TIN TỨC

Từ khải ca họa mi đến thực mơ giữa đôi bờ chùa – chợ!...

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-12 20:02:33
mail facebook google pos stwis
3403 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

Quan sát thấy trên Thi đàn Thơ Việt hiện đã khá đông đảo những doanh nhân là nhà thơ, mà tiếc là tôi chưa thấy các chuyên gia Văn học định vị giá trị thi nhân của họ! Là doanh nhân, họ đã và vẫn đang có đóng góp to lớn, thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế nước nhà phát triển. Thế còn địa vị thi nhân của họ thì sao?
 

Về câu chuyện này, tôi hy vọng chia sẻ như dưới đây có thể hé lộ chút nguyên do?

GỬI BẠN THƠ
 

Chỉ thực không mơ buồn chết chắc

Chỉ mơ không thực đói vàng răng

Thuyền ai ngự giữa dòng mơ – thực

Lưới cất, vàng reo…

                         cá lẫn trăng!”
 

            Ngày Doanh nhân Việt Nam, 13/10/2012
            (Thơ Trương Vạn Thành., Rút từ tập “Chim họa mi sổ lồng”, Nhà xuất bản Văn học, 2013, tr 52.)
 

Bài thơ như một tự tuyên về cuộc sống; cũng lại như một khuyên nhủ bạn bè… Nó khiến tôi nhận ra, kinh doanh là CÕI THỰC để tồn tại; còn thơ là CÕI MƠ  để sống… Một cuộc sống như thế, được thế, mới thật đẹp, thật xứng đáng với CON NGƯỜI, dù cái vòng quay nhân – quả, nghiệp – sinh ở đời vốn vẫn đầy những gian lao trắc trở…

Người có chia sẻ trên kia là nhà thơ Trương Vạn Thành, nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Thanh Hoa – Sông Đà ở Thanh Hóa, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Anh mới nghỉ kinh doanh năm 2022, nhưng từ năm 2008 đến nay, Trương Vạn Thành đã cho ra đời 6 tập thơ, đều do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành và hẳn sẽ còn làm nhiều thơ hơn nữa...

Ở đây, bởi không có điều kiện, nên tôi xin dẫn bình hai bài của nhà thơ dưới một cái tiêu đề: KHÚC KHẢI CA  HỌA MI  VÀ NỖI MIỀM THỰC – MƠ  GIỮA  ĐÔI  BỜ  CHÙA – CHỢ !...

 

 1.   Bài thơ:  CHIM HỌA MI SỔ LỒNG
 

Mỗi sáng

ngươi ngước nhìn bầu trời

tia nắng đầu tiên

chào ngày mới

hát ca vang lừng

lòng kiêu hãnh vô cùng

 

Ta nghe

trong tiếng ca của ngươi

suối reo

thác đổ

mây bay

hồ đầy

tiếng ca ngàn đời

lãnh địa

rừng hoang

quyền thế!

 

Ta nghe

trong tiếng ca của ngươi

cả niềm xót xa giam cầm

khát khao bầu trời

những ngày xưa thương nhớ…

 

Ta vỗ về ngươi

lồng gỗ đẹp

tấm khăn choàng thổ cẩm

cầu ngang, cóng nước điệu đàng

 

Những khi

ngươi hót

ta nấp sau khung cửa

đắm duối

mê si

Ôi... tình yêu một phía!

 

Những khi

tiếp tế cho ngươi

dọn lồng cho ngươi

kẻ nô lệ

là ta

khe khẽ trên môi

điệp khúc

bài ca hạnh phúc

 

Thế rồi

ngày ấy

ngươi đã bay đi

nơi cửa lồng ta chưa kịp đóng

Ta đứng trông theo

bóng ngươi hun hút phía chân trời

Gió từ cánh vút bay

phả vào mặt ta

mãi còn mơn man nơi sống mũi

 

Giận ngươi

kẻ khát khao tự do mông muội

để ta

mông muội đợi chờ

Cửa lồng vẫn mở

vẫn đầy nước ngọt lương khô

phòng khi ngươi có đói lòng...

Ta chẳng thèm lường gạt ngươi đâu

cớ sao không một lần trở lại?

 

Chỉ còn

mùi hương ngai ngái

chút phân khô

lồng hoang

bỏ ngỏ...
 

Họa mi!
 

Thành phố Thanh Hóa. 16/12/2011  (Rút từ tập “Chim họa Mi sổ lồng”. Nhà xuất bản Văn học. 2013, tr 58.)
                                

1.1. Đọc cái đầu đề bài thơ, hẳn cũng như ai, điều mà tôi nghĩ đến đầu tiên là câu chuyện chơi chim, một thú vui của bao người chứ chả cứ doanh nhân, cả dù đó là chim họa mi, với cả là khi rủi thay họa mi đã bay đi... bởi “cửa lồng ta chưa kịp đóng”...

Lại nữa, chơi chim ai cũng biết họa mi là chúa tể hót hay, càng nhốt, hót càng hay; nhưng không thể thuần dưỡng thả ngoài lồng được. Họa mi sống và hót hay trong lồng như một tù binh, nhưng nếu “sổ lồng” là nó sẽ bay đi như một chiến binh. Sự bay đi... vào trời xanh, mây trắng, rừng hoang... là bản ngã tồn sinh của họa mi, như một biểu tượng của khát vọng tự do, đã làm nên hình tượng về sự tự do tuyệt đối của thi phẩm!

Vậy nên, nhìn ngẫm cái đầu đề bài thơ, tôi đã tự hỏi, có ngẫu nhiên tình cờ không khi “Họa mi sổ lồng” đã thành một sự kiện thi tứ, cho thi phẩm này, của thi nhân? Câu chuyện “Họa mi sổ lồng” vụt thành câu chuyện tự do về khát vọng của con chim; cũng lại làm thức tỉnh câu chuyện về tự do và khát vọng của con người, mà cái làn ranh mất – còn, cái giới biên vô cùng và hữu hạn... vẫn chưa bao giờ ngưng nghỉ xung đột với nhau, hoán đổi cho nhau... như một bi ca tồn sinh của cuộc sống...

Tôi đọc bài thơ mà thức – nhận được cái thông điệp tư tưởng của thi phẩm, thức – nhận được cái rộng dài cao xa vô tận của “cõi mơ”, giữa biết bao trói buộc, chật hẹp, thấp hèn, của hữu hạn một đời nơi “cõi thực”... Vì thế mà tôi đã gọi bài thơ “Chim họa mi sổ lồng” là khúc khải ca của tự do!

1.2. Cái chất khải ca mà tôi thấy ở đây khởi từ khổ thơ đầu, chính ngay từ chữ đầu tiên của bài thơ! Tôi biết, tùy vào vị thế xã hội, mỗi người có thể đưa ra vô khối những quan niệm của họ về thơ; lại cũng từ động cơ mục đích nghiên cứu mà người ta có thể đưa ra định nghĩa không giống nhau về thơ; trong khi ai cũng thấy, xét đến cùng, thì rõ ràng thơ là chữ nghĩa, là nghệ thuật ngôn từ.
 

Xin hãy đọc:

 

“Mỗi sáng

ngươi ngước nhìn bầu trời

tia nắng đầu tiên

chào ngày mới

hát ca vang lừng

lòng kiêu hãnh vô cùng”
 

Đấy, bạn thấy chưa, đã cảm thấy cái nhịp điệu của từng câu thơ; cái âm giai trầm thống nỗi bi ca khởi đầu từ chữ “MỖI” ở đầu câu thơ, của bài thơ chưa?! Cứ từ chữ nghĩa, thì “Mỗi sáng/...” cũng như là “Sáng sáng/...” ; nhưng nếu tôi viết “Sáng sáng/...”, thì đó chỉ là một sự tả thực; không thể khiến hoài niệm trào dâng như “Mỗi sáng/...” là chữ mà thi phẩm đã dụng tâm chọn lựa. Bởi “ngươi” niềm “kiêu hãnh” ấy đã bay đi rồi, chỉ còn kia là chiếc lồng trống không, trùm lên “ta”, giam nhốt tâm tưởng “ta” mãi vẫn trong vang vọng hoài niệm tiếng ca của “ngươi” mỗi sáng...

“Kiêu hãnh”, phải! “Ngươi” chẳng cần che dấu giá trị đã làm nên bản thân “mi” ! Và, tôi bỗng nhận ra từ sự “sổ lồng” vượt thoát vào tự do của “ họa mi”, là tiếng ca chim để lại, đã như một cái lồng vô hình trùm nhốt, giam cầm “ta” trong đó...

 

1.3.  Thế rồi “Ta nghe...” ..., thế rồi “Ta nghe...”..., tiếng chim và niềm đau hoài vọng cứ tuôn trào hết lớp này qua lớp khác!...
 

Có khi:

Ta nghe

trong tiếng ca của ngươi

suối reo

thác đổ

mây bay

hồ đầy

tiếng ca ngàn đời

lãnh địa

rừng hoang

quyền thế!

 

Có lúc:

Ta nghe

trong tiếng ca của ngươi

cả niềm xót xa giam cầm

khát khao bầu trời

những ngày xưa thương nhớ…

.....

Và, thế là chất sử thi bắt đầu những phức điệu làm nên khải ca, hát lên những cung bậc, trạng huống mà “ta”“ngươi” đã trải qua suốt cả thi phẩm; mà tôi có thể cảm thức đủ đầy qua kết cấu câu chữ ít nhiều, dài ngắn của mỗi khúc đoạn tự do của bài thơ. Để rồi đứng lại là giai điệu dỗi hờn sau cuối... khiến tôi không khỏi chạnh lòng:

Giận ngươi

kẻ khát khao tự do mông muội

để ta

mông muội đợi chờ

...

Họa mi! ”

Và, tôi hiểu, rồi sẽ vẫn còn vang mãi nỗi khát khao tự do đến “mông nuội” , với vẫn một niềm hoài niệm đến khôn nguôi... Tôi hiểu “mông muội” trong ngữ huống trên đã biểu đạt được mức độ đắm say tình yêu tự do của cả “ngươi”“ta”, mà không phải là trạng thái “u mê” của ý thức tuyệt đối về giới hạn của nỗi niềm tự do ấy.

Bỗng... tôi lại nghe văng vẳng đâu đây sẻ chia của Thi nhân: 

 

 Thuyền ai ngự giữa dòng mơ – thực

Lưới cất, vàng reo…

                         cá lẫn trăng!”

Và, tôi tin, kẻ đã đứng vững vàng giữa dòng mơ – thực” hơn nửa cuộc trường sinh thế kỷ không thể không biết  “Tự do là cái tất yếu được nhận thức” (Heghen) khi viết xong bài thơ “Chim họa mi sổ lồng” này vào ngày 16 tháng 12 năm 2011...

2.  Doanh nhân Trương Vạn Thành giờ đã rút hẳn khỏi “chiến sự kinh doanh...” từng trải ngót nửa thế kỷ tranh đấu không chỉ vì lợi – quyền của bản thân mình. Tập thơ thứ 6, tập mới nhất của anh vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành có tên là : TÔI ĐI GIỮA CHỢ VÀ CHÙA, như nói cho tôi biết phía trước anh vẫn còn đó một hành trình mới!...

 

2.1.  Đây, bài thơ thứ hai: TÔI ĐI GIỮA CHỢ VÀ CHÙA
 

Phố tôi bên chợ bên chùa

Chợ xưa chùa cũ tứ mùa bình yên

Đã đành ở cũng thành quen

Lao xao chợ với thâm nghiêm nâu sồng

 

Bên thì sắc sắc không không

Bên thì co kéo từng đồng sớm trưa

Bên thì mõ gõ lưa thưa

Bên thì tất bật rau dưa cua cà

 

Phố nhà hay có chim sa

Con chim tội nghiệp ai đà phóng sinh

Hòa trong tiếng kệ tiếng kinh

Tiếng người khất thực, tiếng mình lơ ngơ

 

Cửa chùa cây gạo bất ngờ

Sáng nay hoa nở ngẩn ngơ cả trời

Tình nồng oan trái chia phôi

Tim yêu cháy giữa bời bời tuôn mưa
 

Tôi đi giữa chợ và chùa...
 

3/2020
Thơ Trương Vạn Thành (Rút từ tập TÔI ĐI GIỮA CHỢ VÀ CHÙA, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2022, Tr.20-21)

2.2  Cũng phải thôi! Hơn mười năm sau tráng ca “Chim họa mi sổ lồng”..., giờ đây là “Tôi đi giữa chợ và chùa” với những nhịp bước đầy chiêm nghiệm. Tôi cũng mãi theo chân thi nhân,  đến gần nhập tâm cái khúc Sáu – Tám ông bà kia... thì bỗng giật mình khi vướng phải cái dấu phẩy (,) ở câu thứ 12 : “Tiếng người khất thực, tiếng mình lơ ngơ” của bài thơ 5 khổ, 17 câu. MỘT DẤU PHẨY THỨC TỈNH BIẾT MẤY NHÂN TÌNH!...

2.3.  Đó là tất cả Thức – Nhận bài thơ của tôi, mà chẳng nói thì ai đọc, dẫu chỉ một lần thôi, cũng nhận ra cuộc Vạn Thành của Trương thi sỹ  vốn vẫn luôn giữa một bên chợ, một bên chùa, với đủ cả “sắc sắc không không”  và  “co kéo từng đồng...”  trưa sớm! Ôi, nhân tình thế thái trong cuộc thế tồn sinh “Tiếng người khất thực, tiếng mình lơ ngơ”!...

“Lơ ngơ”? Làm sao lại lơ ngơ?!... Phải vì mong muốn... cũng đã ... mà chưa..., bởi đã mà vẫn còn chưa đặng, với vô thường của kiếp nhân sinh..., như cây gạo cửa chùa kia vẫn khiến đất trời ngẩn ngơ khi sắc hoa bừng đỏ..., như lửa yêu kia vẫn cháy giữa bời bời mưa tuôn!... Và ta vẫn “đi giữa chợ và chùa” với một thức – nhận nhắc nhở khát khao có thể làm được thêm gì nữa cho cuộc trường sinh muôn mãi nỗi niềm thực – mơ giữa đôi bờ CHÙA – CHỢ!...

LXL.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm