TIN TỨC

Từ khải ca họa mi đến thực mơ giữa đôi bờ chùa – chợ!...

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-12 20:02:33
mail facebook google pos stwis
3298 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

Quan sát thấy trên Thi đàn Thơ Việt hiện đã khá đông đảo những doanh nhân là nhà thơ, mà tiếc là tôi chưa thấy các chuyên gia Văn học định vị giá trị thi nhân của họ! Là doanh nhân, họ đã và vẫn đang có đóng góp to lớn, thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế nước nhà phát triển. Thế còn địa vị thi nhân của họ thì sao?
 

Về câu chuyện này, tôi hy vọng chia sẻ như dưới đây có thể hé lộ chút nguyên do?

GỬI BẠN THƠ
 

Chỉ thực không mơ buồn chết chắc

Chỉ mơ không thực đói vàng răng

Thuyền ai ngự giữa dòng mơ – thực

Lưới cất, vàng reo…

                         cá lẫn trăng!”
 

            Ngày Doanh nhân Việt Nam, 13/10/2012
            (Thơ Trương Vạn Thành., Rút từ tập “Chim họa mi sổ lồng”, Nhà xuất bản Văn học, 2013, tr 52.)
 

Bài thơ như một tự tuyên về cuộc sống; cũng lại như một khuyên nhủ bạn bè… Nó khiến tôi nhận ra, kinh doanh là CÕI THỰC để tồn tại; còn thơ là CÕI MƠ  để sống… Một cuộc sống như thế, được thế, mới thật đẹp, thật xứng đáng với CON NGƯỜI, dù cái vòng quay nhân – quả, nghiệp – sinh ở đời vốn vẫn đầy những gian lao trắc trở…

Người có chia sẻ trên kia là nhà thơ Trương Vạn Thành, nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Thanh Hoa – Sông Đà ở Thanh Hóa, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Anh mới nghỉ kinh doanh năm 2022, nhưng từ năm 2008 đến nay, Trương Vạn Thành đã cho ra đời 6 tập thơ, đều do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành và hẳn sẽ còn làm nhiều thơ hơn nữa...

Ở đây, bởi không có điều kiện, nên tôi xin dẫn bình hai bài của nhà thơ dưới một cái tiêu đề: KHÚC KHẢI CA  HỌA MI  VÀ NỖI MIỀM THỰC – MƠ  GIỮA  ĐÔI  BỜ  CHÙA – CHỢ !...

 

 1.   Bài thơ:  CHIM HỌA MI SỔ LỒNG
 

Mỗi sáng

ngươi ngước nhìn bầu trời

tia nắng đầu tiên

chào ngày mới

hát ca vang lừng

lòng kiêu hãnh vô cùng

 

Ta nghe

trong tiếng ca của ngươi

suối reo

thác đổ

mây bay

hồ đầy

tiếng ca ngàn đời

lãnh địa

rừng hoang

quyền thế!

 

Ta nghe

trong tiếng ca của ngươi

cả niềm xót xa giam cầm

khát khao bầu trời

những ngày xưa thương nhớ…

 

Ta vỗ về ngươi

lồng gỗ đẹp

tấm khăn choàng thổ cẩm

cầu ngang, cóng nước điệu đàng

 

Những khi

ngươi hót

ta nấp sau khung cửa

đắm duối

mê si

Ôi... tình yêu một phía!

 

Những khi

tiếp tế cho ngươi

dọn lồng cho ngươi

kẻ nô lệ

là ta

khe khẽ trên môi

điệp khúc

bài ca hạnh phúc

 

Thế rồi

ngày ấy

ngươi đã bay đi

nơi cửa lồng ta chưa kịp đóng

Ta đứng trông theo

bóng ngươi hun hút phía chân trời

Gió từ cánh vút bay

phả vào mặt ta

mãi còn mơn man nơi sống mũi

 

Giận ngươi

kẻ khát khao tự do mông muội

để ta

mông muội đợi chờ

Cửa lồng vẫn mở

vẫn đầy nước ngọt lương khô

phòng khi ngươi có đói lòng...

Ta chẳng thèm lường gạt ngươi đâu

cớ sao không một lần trở lại?

 

Chỉ còn

mùi hương ngai ngái

chút phân khô

lồng hoang

bỏ ngỏ...
 

Họa mi!
 

Thành phố Thanh Hóa. 16/12/2011  (Rút từ tập “Chim họa Mi sổ lồng”. Nhà xuất bản Văn học. 2013, tr 58.)
                                

1.1. Đọc cái đầu đề bài thơ, hẳn cũng như ai, điều mà tôi nghĩ đến đầu tiên là câu chuyện chơi chim, một thú vui của bao người chứ chả cứ doanh nhân, cả dù đó là chim họa mi, với cả là khi rủi thay họa mi đã bay đi... bởi “cửa lồng ta chưa kịp đóng”...

Lại nữa, chơi chim ai cũng biết họa mi là chúa tể hót hay, càng nhốt, hót càng hay; nhưng không thể thuần dưỡng thả ngoài lồng được. Họa mi sống và hót hay trong lồng như một tù binh, nhưng nếu “sổ lồng” là nó sẽ bay đi như một chiến binh. Sự bay đi... vào trời xanh, mây trắng, rừng hoang... là bản ngã tồn sinh của họa mi, như một biểu tượng của khát vọng tự do, đã làm nên hình tượng về sự tự do tuyệt đối của thi phẩm!

Vậy nên, nhìn ngẫm cái đầu đề bài thơ, tôi đã tự hỏi, có ngẫu nhiên tình cờ không khi “Họa mi sổ lồng” đã thành một sự kiện thi tứ, cho thi phẩm này, của thi nhân? Câu chuyện “Họa mi sổ lồng” vụt thành câu chuyện tự do về khát vọng của con chim; cũng lại làm thức tỉnh câu chuyện về tự do và khát vọng của con người, mà cái làn ranh mất – còn, cái giới biên vô cùng và hữu hạn... vẫn chưa bao giờ ngưng nghỉ xung đột với nhau, hoán đổi cho nhau... như một bi ca tồn sinh của cuộc sống...

Tôi đọc bài thơ mà thức – nhận được cái thông điệp tư tưởng của thi phẩm, thức – nhận được cái rộng dài cao xa vô tận của “cõi mơ”, giữa biết bao trói buộc, chật hẹp, thấp hèn, của hữu hạn một đời nơi “cõi thực”... Vì thế mà tôi đã gọi bài thơ “Chim họa mi sổ lồng” là khúc khải ca của tự do!

1.2. Cái chất khải ca mà tôi thấy ở đây khởi từ khổ thơ đầu, chính ngay từ chữ đầu tiên của bài thơ! Tôi biết, tùy vào vị thế xã hội, mỗi người có thể đưa ra vô khối những quan niệm của họ về thơ; lại cũng từ động cơ mục đích nghiên cứu mà người ta có thể đưa ra định nghĩa không giống nhau về thơ; trong khi ai cũng thấy, xét đến cùng, thì rõ ràng thơ là chữ nghĩa, là nghệ thuật ngôn từ.
 

Xin hãy đọc:

 

“Mỗi sáng

ngươi ngước nhìn bầu trời

tia nắng đầu tiên

chào ngày mới

hát ca vang lừng

lòng kiêu hãnh vô cùng”
 

Đấy, bạn thấy chưa, đã cảm thấy cái nhịp điệu của từng câu thơ; cái âm giai trầm thống nỗi bi ca khởi đầu từ chữ “MỖI” ở đầu câu thơ, của bài thơ chưa?! Cứ từ chữ nghĩa, thì “Mỗi sáng/...” cũng như là “Sáng sáng/...” ; nhưng nếu tôi viết “Sáng sáng/...”, thì đó chỉ là một sự tả thực; không thể khiến hoài niệm trào dâng như “Mỗi sáng/...” là chữ mà thi phẩm đã dụng tâm chọn lựa. Bởi “ngươi” niềm “kiêu hãnh” ấy đã bay đi rồi, chỉ còn kia là chiếc lồng trống không, trùm lên “ta”, giam nhốt tâm tưởng “ta” mãi vẫn trong vang vọng hoài niệm tiếng ca của “ngươi” mỗi sáng...

“Kiêu hãnh”, phải! “Ngươi” chẳng cần che dấu giá trị đã làm nên bản thân “mi” ! Và, tôi bỗng nhận ra từ sự “sổ lồng” vượt thoát vào tự do của “ họa mi”, là tiếng ca chim để lại, đã như một cái lồng vô hình trùm nhốt, giam cầm “ta” trong đó...

 

1.3.  Thế rồi “Ta nghe...” ..., thế rồi “Ta nghe...”..., tiếng chim và niềm đau hoài vọng cứ tuôn trào hết lớp này qua lớp khác!...
 

Có khi:

Ta nghe

trong tiếng ca của ngươi

suối reo

thác đổ

mây bay

hồ đầy

tiếng ca ngàn đời

lãnh địa

rừng hoang

quyền thế!

 

Có lúc:

Ta nghe

trong tiếng ca của ngươi

cả niềm xót xa giam cầm

khát khao bầu trời

những ngày xưa thương nhớ…

.....

Và, thế là chất sử thi bắt đầu những phức điệu làm nên khải ca, hát lên những cung bậc, trạng huống mà “ta”“ngươi” đã trải qua suốt cả thi phẩm; mà tôi có thể cảm thức đủ đầy qua kết cấu câu chữ ít nhiều, dài ngắn của mỗi khúc đoạn tự do của bài thơ. Để rồi đứng lại là giai điệu dỗi hờn sau cuối... khiến tôi không khỏi chạnh lòng:

Giận ngươi

kẻ khát khao tự do mông muội

để ta

mông muội đợi chờ

...

Họa mi! ”

Và, tôi hiểu, rồi sẽ vẫn còn vang mãi nỗi khát khao tự do đến “mông nuội” , với vẫn một niềm hoài niệm đến khôn nguôi... Tôi hiểu “mông muội” trong ngữ huống trên đã biểu đạt được mức độ đắm say tình yêu tự do của cả “ngươi”“ta”, mà không phải là trạng thái “u mê” của ý thức tuyệt đối về giới hạn của nỗi niềm tự do ấy.

Bỗng... tôi lại nghe văng vẳng đâu đây sẻ chia của Thi nhân: 

 

 Thuyền ai ngự giữa dòng mơ – thực

Lưới cất, vàng reo…

                         cá lẫn trăng!”

Và, tôi tin, kẻ đã đứng vững vàng giữa dòng mơ – thực” hơn nửa cuộc trường sinh thế kỷ không thể không biết  “Tự do là cái tất yếu được nhận thức” (Heghen) khi viết xong bài thơ “Chim họa mi sổ lồng” này vào ngày 16 tháng 12 năm 2011...

2.  Doanh nhân Trương Vạn Thành giờ đã rút hẳn khỏi “chiến sự kinh doanh...” từng trải ngót nửa thế kỷ tranh đấu không chỉ vì lợi – quyền của bản thân mình. Tập thơ thứ 6, tập mới nhất của anh vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành có tên là : TÔI ĐI GIỮA CHỢ VÀ CHÙA, như nói cho tôi biết phía trước anh vẫn còn đó một hành trình mới!...

 

2.1.  Đây, bài thơ thứ hai: TÔI ĐI GIỮA CHỢ VÀ CHÙA
 

Phố tôi bên chợ bên chùa

Chợ xưa chùa cũ tứ mùa bình yên

Đã đành ở cũng thành quen

Lao xao chợ với thâm nghiêm nâu sồng

 

Bên thì sắc sắc không không

Bên thì co kéo từng đồng sớm trưa

Bên thì mõ gõ lưa thưa

Bên thì tất bật rau dưa cua cà

 

Phố nhà hay có chim sa

Con chim tội nghiệp ai đà phóng sinh

Hòa trong tiếng kệ tiếng kinh

Tiếng người khất thực, tiếng mình lơ ngơ

 

Cửa chùa cây gạo bất ngờ

Sáng nay hoa nở ngẩn ngơ cả trời

Tình nồng oan trái chia phôi

Tim yêu cháy giữa bời bời tuôn mưa
 

Tôi đi giữa chợ và chùa...
 

3/2020
Thơ Trương Vạn Thành (Rút từ tập TÔI ĐI GIỮA CHỢ VÀ CHÙA, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2022, Tr.20-21)

2.2  Cũng phải thôi! Hơn mười năm sau tráng ca “Chim họa mi sổ lồng”..., giờ đây là “Tôi đi giữa chợ và chùa” với những nhịp bước đầy chiêm nghiệm. Tôi cũng mãi theo chân thi nhân,  đến gần nhập tâm cái khúc Sáu – Tám ông bà kia... thì bỗng giật mình khi vướng phải cái dấu phẩy (,) ở câu thứ 12 : “Tiếng người khất thực, tiếng mình lơ ngơ” của bài thơ 5 khổ, 17 câu. MỘT DẤU PHẨY THỨC TỈNH BIẾT MẤY NHÂN TÌNH!...

2.3.  Đó là tất cả Thức – Nhận bài thơ của tôi, mà chẳng nói thì ai đọc, dẫu chỉ một lần thôi, cũng nhận ra cuộc Vạn Thành của Trương thi sỹ  vốn vẫn luôn giữa một bên chợ, một bên chùa, với đủ cả “sắc sắc không không”  và  “co kéo từng đồng...”  trưa sớm! Ôi, nhân tình thế thái trong cuộc thế tồn sinh “Tiếng người khất thực, tiếng mình lơ ngơ”!...

“Lơ ngơ”? Làm sao lại lơ ngơ?!... Phải vì mong muốn... cũng đã ... mà chưa..., bởi đã mà vẫn còn chưa đặng, với vô thường của kiếp nhân sinh..., như cây gạo cửa chùa kia vẫn khiến đất trời ngẩn ngơ khi sắc hoa bừng đỏ..., như lửa yêu kia vẫn cháy giữa bời bời mưa tuôn!... Và ta vẫn “đi giữa chợ và chùa” với một thức – nhận nhắc nhở khát khao có thể làm được thêm gì nữa cho cuộc trường sinh muôn mãi nỗi niềm thực – mơ giữa đôi bờ CHÙA – CHỢ!...

LXL.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm