TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ - Một trường hợp đặc biệt của thi ca Việt Nam hiện đại

Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ - Một trường hợp đặc biệt của thi ca Việt Nam hiện đại

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-03-20 08:19:13
mail facebook google pos stwis
2693 lượt xem

TRẦN THỊ HỒNG HOA

Huỳnh Văn Nghệ là một trong những nhà quân sự tài ba, lập nhiều chiến công của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngoài tài năng quân sự, ông còn được trời ưu ái cho một tâm hồn thi ca mẫn cảm, được nhân dân yêu quý phong tặng danh hiệu “thi tướng”. Và nhìn trên phương diện văn học sử, có thể nói Huỳnh Văn Nghệ là một trường hợp đặc biệt của thi ca Việt Nam hiện đại nói chung và phong trào Thơ mới nói riêng.

1. Phong trào Thơ mới khởi phát từ năm 1932 và kéo dài đến 1945, khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Khi lựa chọn tác giả đưa vào trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân đã không đả động gì đến cái tên Huỳnh Văn Nghệ cũng như một vài tên tuổi khác. Nguyên do thật vô cùng. Chỉ có một sự thật chắc chắn rằng những sáng tác đầu tay của Huỳnh Văn Nghệ diễn ra trong thời kì Thơ mới và cũng hòa chung với âm hưởng chủ đạo của thơ ca giai đoạn này. Trong bài Chiếc lá thị thành, nhà văn Mộng Tuyết cho biết Huỳnh Văn Nghệ có những bài thơ tình “mùi mẫn” đậm chất lãng mạn của Thơ mới trên báo Sống. Số 26 ra ngày 21 tháng 8 năm 1935 của báo này đăng bài Xé nát thơ tình của ông với những câu thơ: Chiều nay anh xé nát những thơ tình/ Thả tung theo gió chiều như đàn bướm/ Rủ nhau nhào xuống bể xanh sóng gợn/ Để hợp bầy cùng bóng bướm dưới dòng xanh/ Bỗng hai đàn ướt cánh nổi lênh đênh/ Vì anh sợ… rồi đây anh cũng thế/ Nên quá yêu em anh không buồn kể/…/ Vì yêu em anh nhúng ướt đôi cánh vàng/ Rồi âm thầm thương tiếc khoảng không gian.

Báo Sống số 27 ra ngày 28 tháng 8 năm 1935 đăng bài Trăng tàn trên sông phảng phất phong vị của Tì bà hành ngày trước. Bài thơ là cuộc trò chuyện giữa đôi tình nhân cũ: Bên bờ sông, tiếng cú gọi trên cây/ Trong bóng tối gieo mối buồn trên quãng vắng. Khi chàng trai vừa nghe thấy tiếng hò quen thuộc và vui mừng tìm tới mong nối lại tình xưa cũ Kìa ai ơi. Hãy đợi nhau cùng/ Trăng khuya sắp tắt, gió thổi lạnh lùng/ Anh đi tìm nàng Ái Ân yêu dấu/ Trên chiếc thuyền tự bao giờ chưa đậu/ Đã mỏi mê anh chửa gặp người yêu/ Ngày đêm trôi bên cảnh vật đìu hiu/.../ Em phải chăng người lau ráo lệ anh/ Vừa khuyên lơn an ủi, dỗ dành/ Cho anh bớt buồn, thương giữa chốn mênh mông bát ngát thì bị cô gái đáp trả một cách lạnh lùng, gay gắt: “Trăng đã tàn, đêm sẽ tối, ai ơi”/ Đi tìm bạn ái ân? Ôi, đã muộn rồi/ Người đã yêu anh, anh không muốn biết/ Bỏ ai lại bên sông với bao nhiêu thương tiếc/ Anh rứt ra đi phỉ chí tang bồng/ Để mặc ai ôm mãi vết thương lòng/ Mấy năm qua chỉ vì anh đau khổ/…/ Nay anh trở về than khóc bên sông/ Thì kẻ anh yêu nay đã có chồng/ Ái Ân nay không còn là Ái Ân ngày trước/ Đừng kiếm mất công không bao giờ tìm được/ Hãy về đi, trở lại con đường xưa/ Rồi quên em trong gió bụi nắng mưa.

Số báo 30 tiếp tục đăng bài Em không muốn của Huỳnh Văn Nghệ với những khát khao tình cảm nồng cháy như Xuân Diệu trong Vội vàng: Anh yêu em? Nơi nào? Anh hãy nói/ Mà mãi lắng tai nghe tiếng gọi/ Mà mãi âu sầu thương, nhớ vẩn vơ/ Để bên anh năm, tháng ai đợi chờ/ Này trông em: ánh xuân tươi sắp biệt/ Hãy yêu em kẻo trễ bạn lòng ơi.

Với nội dung thơ, giọng điệu thơ, âm hưởng thơ như thế, chúng ta có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng Huỳnh Văn Nghệ là một nốt nhạc trong dàn đồng ca Thơ mới 1932 - 1945. Tuy nhiên đây là một nốt nhạc đặc biệt. Bên cạnh những đặc trưng chung của Thơ mới, thơ Huỳnh Văn Nghệ giai đoạn 1932 - 1945 vẫn có những nét riêng khác biệt với các nhà thơ Thơ mới cùng thế hệ, trong đó điểm cốt lõi nhất là sự khác biệt về quan niệm thi ca. Đa phần các nhà Thơ mới đề cao nghệ thuật vị nghệ thuật, coi thơ ca là phản ánh tâm hồn lãng mạn của thi sĩ. Xuân Diệu từng viết Là thi sĩ nghĩa là ru với gió/ Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây (Cảm xúc). Thế Lữ thì cho rằng mình chỉ là khách tình si/ Ham vẻ đẹp có muôn hình muôn thể (Cây đàn muôn điệu). Tuy nhiên ở miền Nam, Huỳnh Văn Nghệ lại có một quan niệm khác về thơ ca. Mặc dù chưa quyết liệt, mạnh mẽ như Sóng Hồng Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ/ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền (Là thi sĩ) nhưng quan niệm thơ ca của Huỳnh Văn Nghệ rất rõ ràng: Dùng ngòi bút phục vụ cho công cuộc giải phóng đất nước, dân tộc khỏi họa xâm lăng. Trong Trăng lên, ông đã mượn lời một người thi sĩ bày tỏ khát vọng có được tiếng đàn gảy lên khúc ca hận để thức tỉnh nhân dân cùng đứng lên chống kẻ thù chung, thống nhất hai miền Nam - Bắc: Rồi âu sầu thi sĩ bảo tôi rằng/ Muốn làm sao ta có sợi dây đàn/ Đem giăng thắng nối hai chòm Nam, Bắc/ Chờ tiếng xôn xao ban ngày đã tắt/ Ta trỗi lên khúc “Hận ngàn thu”/ Nghe đàn ta hăm lăm triệu đồng bào/ Bỗng nhớ rằng mình cùng chung nỗi hận/ Như bầy chim cùng chung số phận/ Trong một lồng sắt cứng, cánh còn non. Bài Mộng làm thơ là một tuyên ngôn đanh thép của ông sẽ đứng về phía nhân dân cần lao: Chàng chỉ muốn đề thơ bằng máu/ Trên mây hồng cho gió rải cùng trời/ Để những người đau khổ khắp nơi nơi/ Ngừng đau khổ/ Và thương nhau/ Khi thấy hàng chữ máu. Quan niệm thơ ca trên khá gần gũi với nhận thức của Tố Hữu trong Từ ấy: Tôi buộc lòng tôi với mọi người/ Để tình trang trải với trăm nơi/ Để hồn tôi với bao hồn khổ/ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.

2. Với một quan niệm như trên, thơ Huỳnh Văn Nghệ chan chứa giá trị nhân đạo. Ông bộc lộ tình cảm xót thương đối với những kiếp người nghèo khổ, bất hạnh. Nhìn đám ma của người đàn ông trong mưa lạnh, ông ngậm ngùi cho người nằm xuống, cảm thương cho người vợ trẻ cùng đàn con dại bước theo sau: Đám ma ai giữa mưa dầm gió lạnh/ Bốn người khiêng lắt léo chiếc quan tài/ Người vợ kêu trời khan cả giọng/ Ẵm con thơ lần bước dưới mưa rơi/ Sau góa phụ còn hai con trẻ dại/ Dắt dìu nhau nheo nhóc khóc không thôi/ Và sau nữa… không còn ai nữa hết/ Bầy chó theo sủa mãi đám ma côi (Đám ma nghèo). Ông ái ngại, xót xa cho người bà nghèo cứ mải miết bước đi như vô định để bán cau khô giữa trưa hè rực lửa nắng cháy da, cháy thịt: Trên đường cát xa thăm thẳm ấy/ Bà bán cau, gánh nặng trên vai oằn/ Lẹ làng đi, dưới chân cát cháy/ Nón, dù đâu? Nắng đốt chiếc khăn rằn/ Gió bốc khói tung lên cuộn bụi trắng/ Xóm mờ xa khuất dạng sau rừng tre/ Mồ hôi chảy vòng quanh đôi má rám/ Bà bán cau bước mãi dưới trưa hè (Bà bán cau).

Ngoài cảm hứng nhân đạo, tình yêu nước cũng là một chủ đề lớn trong thơ Huỳnh Văn Nghệ. Yêu quê hương, Huỳnh Văn Nghệ đã viết lịch sử đất nước bằng thơ. Bài Lịch sử quê hương của ông là lời nhắc nhớ với người dân miền Nam về cội nguồn của mình. Người miền Bắc và người miền Nam đều chung một nguồn cội, không thể phân chia thành các vùng miền khác nhau với các chế độ khác nhau như lời thực dân Pháp rêu rao, đầu độc: Ngày xưa có đoàn người từ miền Bắc/ Chán ghét vua quan áp bức/ Họ đạp núi rừng vượt sóng biển khơi/ Đi vào Nam làm lại cuộc đời/ Tìm đất mới gieo mầm hạnh phúc/ Có con sông cũng tìm hướng Bắc/ Vượt núi rừng ghềnh thác/ Tràn vào Nam cuộn cả bóng mây cao. Ý thức Nam - Bắc chung nguồn cội ấy cũng biểu hiện rõ nét trong Nhớ Bắc, bài thơ nổi tiếng nhất của ông. Nhớ Bắc thể hiện niềm tự hào về một dân tộc Việt Nam trọng tình, trọng nghĩa, ngàn năm văn vật. Con người Việt dù đi đâu về đâu vẫn nhớ về nguồn cội con Lạc cháu Hồng, vẫn nhớ về Thăng Long ngàn năm văn hiến, trái tim, biểu tượng của người Việt: Ai đi về Bắc ta đi với/ Thăm lại non sông giống Lạc Hồng/ Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long. Trong tâm thức của Huỳnh Văn Nghệ, đất nước như một người mẹ hiền trải qua bao năm tháng vẫn vững vàng che chở, nuôi dưỡng đàn con thơ: Mẹ Việt Nam tuổi bốn mươi thế kỉ/ Gót Cà Mau, đầu tận ải Nam Quan/ Cửu Long Giang buông dài làn sóng tóc/ Dựa Trường Sơn đứng gác Thái Bình Dương (Việt Nam).

Đề tài lớn nhất, xuyên suốt trong phần lớn sáng tác của Huỳnh Văn Nghệ là cuộc sống, chiến đấu của quân và dân chiến khu Đ anh dũng, kiên cường. Chiến khu Đ là căn cứ địa cách mạng gắn liền với tên tuổi Huỳnh Văn Nghệ. Cái tên chiến khu, như lời ông tâm sự, ra đời trong một cuộc thảo luận bên ấm trà giữa ông và những người đồng chí đồng đội. Sau cùng chiến khu Đ là cái tên được lựa chọn, mở ra một trang sử huy hoàng của quân và dân Nam Bộ trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp: Sau Nam Kì khởi nghĩa/ Trước cách mạng mùa thu/ Có một nhóm đồng chí/ Ra thành lập chiến khu/ Ngồi quanh một ấm chè/ Thảo luận suốt trưa hè/ Tên chiến khu bất khuất/ Đồng Nai hay Đất Cuốc/ Rốt cuộc Chiến khu Đ/ Đã bao mùa lá vàng rơi từ ấy/ Chiến khu Đ vẫn đỏ máu quân thù.

Viết về chiến khu Đ, Huỳnh Văn Nghệ ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, đất trời nơi đây: Rừng đẹp như một bài thơ cổ/ Cành cao vượn hú/ Ríu rít tổ chim/ Bờ suối đỏ hoa sim/ Thảm cỏ xanh điểm vàng quả bứa/ Đêm trăng một người một ngựa/ Lỏng cương cho gió ráo mồ hôi (Rừng đẹp).

Viết về chiến khu Đ, Huỳnh Văn Nghệ viết về những khó khăn, vất vả mà mình và đồng đội đã trải qua. Đó là những bữa ăn thiếu thốn, củ khoai, củ sắn chia nhau, là những buổi hành quân dài gian lao, mệt mỏi: Thương cả đoàn quân đi dưới nắng mưa/ Áo ướt rồi khô, khô rồi lại ướt/ Nước mắt ống tre, muối mè cơm vắt/ Nương áo nhu lần bước đêm rừng/ Mệt hoa mắt, mỏi rã chân (Hành quân).

Viết về chiến khu Đ, Huỳnh Văn Nghệ viết về những năm tháng chiến khu nguy ngập trước sức tấn công điên cuồng của kẻ thù: Mất bờ sông là mất một nửa chiến khu/ Mất nước ngọt bờ tre gió mát/ Thuyền tiếp tế lúa khoai chìm đáy nước/ Đường giao thông liên lạc đứt đôi bờ (Bờ sông bị chiếm).

Viết về chiến khu Đ, Huỳnh Văn Nghệ ngợi ca sự dũng cảm, kiên cường của người lính chiến khu. Mặc dù bị địch dọa nạt, tra tấn bằng hình thức dã man nhất là mổ bụng nhưng người lính trong Giữ bí mật vẫn nhất mực không khai: Tao quyết sẽ giết mày/ Khám phá điều bí mật/ Mổ bụng mày rõ ngay/…/ Nó rạch bụng ra coi/ Rồi mắt nó trắng nhợt/ Nhìn thấy mấy miếng khoai. Em gái nhỏ trong Em gái liên lạc chỉ cười trước lời hăm dọa cắt cổ, thả trôi sông của quân giặc: Lắc đầu em cố nói không/ Giặc hăm cắt cổ thả sông em cười. Và trong lúc thiếu thốn thuốc men, người lính đã cất cao tiếng hát để xua đi nỗi đau khi bác sĩ… cưa chân: Bác sĩ vừa cưa vừa khóc/ Chị cứu thương nước mắt tràn trề/…/ Cưa cứ cưa, xương cứ đứt/ Máu cứ rơi từng giọt đỏ hồng/ Hai tay anh siết chặt đôi hông/ Dồn đôi phổi vào trong tiếng hát/“Đoàn quân Việt Nam đi/ Chung lòng cứu quốc”/ Đã hát đi hát lại bao nhiêu lần/ Vẫn chưa đứt xương chân/ Vẫn chưa ngưng máu đỏ (Tiếng hát Quốc ca). Với bài thơ này, Huỳnh Văn Nghệ đã đưa tầm vóc của người lính chiến khu Đ lên tầm huyền thoại.

Viết về chiến khu Đ, Huỳnh Văn Nghệ viết về tình cảm gắn kết toàn quân một ý chí chiến đấu chống giặc: Cũng có người vừa đi vừa mơ ngủ/ Nhưng cả đoàn quân chung một giấc mơ (Hành quân); viết về niềm lạc quan, tin tưởng vào chiến thắng sau cùng của cách mạng: Giữa lòng dân hoa vẫn nở niềm tin/ Việt Minh sẽ về chiếm lại sông xanh (Bờ sông bị chiếm).

Viết về chiến khu Đ, giọng thơ Huỳnh Văn Nghệ vút cao hào sảng khi nói về những chiến công của quân ta trong trận đánh diệt thù: Trảng Bom lửa cháy ngập trời/ La Ngà xe giặc bời bời giữa trưa (Tình súng).

Bắt đầu từ một nhà thơ lãng mạn của phong trào Thơ mới, nhưng không cần đến một cuộc chuyển mình Theo bờ tư tưởng ta lìa ta/ Một tiếng gà lên tiễn nguyệt tà, Huỳnh Văn Nghệ đã trở thành nhà thơ - chiến sĩ một cách tự nhiên nhất. Trong con người ông, phẩm chất dũng tướng và thi nhân kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn. Cả cuộc đời vừa đánh giặc vừa làm thơ, mặc dù khiêm tốn tự nhận Gửi lại bạn những vần thơ trên cát/ Và giờ đây tôi qua bến lên đường (Bên bờ sông xanh) nhưng với những gì cống hiến cho sự nghiệp cách mạng và thơ ca, thi tướng Huỳnh Văn Nghệ đã trở thành huyền thoại trong nhân dân. Ông đã sống một cuộc đời đầy ý nghĩa, thỏa mãn Nợ tang bồng vay trả trả vay/ Chí làm trai nam bắc đông tây (Nguyễn Công Trứ) của một trang hảo hán trong thời loạn.

Nguồn: http://vannghequandoi.com.vn

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm