tận. Thơ Nguyễn Bình Phương thách thức chúng ta. Đến với thơ anh, dường như cần những ổ khóa để mở ra những cánh cửa bí mật mà hầu hết chúng ta lại không nắm được những bí mật ấy. Có lẽ đó là một cách để Nguyễn Bình Phương giữ cho thơ ca vẫn còn là một lâu đài huyền bí mà chỉ những ai vô cùng yêu mến thi ca, dõi theo những chuyển động vi diệu của nó mới có thể đặt chân đến.

Lịch sử văn học Việt Nam đang chuyển động sang một hướng mới. Chúng ta đang cố gắng vượt thoát khỏi lối tư duy mòn cũ, giản đơn để bước vào một lộ trình mới hiện đại trong sự hội nhập cùng nhân loại. Tư duy nghệ thuật của thế hệ mới phải khác. Những con đường mới cần được mở ra để các thế hệ cùng kiến tạo một nền văn chương đích thực mang những giá trị thẩm mĩ độc đáo và nhân bản.

Thơ Nguyễn Bình Phương chứng tỏ một sự dịch chuyển những quan niệm mỹ học mãnh liệt trong sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm. Nó không trình bày một thông điệp đơn giản. Nó thúc bách người đọc phải nghiệm suy về sự tồn tại. Nó mang đến một cảm quan mới về thế giới và con người. Nó bắt người ta phải cảm nhận thơ ca bằng tổng thể các giác quan và tập trung mọi năng lực của chính mình trong sự nhận diện ra vẻ đẹp của sự tồn tại và nhào nặn lại tâm tư, cảm thức của mình. Nó khơi mở khả năng tưởng tượng không giới hạn của người đọc.

Nguồn: VanVn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm