TIN TỨC

Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-14 00:00:36
mail facebook google pos stwis
836 lượt xem

THIÊN SƠN

Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.

 

Nhà thơ Nguyễn Bình Phương

 

Không hiểu sao nghĩ đến Nguyễn Bình Phương, tôi lại nghĩ về một đôi mắt nhìn xa vắng vào cõi lạ lùng nào. Đôi mắt có chút thắc thỏm, nhưng vượt thoát mọi bức tường phía trước. Ừ nhỉ, tôi biết đến Nguyễn Bình Phương từ 25 năm trước, khi anh mới bước vào tuổi 35, đang làm biên tập viên cho nhà xuất bản quân đội. Và chính anh đã biên tập cho tôi tập truyện ngắn đầu tay, tập truyện mà tôi coi như một kỷ niệm sâu sắc trên con đường viết văn của mình. Giờ nhớ lại những thời khắc đó cứ như ngày hôm qua. Thế mà tóc xanh trên đầu giờ đã vương màu khói. Có cảm giác thời gian như lá, xếp chồng lên nhau, xanh vàng lẫn lộn. Đời thực đấy mà cũng chập chờn ảo mộng. Suốt những năm tháng ấy, Nguyễn Bình Phương, bằng sự nỗ lực không ngừng đã tiếp tục dấn bước trên con đường gian khó và làm nên một sự nghiệp văn chương đáng ngưỡng mộ với nhiều tiểu thuyết và thơ.

Đường văn chương của anh là con đường độc đạo. Dường như phía trước không có dấu chân. Và phía sau cũng không có người nào theo được. Đấy là con đường khám phá, đi theo sự mách bảo của nội tâm, khai phá những miền u thẳm trong tâm tư con người và những bí ẩn của chính cuộc đời.

Nhưng lần này, tôi chỉ mới có thể nói về thơ của Nguyễn Bình Phương.

***

Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.

Hãy xem anh nhìn thế giới:

“Những đám mây không có bầu trời

Những ngọn nước rào rào chảy ngược

Những tiếng nói thì thào vô chủ

Trong những giờ không thuộc mùa nào

Những người bạn làm ta dằn vặt

Với bức ảnh ngày đông

Mang nụ cười mơ màng phương bắc”.

(Giao thừa)

Đấy là một thế giới phi lý, một thế giới không có trong sự thật. Thế giới phá vỡ mọi quy ước và trật tự truyền thống. Thơ Nguyễn Bình Phương ngay từ buổi đầu đã vượt thoát những ranh giới cổ điển để đi vào một con đường mới.

Những hình ảnh lạ lùng có rất nhiều trong thơ anh tạo thành một thế giới dị biệt, mà những hình thù, những màu sắc ấy cắt thẳng vào tâm tư người đọc như những vệt sắc nhọn làm nứt vỡ những cách cảm suy đã cũ:

“Máu đứt dây cương

Lồng lộn phi nước đại

Đến vùng rừng thâm u mê man”

Hoặc:

“Bóng ông già bị đóng vào nôi

Bóng người mẹ đóng giữa trời giông gió

Bóng hoa đóng lên tường

Những dãy phố bị đóng vào hoàng hôn viễn xứ”

(Trường ca: Khách của trần gian)

Đấy là thế giới một nửa hiện thực và nửa kia là ảo ảnh:

“Em mách rằng có con chim nâu trong bông hoa nâu

Khuya nào đó cũng mải mê hót

Hót vào giấc mơ của em.”

(Khuya nào)

Và đây nữa, là thế giới hoàn toàn mê ảo:

“Động tiên nghe đá già

Nghe ngàn đêm hoa thức

Có xác xơ như tóc

Tóc như cây mùa rơi…”

(Với người trong cổ tích)

“Người đàn ông lang thang bốn mươi năm điên

về gọi mẹ dưới mồ

Mẹ ơi ban mai nào sáng nhất?”

(Trường ca: Khách của trần gian)

Và ngược lại, có khi anh khắc họa cái hiện thực như bay ra từ giấc mơ:

“Con bướm cuối cùng nhẹ nhàng bay ra ngoài giấc mộng

Bằng đôi cánh hoa mơ”

(Tình yêu khuất mặt)

Không chỉ lẫn lộn hiện thực và mơ ảo, ở trường hợp khác, Nguyễn Bình Phương nhìn thấy cái vô hình như đang hiện hữu trong thế giới hữu hình, cái đã mất mà như còn mãi:

“Bóng những bông hoa bị ngắt

Nửa đêm về đậu trên cuống run run

Sau lưng nở nụ cười lơ đãng

Vầng trăng trên nước tọa im lìm.”

(Hình cũ)

Cái thế giới nghệ thuật mà Nguyễn Bình Phương bày ra trước mắt chúng ta là một thế giới vô thủy, vô chung, xáo trộn không gian và thời gian. Không ai biết đến điểm đầu và điểm cuối của nó. Trong thế giới ấy, ta gặp sự hoang lạnh, tàn rữa, u uẩn.

 

Tuyển thơ “Xa xăm gõ cửa” của Nguyễn Bình Phương

 

Nhưng, Nguyễn Bình Phương không phải là người thoát ly hoàn toàn hiện thực. Anh chỉ mang đến một cách nhìn khác, một cách cảm nghĩ khác về hiện thực. Làm sao mà thoát ly hoàn toàn hiện thực được khi người thơ bời bời tâm trạng. Và làm thơ, thực ra cũng chính là một cách để giãi bày những tâm tư sâu kín nhất của lòng mình, những nghiệm suy trước cuộc đời biết bao nghịch lý và giằng xé. Trong cái thế giới thơ tưởng như xa lạ mà anh đã dựng lên, khi chú ý đến những sắc màu, những mối quan hệ chằng chịt của nó, người đọc sẽ thấy đó là ánh phản của thế giới nhân sinh với biết bao thăng trầm, khổ đau, nuối tiếc… được thể hiện trong một hình thức khác với thi ảnh độc đáo và lối liên tưởng mới lạ.

Ta gặp hình ảnh về một tình yêu đẹp đẽ mà tuyệt vọng:

“Em cúi xuống giấc mơ yên ả

Hôn lên mùa thu không còn tôi”

(Em và Hoa)

 “Hôn anh em làm anh mòn mỏi

Ta sẽ chết trong nhụy hoa những cánh hoa khép lại.”

(Vườn khuya)

 Ta gặp những ám ảnh về sự khuyết hao tàn lụi:

“Lạnh phả về từ xa xửa xa xưa

Thủa trong vắt tan vào mơ mộng

Biết mãi còn níu giữ nữa không?”

(Khúc ru)

Và đặc biệt, ta gặp hình tượng nhân vật trữ tình (như một hiện thân của chính nhà thơ) được thể hiện xuyên suốt trong nhiều bài thơ.

Có lúc phảng phất một niềm nuối tiếc về năm tháng đã qua:

“Thời gian ngã

máu tuôn

Tuổi xanh không thể dậy”

(Bài thơ cũ)

Nhưng sau đó lại là sự khước từ quá vãng, là một sự thúc bách vượt qua cái tôi của ngày hôm qua:

“Trong bóng râm lạnh lùng vang lời nhắc:

Ta lớn lên bởi kiếm tìm

Giờ kiếm tìm đã cũ”

(Bài thơ cũ)

Và cuối cùng là một sự thoát thai khỏi khuôn mặt cũ, những ràng buộc cũ và nhân vật trữ tình hiện ra như một bản thể độc đáo, với ý thức về nỗi buồn, sự tự do tuyết đối:

“Tôi là một đỉnh núi

Một nỗi buồn gieo neo bên ký ức phai tàn”

“Tôi là con đường chông gai chưa ai đi”

(Tự sáng)

Trong số các nhà thơ đương đại, Nguyễn Bình Phương là một hiện tượng hết sức độc đáo. Các thi phẩm của anh đậm đặc yếu tố siêu thực. Có thể nói anh là người đã dấn thân mãnh liệt trên con đường đổi mới thơ mình theo nghĩa vượt thoát khỏi sự kiềm tỏa của lý trí, sử dụng những hình ảnh kỳ lạ đầy huyễn hoặc, xác lập một logic nghệ thuật khác – trong đó mọi giới hạn về không gian và thời gian thông thường bị phá vỡ. Thay vào đó là sự chồng lấn giữa ý thức và vô thức, giữa thực tại và quá vãng, giữa hữu hình và vô hình…

Nguyễn Bình Phương xuất bản tập thơ đầu tiên Lam Chướng (1992) khi mới 27 tuổi. Và ngay ở tập thơ này đã có những vượt thoát khỏi những khuôn thức cũ và xuất hiện những câu thơ ấn tượng:

“Nhuốm gót theo ôi đầm sương là sương

Mỗi vòm lá bạt ngàn con mắt khóc.”

(Cái bóng)

Và chỉ mấy năm sau đó, với trường ca Khách của trần gian năm 1996 Nguyễn Bình Phương đã bộc lộ một cái nhìn bung phá mãnh liệt trước những giới hạn cũ và định hình một bản lĩnh sáng tạo. Nhiều câu thơ, ý thơ trong trường ca này đến nay vẫn còn làm cho người đọc ngỡ ngàng, thậm chí kinh ngạc bởi sự mới lạ ở cách nhìn và nghệ thuật ngôn từ kỳ lạ. Cách viết trường ca của Nguyễn Bình Phương không phải để kể một câu chuyện, không giàn dựng một không gian như điểm tựa cho nhân vật hoạt động và bám theo dòng thời gian biên niên đơn giản. Không, không phải vậy. Trường ca là nơi anh trình bày những chiều kích suy tưởng và tưởng tượng. Những chiều kích ấy cứ mở ra vô biên, đến mức dường như thiếu kiểm soát và làm hiện ra một thế giới đủ sắc màu lộn xộn, kỳ dị và cả những cái đẹp se thắt, ảo diệu. Đấy là một tổng phổ của những liên tưởng, cảm suy lạ lẫm về thế giới, về sự sống và về con người.

 

Nhà phê bình Thiên Sơn

 

Tại thời điểm những năm đầu đổi mới, khi mà những trào lưu cách tân thơ vừa mới nhú lên, khi những lý thuyết trường phái hiện đại phương Tây chưa thực sự được phổ biến đầy đủ và cởi mở trong sự tiếp cận ở Việt Nam. Tôi nghĩ Nguyễn Bình Phương không phải là người chủ trương đặt mình vào một trường phái nào. Và có lần anh đã xác nhận với tôi về điều đó. Vậy, những yếu tố siêu thực đậm đặc và thậm chí cả những dấu vết của chủ nghĩa tượng trưng và hậu hiện đại trong thơ anh có lẽ có nguồn gốc nội tại trong cảm quan của nhà thơ, hơn là sản phẩm của một sự tiếp biến văn hóa.

Trong những tập thơ tiếp theo: Xa thân, Từ chết sang trời biếc, Buổi câu hờ hững… Nguyễn Bình phương vẫn giữ được nhịp độ và sự bứt phá của cảm xúc, lối liên tưởng phi thường của anh. Nhưng điểm khác biệt so với trước là người thơ đã ngày càng trầm tĩnh và nghiệm suy hơn, mang màu thế sự nhiều hơn:

“Đứng một mình giữa tĩnh mịch bao la

Thời gian đỗ kềnh trên đầu gối

Qua kẽ tay thế sự nhờn nhợt rơi

Những câu ca lạnh những ngọn triều thần

Mất

Chỉ còn lại gương và lau lách.”

(Tượng đá cầm gươm)

“Cuối cùng

cuộc chuyện trò cũng biến thành câu hỏi

tại sao người nọ dẫn người kia lạc lối

tại sao một linh hồn héo hon

say sưa giảng cho một thân hình héo hon về mốt”

(Ở nơi không có cánh)

Suốt cả hành trình của mình, Nguyễn Bình Phương đã kiên trì một lối thơ riêng. Dù đã có nhiều bài viết về thơ ông, nhưng tôi nghĩ, hầu như mọi người vẫn chưa dễ nắm bắt được tường tận. Thơ Nguyễn Bình Phương thách thức chúng ta. Đến với thơ anh, dường như cần những ổ khóa để mở ra những cánh cửa bí mật mà hầu hết chúng ta lại không nắm được những bí mật ấy. Có lẽ đó là một cách để Nguyễn Bình Phương giữ cho thơ ca vẫn còn là một lâu đài huyền bí mà chỉ những ai vô cùng yêu mến thi ca, dõi theo những chuyển động vi diệu của nó mới có thể đặt chân đến.

Lịch sử văn học Việt Nam đang chuyển động sang một hướng mới. Chúng ta đang cố gắng vượt thoát khỏi lối tư duy mòn cũ, giản đơn để bước vào một lộ trình mới hiện đại trong sự hội nhập cùng nhân loại. Tư duy nghệ thuật của thế hệ mới phải khác. Những con đường mới cần được mở ra để các thế hệ cùng kiến tạo một nền văn chương đích thực mang những giá trị thẩm mĩ độc đáo và nhân bản.

Thơ Nguyễn Bình Phương chứng tỏ một sự dịch chuyển những quan niệm mỹ học mãnh liệt trong sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm. Nó không trình bày một thông điệp đơn giản. Nó thúc bách người đọc phải nghiệm suy về sự tồn tại. Nó mang đến một cảm quan mới về thế giới và con người. Nó bắt người ta phải cảm nhận thơ ca bằng tổng thể các giác quan và tập trung mọi năng lực của chính mình trong sự nhận diện ra vẻ đẹp của sự tồn tại và nhào nặn lại tâm tư, cảm thức của mình. Nó khơi mở khả năng tưởng tượng không giới hạn của người đọc.

Nguồn: VanVn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm