TIN TỨC

Truyện ngắn các tác giả họ Phùng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-10-07 13:42:12
mail facebook google pos stwis
2063 lượt xem

Có phải vậy chăng mà văn mạch họ Phùng luôn được trao truyền từ đời này sang đời khác trải các triều đại hưng suy đều hiện lên tấm lòng ưu dân ưu nước, những vẻ đẹp cần lao nhân văn thấm đẫm tinh thần Phùng tộc luôn đồng hành với đất nước, non sông...

Họ Phùng phát xuất từ Sơn Tây - xứ Đoài, một vùng “đất sỏi chạch vàng”. Đất đá ong (“khô nhiều ngấn lệ” - Quang Dũng) và mây trắng (“Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm” - Quang Dũng) là hai nét đậm và nhịp mạnh của tâm thức và tính cách người Sơn Tây. Từ đó sản sinh ra những anh hùng và những nhà thơ. Trong số những dòng họ cư trú lâu đời và nổi tiếng ở vùng đất sông Đà - núi Tản và núi Thầy - sông Đáy, thì họ Phùng, họ Đỗ là những dòng tộc tiêu biểu. Riêng họ Phùng đã có những nhân vật văn võ song toàn như Phùng Hưng, Phùng Thanh Hòa, Phùng Khắc Khoan…

Về truyện ngắn của các nhà văn đương đại họ Phùng cũng rất phong phú, đa dạng. Nhưng, có lẽ, điểm khác biệt ấy mang dấu ấn phả hệ của dòng họ Phùng. Trước năm 1945, những cây bút truyện ngắn đại tài như Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao… Sau năm 1945, đặc sắc hơn cả là truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp… Nằm giữa hai bờ thời gian này có một cây bút truyện ngắn độc đáo, xuất sắc, nhưng ít người biết đến là Phùng Cung. Truyện của ông viết về một thời kỳ bước ngoặt trong xã hội Việt Nam. Cái cũ đã chết nhưng chưa qua, cái mới đã định hướng nhưng chưa định hình. Tồn tại nhiều hình thái nửa dơi nửa chuột, nửa trăng nửa đèn, tranh tối tranh sáng. Điều này tạo ra sự xuống cấp văn hóa, tha hóa nhân cách. Truyện ngắn Phùng Cung xứng đáng in một tập riêng. Điều này hẳn nhóm nhà văn họ Phùng đã tính đến và trong thời gian tới sẽ tập hợp, biên soạn và đem tới dư vị riêng ấy đến độc giả.

Truyện ngắn tác giả họ Phùng (Nxb Văn học & Viện Nhân học Văn hóa, 2022).

Trong tuyển tập này, Truyện ngắn tác giả họ Phùng (Nxb Văn học & Viện Nhân học Văn hóa, 2022), Viện Nhân học Văn hóa giới thiệu 6 cây bút thuộc thế hệ đàn em Phùng Cung. Đó là Phùng Thành Chủng (sinh năm 1950), Phùng Phương Quý (sinh năm 1953), Phùng Quốc Hiển (sinh năm 1958), Phùng Kim Trọng (sinh năm 1962), Phùng Văn Khai (sinh năm 1973) và Phùng Gia Thế (sinh năm 1977). Đây là các nhà văn U50 đến U70, thuộc các thành phần xã hội khác nhau, sinh sống ở những không gian trong và ngoài xứ Đoài. Họ nổi tiếng không chỉ trong dòng tộc Phùng gia, mà trên cả nước, không chỉ ở lĩnh vực truyện ngắn mà còn cả ở thơ, tiểu thuyết, khảo cứu và lý luận phê bình. Trong lời giới thiệu, tôi xin khái quát ngắn gọn văn phong cũng như thành tựu về truyện ngắn của các tác giả họ Phùng.

Phùng Thành Chủng, quê ở Quốc Oai, Sơn Tây. Sau khi đi bộ đội về, ông học thêm chữ Hán, chữ Nôm, làm nghề dịch thuê gia phả, biên soạn địa chí xã, huyện, sưu tầm văn học dân gian Hội Rô. Ông còn viết báo, viết văn, làm thơ. Thơ Phùng Thành Chủng có cách tân về ngôn ngữ, cách cấu tứ và sáng tạo ý tưởng. Ngược với sự bay bổng của thơ, văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng của Phùng Thành Chủng lại thâm trầm, đáo để.

Ở mảng đề tài lịch sử, đúng hơn là dã sử, Phùng Thành Chủng dựa trên những tư liệu dân gian khi dịch gia phả, thần phả, để dựng lên những truyện giả - lịch sử, nhằm chuyên chở và giải đáp những vấn đề hiện đại. Ở đây, ngòi bút ông nghiêm cẩn, tri thức uyên thâm, quảng bác. Còn ở mảng đương đại - hài hước, sắc lạnh. Nối giữa hai mảng này là những mô típ báo ân báo oán, theo thuyết di truyền của nhà văn Émile Zola.

Phùng Phương Quý khoảng trên mười năm trở lại đây xuất hiện khá đều đặn trên các địa chỉ văn học lớn: Văn nghệ; Văn nghệ quân đội; Văn nghệ công an; Quân đội nhân dân... đã tạo được thiện cảm của bạn đọc với thể tài truyện ngắn. Đã có sự dụng công và nhuần nhuyễn từ văn phong tới cốt truyện. Tuy chưa nổi trội song những dấu ấn mà Phùng Phương Quý tạo dựng được đã xứng đáng là một nhà văn viết truyện ngắn bước đầu khẳng định được mình.

Nhà văn, Ts Phùng Quốc Hiển -  Nguyên Phó chủ tịch Quốc Hội

Phùng Quốc Hiển là một cây bút mới xuất hiện. Văn phong chững chạc. Mạch truyện dồi dào, phản ánh khá đa dạng các vấn đề trong xã hội đã tạo lập sự tươi tắn và sum suê trong tập sách. Có cảm giác, Phùng Quốc Hiển đã dồn nén, tích lũy văn nghiệp từ lâu đến bây giờ mới bung nở. Một số truyện ngắn in trên Văn nghệ quân đội gần đây đã cho thấy nội lực tiềm tàng của một cây bút họ Phùng cũng là đóng góp đáng kể của Phùng Quốc Hiển ở chặng đường đầu tiên trên những trang văn.

Truyện ngắn Phùng Kim Trọng lại có thế mạnh ở một khu vực khác. Nhạy cảm và có phần phản biện quyết liệt, thêm tính hài hước, uy mua đã tạo cảm giác sắc ngọt và đau đớn trong mỗi truyện ngắn của ông. Xuất hiện cùng lứa với Sương Nguyệt Minh song Phùng Kim Trọng đã có nhiều khoảng lặng để bạn đọc phải đón chờ. Tập hợp chùm truyện của ông trong văn mạch họ Phùng là rất cần thiết để bạn đọc hình dung đầy đặn hơn về những sáng tác của ông.

Nhà văn Phùng Văn Khai

Nghiệp văn của Phùng Văn Khai bắt đầu bằng truyện ngắn. Truyện của Khai có tính chất cổ điển, cốt truyện rõ ràng, kể tả rành mạch như truyện Ma Văn Kháng. Ngòi bút của Phùng Văn Khai nổi lên hai giọng điệu, hai chủ âm, hai hệ thống hình tượng. Một là giọng điệu trữ tình đằm thắm của vùng quê Hưng Yên của anh. Nơi có câu chuyện tình nổi tiếng, thiên cổ kỳ văn, của Tiên Dung và Chử Đồng Tử, có Đoàn Thị Điểm, Chu Mạnh Trinh, hai nhà thơ trữ tình nổi tiếng. Hai là giọng điệu hào sảng, phá cách và phá chấp, pha chút anh hùng thảo dã Lương Sơn Bạc.

Hai giọng điệu này tưởng như đối lập nhau, tương khắc, nhưng lại hòa quyện nhau, tôn nhau lên, tương sinh. Tôi còn nhớ truyện ngắn cũng là đầu tiên đọc Phùng Văn Khai, Hồn quỳnh, gây ấn tượng mạnh trên Tạp chí Văn nghệ quân đội. Đã đành đây là một truyện ngắn hay, nhưng đáng nói hơn nó ẩn chứa những yếu tố dự báo cho đời văn học của Phùng Văn Khai. Đó là anh sẽ trở thành một nhà viết tiểu thuyết lịch sử giàu tâm huyết và nhiều thành công như bây giờ. Tác giả của những bộ tiểu thuyết như Phùng Vương, Ngô Vương, Nam Đế Vạn Xuân, Triệu Vương phục quốc, Lý Đào Lang Vương, Lý Phật Tử định quốc, đều viết về các anh hùng dân tộc, các hoàng đế, quân vương đánh giặc trị quốc nổi tiếng của Đại Việt ta trong tiến trình lịch sử.

Phùng Gia Thế, quê Phú Thọ, cây bút trẻ nhất trong các tác giả truyện ngắn họ Phùng. Anh tốt nghiệp Đại học Sư phạm 2 Xuân Hòa - Vĩnh Phúc. Đi dạy nhiều năm ở miền núi, rồi trở về trường cũ giảng dạy và đảm đương các cương vị chủ chốt của nhà trường. Làm luận án tiến sĩ về văn học hậu hiện đại ở Việt Nam. Đây là một đề tài lúc bấy giờ còn hết sức mới mẻ, nên cũng rất khó khăn, nhưng đã thành công vang dội.

Phùng Gia Thế có nhiều công trình về lý luận phê bình, đặc biệt về hậu hiện đại. Hẳn vì thế khi viết truyện ngắn thì truyện ngắn của anh cũng có hơi hướng hậu hiện đại chủ nghĩa. Đấy là những câu chuyện được kể miên man, có khi không đầu không cuối, có khi như dòng ý thức tự trôi chảy. Nào là chuyện làng chuyện xóm. Nào là dạy học ở những điểm trường ở vùng núi cao sát biên giới. Nhưng đằng sau những tiểu truyện ấy là những vấn đề thời cuộc, những con người nhỏ bé bị cuộc đời xô đẩy, và sau hết, là cảm xúc, cảm nghĩ, tâm trạng của tác giả.

Nhà văn Phùng Gia Thế.

Dường như đã từ lâu, sớm có một văn mạch họ Phùng. Từ thời Hùng Vương dựng nước đã sớm có một Phùng Lực Đại Vương tài văn tài võ đều nức tiếng đã giúp vua Hùng dựng nước được lưu truyền thờ tại nhiều nơi trên cả nước mà vừa qua Hội đồng họ Phùng Việt Nam phối hợp với Tiến sĩ Vương Thị Hường - cán bộ Viện Nghiên cứu Hán - Nôm dịch bản thần phả thần tích về đức ngài và đã trao tặng nơi thờ tự là Di tích Miếu Ba Vua tại xã Vinh Quang, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Phùng Lực Đại Vương cũng là người giúp Hùng Duệ Vương định đô lập quốc chế định triều nghi đã được ghi vào sử sách cũng là khởi thủy của văn mạch võ công dòng dõi họ Phùng vậy.

Tiếp đó, phải kể đến Hưng Nhân Đại Vương Phùng Tá Chu - Thái phó lưỡng triều Lý - Trần tài văn đã đi vào sử sách. Nhiều bản tham tấu, nhiều tham mưu quyết sách của ông đều được nhà Lý và nhà Trần ghi nhận, thật xứng danh văn mạch họ Phùng.

Nổi tiếng đã trên dưới năm trăm năm, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan tài thơ văn thần thông diệu thủ của quan trạng không chỉ vang danh trời Nam mà còn kinh tâm phương Bắc khiến vua quan nhà Minh phải nể phục, các sứ thần Triều Tiên, Nhật Bản đều kính trọng là bậc quốc sĩ của một nước. Gần hai ngàn trang văn của đức cụ Trạng còn lưu truyền tới hôm nay.

Có phải vậy chăng mà văn mạch họ Phùng luôn được trao truyền từ đời này sang đời khác trải các triều đại hưng suy đều hiện lên tấm lòng ưu dân ưu nước, những vẻ đẹp cần lao nhân văn thấm đẫm tinh thần Phùng tộc luôn đồng hành với đất nước, non sông. Trên tinh thần ấy, Truyện ngắn tác giả họ Phùng là một dòng chảy nhỏ trong tâm thức lớn của ngàn năm Phùng tộc vậy.

Như vậy, Truyện ngắn tác giả họ Phùng là một tuyển tập của các cây bút họ Phùng, nhưng không chỉ nói về họ Phùng, mà nói về cả dân tộc, cả đất nước Việt Nam từ xưa đến nay. Tác giả đều là những người có cá tính, có trình độ học thức và trình độ văn hóa. Họ có bút pháp đa dạng, từ cổ điển đến hiện đại và hậu hiện đại. Tôi tin rằng đọc tuyển tập truyện ngắn này bạn đọc, cũng như tôi, sẽ có những trải nghiệm thú vị và bổ ích về văn chương, về cuộc đời. Tôi hân hạnh được chuyển nó đến tay bạn đọc.

Đỗ Lai Thúy

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm