TIN TỨC

Trang Thế Hy - người đi chỗ khác chơi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-03-04 08:54:17
mail facebook google pos stwis
1956 lượt xem

PHM S SÁU

Tháng 10 năm 1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố “tôi s ri thành ph để đi ch khác chơi vì đã hoàn thành nhim v”, nhà văn Trang Thế Hy đã tạo ra một làn sóng dư luận khá sôi nổi, không chỉ trong lòng người hoạt động văn học nghệ thuật, mà cả trong dư luận chung rộng rãi. Trong khi hàng vạn, hàng triệu người đang ngày đêm tìm mọi cách, mọi cơ hội để có mặt tại thành phố, dù là đang trẻ tuổi hăng máu hay đang kiệt sức nghỉ hưu, thì ông một người thành phố lại tuyên bố sẽ rời thành phố về quê vui thú an nhàn ở tuổi gần 70. Có lẽ nào ông là người nghĩ khác?

Thật ra chuyện đi hay ở với nhà văn không phải là chuyện quan trọng. Vốn là người sinh ra từ vùng ngoại vi thị xã Bến Tre trong những tháng năm dài nô lệ, khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông đã là chàng trai 21 tuổi. Ông tích cực tham gia mọi sinh hoạt của tổ chức đoàn thể tại địa phương. Với vốn sở học của mình, lý ra ông đã trở thành ông nầy ông nọ trong hàng ngũ cách mạng, nhưng không, ông vẫn là ông, con người điềm đạm nho nhã với cung cách đằm thắm, ngay cả trong lời ăn nết ở. Gần 50 năm tham gia hoạt động cách mạng, chàng thanh niên đã rời làng quê huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre ngày nào trong sục sôi đấu tranh nay trở lại quê nhà với cuộc sống thật dịu êm bên dưới rặng dừa trong ngôi vườn không nhiều cây trái, ngày ngày uống trà, đọc sách, đàm đạo văn chương với bạn văn xa gần mỗi lần ghé lại hoặc chuyện trò thời sự cùng những người đồng hương già trẻ. Cuộc sống dường như trôi đi rất chậm trong ngôi nhà ấy, đôi khi tưởng như rất buồn tẻ, nhưng không, nó vẫn ăm ắp nỗi đau thế sự xoay vần, vẫn đau đáu niềm lo về người nầy kẻ kia trong làng văn trận bút.

Tôi được biết về ông khá trễ, có lẽ là trễ nhất trong số những người cùng chung cơ quan Hội Nhà văn thành phố. Trước đó khoảng gần chục năm, tôi cũng biết sơ về ông, không phải bằng con người thật, mà bằng văn chương, với những truyện ngắn như được trau chuốt từng chữ đăng trên báo Văn ngh Thành ph H Chí Minh - nơi coi như địa chỉ tập hợp anh hào sau một thời ly loạn của thành phố. Ở đó có Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Phạm Tường Hạnh, Mai Văn Tạo, Chim Trắng, Lê Văn Thảo, Nguyễn Chí Hiếu, Hoài Anh, Trần Nhật Thu, Lê Dụng và nhiều người khác nữa. Họ là những người ở rừng về, từ Bắc vô, đang tạo ra một chân dung văn nghệ thành phố mới giải phóng với nhiều hình ảnh sống động, tuy còn nhiều khó khăn nhưng sinh động và tươi mới. Mang tiếng là người của báo, nhưng ông viết không nhiều, lâu lắm mới thấy xuất hiện một truyện ngắn, có truyện đăng tới hai ba kỳ báo, nhưng nhiều người không gọi ông là nhà văn Trang Thế Hy, mà họ thường gọi là anh Tư Sâm, hay như chúng tôi hay gọi là chú Tư. Chú Tư có cách nói, điệu cười, dáng đi, kiểu đứng không có gì khác người, nhưng vẫn có cái gì đó thực sự nho nhã, nền nếp, khác biệt với những người khác. Sự khác biệt ấy không làm cho ông cách xa đám đông, tách biệt tập thể mà như một nốt luyến trong âm nhạc, nó làm giàu có đời sống vốn nhiều thanh điệu thường bủa vây chung quanh.

Bằng cách nói rõ ràng, mạch lạc, chậm rãi, không thừa ít thiếu, nhà văn có cuộc sống đơn chiếc trong khu tập thể 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa tưởng như rất buồn. Nhưng không phải thế. Phòng ông, chỗ ông luôn luôn ngăn nắp, đầy ắp tiếng cười, giọng nói trong những buổi rượu trà với người đồng điệu. Căn phòng nhỏ, có cửa sổ nhìn ra con đường vào thành phố ngập tràn tiếng xe dù lúc khó khăn chật vật thiếu thốn mọi bề vẫn là nơi lui tới đi về của ông - một người mài chữ ra truyện.

Không biết ông chuyển biên chế về Hội Nhà văn lúc nào mà khi tôi chuyển ngành về Hội Nhà văn đã thấy tên ông trong danh sách những cán bộ thuộc cơ quan cùng với Sơn Nam, Mai Văn Tạo, Trần Thanh Giao, Thanh Giang, Lê Giang, Trần Mạnh Hảo. Tôi chỉ nghe về ông qua những người đã từng sống cùng ông trong những năm tháng ở rừng như Nguyễn Quang Sáng, Diệp Minh Tuyền, Chim Trắng, Lê Văn Thảo - những người luôn luôn gọi tên ông bằng cái tên Anh Tư rất đỗi thân thương và trìu mến. Nào là đi công tác với Anh Tư là khỏi lo bị đói, khỏi sợ thiếu cái ăn, đôi khi được ăn sang và ăn ngon nữa, vì anh Tư là người chịu khó chế biến các món nhậu ở rừng thuộc hàng bá cháy, và đặc biệt là anh Tư có tài săn thú rất hay. Tài săn thú thì tôi chưa chứng kiến, nhưng tài chế biến món ăn của anh Tư thì tôi cũng vinh dự được đôi lần tham gia nhân dịp anh tiếp một vài ông bạn văn chương trên đường hành phương Nam ghé thăm ông với rất nhiều tình cảm. Những món ăn ở nhà một người đàn ông đơn chiếc thường không nhiều nhặn gì nhưng được chế biến bởi một người sành ăn nên rất đậm đà và thi vị. Điểm đặc biệt nổi bật nhất trong bữa ăn ở nhà ông Tư Sâm là rượu. Rượu được ông Tư tinh tuyển từ những chuyến đi thực tế, từ những món quà bằng hữu tâm giao nên không lẫn vào đâu được. Trong những năm tháng khó khăn chung, ông Tư vẫn ung dung trà rượu với bằng hữu bằng những sưu tập của mình, quả là một chuyện kỳ công.

Những ngày còn ở thành phố hay hơn 20 năm nay "đi chỗ khác chơi" ở quê xứ Bến Tre, ông Tư vẫn chăm chú đọc và đọc thật nhiều những cây bút trẻ. Quả là không xa lạ khi người viết đồng bằng sông Cửu Long luôn xem ông như ông thầy, một bậc đàn anh đáng kính. Mỗi lần có dịp đi lên khu vực miền trung Nam Bộ là hầu như ai cũng sắp xếp một chuyến gặp gỡ với nhà văn Trang Thế Hy tại ngôi nhà nhỏ ngoại vi thị xã Bến Tre của ông. Những Ngô Khắc Tài, Nguyễn Ngọc Tư, Phạm Trung Khâu, Trịnh Bửu Hoài và nhiều người khác nữa luôn xem ngôi nhà nhỏ ở ngoại vi tỉnh lỵ Bến Tre là một nơi chốn thân thương. Bởi ở đó họ được tiếp đón không phải bằng tình cảm của người trên kẻ trước, mà bằng tình cảm nồng ấm ruột thịt như cha con ông cháu một nhà. Sự gần gũi, thân thiết của ông là sự gần gũi thân tình rất mực, không kẻ cả, khoa trương, không lão làng văn giới.

Có thể nói trong gần 70 năm cầm bút sáng tác của mình, dù khởi sự bằng thơ, tiếp đến là dịch thuật, sau nầy được biết đến như một nhà văn với nhiều bút danh khác nhau như Phạm Võ, Văn Phụng Mỹ, Triều Phong, Vũ Ái Văn, Minh Phẩm và Trang Thế Hy, nhưng số lượng tác phẩm xuất bản của ông không nhiều. Có thể kể đến như Nng đẹp min quê ngoi (1964), Mưa m (1981), Người yêu và mùa thu (1981), Vết thương th Mười ba (1989), Tiếng khóc và tiếng hát (1993), N nước mt và nhng truyn ngn khác (2001) và tập thơ Đắng và ngt (2009). Năm 2011, khi Nhà xuất bản Trẻ tái bản và đưa tập truyện ngắn Vết thương th Mười ba vào trong tủ sách Mi tác gi Mt tác phm, tôi đã có dịp chứng kiến sức làm việc không biết mệt mỏi của ông. Ông đã ngồi lại chỉnh sửa từng trang bản thảo, bỏ chữ nầy thêm chữ kia vào từng trang sách, vào từng truyện ngắn với mong mỏi là bạn đọc được tiếp nhận một văn bản có trách nhiệm của nhà văn - một công việc mà tôi thấy những nhà văn lớn tuổi thế hệ trước hay làm như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và nay là Trang Thế Hy.

Trong nhiều lần trò chuyện với nhà văn, điều tôi nhận ra ở ông là tấm lòng của người ăn quả nhớ người trồng cây, là tấm lòng với người nông dân Việt. Ông thường nói chúng ta lớn lên từ nông dân nông thôn, rồi lại xem nông dân là bạn, nhưng đối xử với người nông dân chưa bao giờ là bạn cả. Hạt gạo, con tôm, con cá do người nông dân một nắng hai sương làm ra đã làm giàu cho biết bao nhiêu người buôn bán (cả bán hàng hoá lẫn bán chức quyền), cho nhà nước nhưng bù lại người nông dân được gì. Họ vẫn sống trong những điều kiện thấp kém nhất và luôn luôn được đối xử như những người... hèn kém nhất.

Tôi nhớ khi ký tên giới thiệu tôi vào Hội Nhà văn Việt Nam cùng với nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhà văn Trang Thế Hy còn chú thích thêm bên cạnh bút danh của mình là nhà thơ Phạm Võ. Hỏi ông vì sao lại đưa tên Phạm Võ vào đây thì ông nói nếu không người ta sẽ nói là hai thằng cha làm văn đi giới thiệu một tay làm thơ vào Hội thì kỳ lắm.

Thì ra là vậy. Ông cẩn trọng và kỹ lưỡng trong từng hành động, lời nói và ngay cả việc làm. Bởi theo ông điều còn lại của nhà văn là tác phẩm, mà cái còn lại của tác phẩm là gì nếu không là ngôn ngữ. Chính ngôn ngữ quyết định tác phẩm đó có sống được với thời gian, với bạn đọc hay không. Bất chợt tôi nhớ đến bài thơ Bt đứt si ch hng trong tập thơ Đắng và ngt của ông. Bài thơ như ông từng mở ngoặc là lời một người con gái có người yêu là nhà thơ. Bài thơ như sau:

Hi mình mi yêu nhau, cây kéo kim duyt tm trú trong đầu anh như khách không mi mà đến
Ch
thnh thong nó mi e dè ct b mt vài bông hoa tư duy nh n ra trên trang viết ca anh
N
ó ái ngi thy anh a l nhìn nhng git nha tươi a ra t nhng cánh hoa được ct xén
T
ái ngi nó chuyn qua thương anh ri ti nghip anh như mt nhà thơ nhát gan
B
ây gi cây kéo kim duyt không phi là khách, nó có h khu thường trú trong trái tim anh
Tr
ước s dng dưng vô cm ca anh, nó ct xén không thương tiếc nhng bông hoa cm nghĩ ca anh, k c nhng búp chưa kp n
N
ó lnh lùng nhưng đôi khi cũng nói. Nó không nói anh nhát gan, nó nói anh hèn...

Một bài thơ nói nhiều điều về sự sáng tạo, về thói quen và nhiều thứ khác mà chúng ta cứ vô tình cho nó tự tiêm nhiễm, tự đầu độc mình trong quá trình sống với con người. Một sự cảnh tỉnh về thói quen trong nếp nghĩ suy phần nào khá đơn giản của nhiều người trong xã hội chúng ta.

Thành ph H Chí Minh, tháng 6.2013/ PSS.

 

Nhà văn Hoàng Đình Quang bên mộ nhà thơ Trang Thế Hy.
 

Đoàn nhà văn TPHCM bên mộ nhà thơ Trang Thế Hy, 9/2018.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ tuổi Bính Ngọ Đinh Nho Tuấn, ai gõ vào hồn phách?
Bước vào thi đàn khi đã ở tuổi ngũ tuần, Tiến sĩ Đinh Nho Tuấn không chọn cách đi thong dong mà quyết liệt bùng nổ với một năng lượng cảm xúc dồn nén suốt nửa đời người.
Xem thêm
Nhà thơ Bruce Weigl: “Không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và thi ca”
Nhà thơ Bruce Weigl (SN 1949) được biết đến là một nhà thơ đương đại có tầm ảnh hưởng lớn ở Mỹ. Ông cũng là một dịch giả, giáo sư đại học và là tác giả của hàng chục tập thơ riêng và cuốn hồi kí nổi tiếng mang tên “Vòng tròn của Hạnh”. Bruce Weigl là một trong 2 cựu chiến binh Mỹ đã được Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp trao tặng Huân chương Hữu nghị năm 2024, vì sự đóng góp tích cực cho việc quảng bá, giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới và góp phần xây dựng nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ.
Xem thêm
Trịnh Bích Ngân: Người nối dài những câu chuyện
Nhà văn Trịnh Bích Ngân hiện là Ủy viên Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh. Hành trình của chị không chỉ là hành trình của một cây bút đa tài, mà còn là hành trình của một người “giữ lửa” và “kết nối” không mệt mỏi cho văn chương.
Xem thêm
Tiểu thuyết Ngô Vương và dấu mốc Bạch Đằng
Chúng ta là công dân trong thời đại Hồ Chí Minh, trong thời đại số này chúng ta càng phải hiểu sâu sắc những bài học từ lịch sử như vậy. Chúng ta có hiểu chúng ta mới giáo dục được con cháu chứ. Chúng ta còn lờ mờ không hiểu rồi cũng không có hành động gì, làm gì cũng lười nhác, cống hiến thì ngại, so sánh rồi ganh ghét với các khu vực khác là người ta thế này thì tôi chỉ thế thôi... Chúng ta không cống hiến về thời gian về trí tuệ, vật chất thì đời nào có sự hào hùng về sau, mãi mãi sẽ tụt hậu, lại trở thành thu nhập thấp, trở thành bị lệ thuộc, lại thành không đáng có thì lấy đâu ra sự hào hùng dân tộc nữa? Cho nên tôi nghĩ rằng, bằng sức vóc của mình, bằng trí tuệ, niềm tin, bằng khả năng của mình, tôi đề nghị, đặc biệt là lớp trẻ chúng ta tự hào không thể tự hào suông được, tự tin không thể tự tin suông được, phải hành động bằng trí tuệ, khát vọng và sự cống hiến của mình thật tốt để tiếp tục xứng đáng với tổ tiên.
Xem thêm
Hành trình Chạm và gợi mở...
Cầm trên tay, ngắm, nhìn, chầm chậm lật giở từng trang LookBook Quảng Bình Đông Xuân, cuốn sách theo phong cách Travel Lookbook (sách ảnh du lịch) đầu tiên của Việt Nam; dành thời gian tiếp xúc, làm việc với nhóm thực hiện nội dung, nhất là người chịu trách nhiệm chính Mai Trịnh (Trịnh Thị Phương Mai), tôi có thêm góc nhìn về những người trẻ không ngại đầu tư lớn, khao khát sáng tạo, cống hiến và ghi dấu ấn riêng để tạo nên những giá trị nhân văn cho cộng đồng.
Xem thêm
Nam Hiệp và 300 cuộc hẹn với thi ca trên làn sóng phát thanh
Khi THI CA ĐIỂM HẸN chạm mốc số 300, đó vừa là một con số đáng nhớ của một chương trình phát thanh và là dấu mốc của một chặng đường bền bỉ, kiên định và đầy trách nhiệm với thơ ca Việt Nam đương đại.
Xem thêm
Đại tướng Lê Văn Dũng – Một “ông già Nam bộ”
Bài viết của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh: Ngày nào tôi cũng bì bõm trong những trang văn
Thấy nhà văn Nguyễn Nhật Ánh vẫn ra sách đều đặn sau nhiều năm, có người hỏi ông rằng bao giờ thì ngừng viết. Đối với ông, đó là câu hỏi kỳ lạ, giống như khi bạn hỏi một người đang yêu: “Bao giờ thì anh mới ngừng yêu?”.
Xem thêm
86 gương mặt văn nghệ sĩ của Phùng Văn Khai: Những “gương mặt” biết kể chuyện
Dưới những chuyển động gấp gáp của đời sống đương đại, khi văn chương không ít lúc bị cuốn vào vòng quay của sự kiện, truyền thông và thị hiếu, thì những cuốn sách chọn cách đi chậm lại, lặng lẽ quan sát con người, lắng nghe chiều sâu của từng phận đời nghệ sĩ, càng trở nên hiếm và đáng quý, như một sự trở về thể loại chân dung văn học truyền thống. 86 gương mặt văn nghệ sĩ (Nxb Hội Nhà văn, 2025) của Phùng Văn Khai thuộc về mạch sách như vậy. Đây không chỉ là một tập chân dung văn học theo nghĩa thông thường, mà còn là một bản phác thảo rộng mở về đời sống tinh thần của nhiều thế hệ sáng tạo Việt Nam, từ những cây đại thụ đã thành tên tuổi trong lịch sử văn học, đến những gương mặt đương thời và lớp trẻ đang từng bước không ngừng khẳng định mình. Và, ẩn tàng phía sau những chân dung văn nghệ sĩ, chính là một chân dung tinh tế của người cầm bút.
Xem thêm
Nhà văn Trương Anh Quốc – Văn chương như người đi tìm kho báu
Nhà văn Trương Anh Quốc, ủy viên Ban văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam, sinh năm 1976 tại vùng miền núi tỉnh Quảng Nam. Anh đạt giải Nhì cuộc thi Văn học tuổi 20 năm 2005 với tập truyện ngắn “Sóng biển rì rào”, giải Nhất cuộc thi văn học tuổi 20 năm 2010 với tiểu thuyết “Biển”, cùng nhiều giải thưởng truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Báo Sài Gòn Giải phóng… Nhân dịp anh vừa ra mắt cuốn tiểu thuyết thứ tư “Trùng khơi nghe sóng”, Trương Anh Quốc đã có cuộc trò chuyện nhỏ về văn chương với Văn nghệ Thành phố.
Xem thêm
Chuyện bút danh Đynh Trầm Ca và bài hát Ru con tình cũ
Đynh Trầm Ca tên thật Mạc Phụ, sinh năm 1941 tại Vĩnh Điện, Quảng Nam (cũ). Hơn 60 năm tuổi nghề, Đynh Trầm Ca đã sáng tác hơn 300 bài thơ và gần 100 bài ca khúc. Vì tuổi cao sức yếu, nhạc sĩ đã qua đời vào ngày 1/12/2025, hưởng thọ 85 tuổi.
Xem thêm
Vi Thùy Linh và hành trình vượt lên chính mình
Tính từ bài thơ đầu tiên viết năm 15 tuổi (tháng 9/1995), sau này được đưa vào tập thơ đầu tay (Khát, NXB Hội Nhà văn, 1999), Vi Thùy Linh đã có một hành trình sáng tác 30 năm với 7 tập thơ. 30 năm trôi đi gắn với bao đổi thay, biến động trong đời sống, thiếu nữ Vi Thùy Linh đã là bà mẹ hai con.
Xem thêm
Nhạc sĩ Thế Hiển - Người lính không mang quân hàm
Bài viết của NSND Nguyễn Thị Thanh Thúy
Xem thêm