TIN TỨC

Xuân Phượng và những ngả rẽ định mệnh trong đời

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-04-11 23:48:01
mail facebook google pos stwis
2238 lượt xem

Thật khó mà định vị nghề nghiệp của người phụ nữ có tên Xuân Phượng, tác giả của Gánh gánh gồng gồng (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2020), bởi cuộc đời hết sức phong phú và thú vị của bà đã đưa người phụ nữ 93 tuổi đi qua không biết bao nhiêu trải nghiệm khó quên.

Ở tuổi ấy, danh mục nghề nghiệp của Xuân Phượng kéo dài qua hai thế kỷ, từ chuyên gia thuốc nổ, phiên dịch, bác sĩ, phóng viên chiến trường tới đạo diễn, chủ phòng tranh, nhà văn…

Từ nữ sinh đến phóng viên chiến trường

Năm 1945, ở tuổi 16, bà cùng người cậu bí mật từ giã gia đình, đạp xe ra bờ sông, để vào chiến khu. Gần đến nơi, chiếc xe của cậu bị xẹp bánh, người cậu chạy về lấy bơm xe. Ngay lúc đó, lính Pháp đi càn, không chờ cậu được, vội bỏ xe đạp, một mình bà lên đò. Con đò đưa cô nữ sinh xuất thân từ gia đình tri thức trung lưu ở Huế, thoát ly theo cách mạng.

Khi Bộ quốc phòng tìm người biết tiếng Pháp vào Nga nghiên cứu kỹ thuật Bộ quốc phòng, bà là người nữ duy nhất được chọn về làm việc ở Quân giới Liên khu IV. Bà phụ trách 1 tổ Pulmynate (thuốc làm kíp nổ) mà không biết rằng từ việc này, mình trở thành một trong 3 người phụ nữ Việt Nam đầu tiên chế tạo thuốc nổ.


Tác giả Xuân Phượng.

Năm 1967, bà là phiên dịch cho đoàn phim của đạo diễn người Hà Lan Joris Ivens khi làm phim Vĩ tuyến 17 – chiến tranh nhân dân. Đây là chuyến đi định mệnh để tiếp tục đưa cuộc đời bà sang trang khác. Ông Ivens khuyên bà nên làm phóng viên chiến trường vì thấy bà rất có khả năng. Điều này làm bà đắn đo suy nghĩ mãi, khi mình đã ở tuổi 37 mà chuyển ngành, bỏ công việc ổn định lương cao, chuyển sang làm phóng viên chiến trường là trở về lương khởi điểm như người lao công.

Nhưng rồi bà đã quyết! Năm 1968, Xuân Phượng được cử đi B (chiến trường miền Nam), là nữ phóng viên chiến trường hiếm hoi của Việt Nam ở thể loại “hình ảnh động”. Từ đó, bà đi khắp các chiến trường ác liệt nhất, thể hiện những thước phim quay được thành những bộ phim tài liệu ấn tượng trong vai trò đạo diễn, quay phim.

Bôn ba nước ngoài tìm việc ở tuổi 60

Năm 1989, khi nghỉ hưu, đời sống khá chật vật, bà nghĩ, người ta xuất ngoại từ tuổi thanh niên, mình đi lúc tuổi hưu, tìm cơ hội xem sao. Bà đi vay bạn bè tiền để đi mua một chiếc vé máy bay đi Pháp mà bà phải nói dối là mở tiệm kẻo mọi người lại trách mình… lẩm cẩm.

Thời gian ở Pháp, bà làm thông dịch. Một số người đề nghị bà nên quảng bá văn hóa Việt, trong đó có cả những bạn đang cầm cọ vẽ ở Pháp. Đây chính là bước ngoặt của bà, vì bà tin rằng tranh ảnh là thông điệp văn hóa dễ đi vào lòng người. Bà làm ngay một cuộc triển lãm tranh Việt Nam tại Paris, Pháp trước khi chuẩn bị về lại quê nhà.

Bà kể lại: “Không ngờ tranh Việt Nam lại được yêu quý đến thế, người ta mua gần hết số tranh triển lãm. Về Việt Nam, tôi liền mở phòng tranh tư nhân đầu tiên. Khi tôi đi xin giấy phép mở phòng tranh tư nhân, cán bộ nơi cấp phép lo lắng dùm cho tôi vì thời điểm năm 1991 ấy, phòng tranh tư nhân làm sao địch nổi phòng tranh nhà nước, và phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Nhưng, từ chỗ chỉ có 2000 USD để mở, bây giờ phòng tranh Lotus của tôi đã có chi nhánh ở TP.HCM, Phú Quốc, Pháp, Nhật”.

Thực hiện hàng trăm cuộc triển lãm tranh ảnh Việt ở nhiều nơi trên thế giới, bà nghiễm nhiên trở thành một bà đỡ cho các họa sĩ trẻ Việt Nam. Bà còn tham gia làm phim, viết và phối hợp chuyển ngữ nhiều cuốn sách văn hóa, lịch sử Việt sang tiếng Pháp và ngược lại. Bà chủ gallery Lotus không ngờ có ngày, nhờ những hoạt động của mình, được Chính phủ Pháp trao Huân chương Bắc đẩu bội tinh đệ ngũ đẳng năm 2011.


Xuân Phượng kí tặng độc giả trong lần ra mắt sách.

Cuộc đoàn viên sau gần 40 năm và hồi ký để đời

Xuân Phượng xa gia đình năm 16 tuổi đến năm 60 tuổi mới gặp lại. Trong quãng thời gian đó, bà bặt tin gia đình mình.

“Sau gần 40 năm xa cách, trong bữa cơm đoàn viên lần đầu tiên được gặp lại mẹ mình, tại Pháp, mẹ tôi nói: “Con ơi, con đi giúp họ làm chi cho gia đình mình ly tán”. Từ đó, tôi hiểu rằng mình phải làm một cái gì đó” – bà kể – “Tôi muốn mẹ tôi biết rằng, nỗi đau khổ của người ra đi còn đau khổ hơn 10 lần người ở lại. Tôi đi không phải để gia đình ly tán, mà đi để có ngày được sum họp. Từ đó, tôi ý thức rằng mình phải viết lại cuộc đời của mình”.

Cũng từ phòng tranh đầu tiên ở TP.HCM này, năm 2001, bà có một người khách xem tranh đặc biệt – Tổng biên tập tờ Madame Firago. Người khách ấy ngạc nhiên khi biết bà chủ phòng tranh này từng là một phóng viên chiến trường và đề nghị Xuân Phượng kể lại câu chuyện đời mình. Ba tuần sau, bà nhận được thư từ nhà xuất bản nổi tiếng Plon, đề nghị mình viết hồi ký bằng tiếng Pháp.

Xuân Phượng nghĩ rằng bà mình làm một việc rất bình thường của người phụ nữ kể lại cuộc đời mình. Nhưng cuốn sách Áo dài đã gây tiếng vang lớn khi phát hành, và bán đến 300 ngàn bản. Bà nói rằng, đó là “một vinh dự không phải cho riêng bản thân tôi, mà là niềm vui cho tất cả những người đàn bà nào đã từng chịu đựng, vất vả, khổ đau, hy sinh”.

2 năm trước, trong thời điểm dịch Covid-19 hoành hành, phải ở nhà nhiều hơn, ở tuổi 91, bà lại ngồi vào bàn viết lại cuốn hồi ký Áo dài bằng tiếng Việt, mang tên Gánh gánh gồng gồng.

Bây giờ, ở tuổi 93, Xuân Phượng vẫn rất khỏe mạnh và minh mẫn. Bà cười giòn khi được nhiều người hỏi liệu mình có thêm những ngả rẽ định mệnh nào ở tuổi gần đất xa trời. Mà thôi, cuộc đời người phụ nữ ấy đã quá phong phú, như giới truyền thông từng gọi là một phần của pho sử phụ nữ Việt thu nhỏ, có lẽ cũng không cần phải “hỏi cắc cớ” thêm làm gì.

Thú vị “Gánh gánh gồng gồng”

Cuốn sách Gánh gánh gồng gồng đạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam ngay lần xuất bản đầu tiên năm 2020. Một thời gian dài, cuốn sách liên tục nằm trong danh mục sách bán chạy nhất của nhiều sàn thương mại điện tử. Hai tháng sau khi phát hành, cuốn sách đã tái bản, và đã tái bản lần thứ 2 với 2.000 bản in/ lần xuất bản.

 Minh Minh/Vanvn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm