TIN TỨC

Từ khải ca họa mi đến thực mơ giữa đôi bờ chùa – chợ!...

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-12 20:02:33
mail facebook google pos stwis
3167 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

Quan sát thấy trên Thi đàn Thơ Việt hiện đã khá đông đảo những doanh nhân là nhà thơ, mà tiếc là tôi chưa thấy các chuyên gia Văn học định vị giá trị thi nhân của họ! Là doanh nhân, họ đã và vẫn đang có đóng góp to lớn, thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế nước nhà phát triển. Thế còn địa vị thi nhân của họ thì sao?
 

Về câu chuyện này, tôi hy vọng chia sẻ như dưới đây có thể hé lộ chút nguyên do?

GỬI BẠN THƠ
 

Chỉ thực không mơ buồn chết chắc

Chỉ mơ không thực đói vàng răng

Thuyền ai ngự giữa dòng mơ – thực

Lưới cất, vàng reo…

                         cá lẫn trăng!”
 

            Ngày Doanh nhân Việt Nam, 13/10/2012
            (Thơ Trương Vạn Thành., Rút từ tập “Chim họa mi sổ lồng”, Nhà xuất bản Văn học, 2013, tr 52.)
 

Bài thơ như một tự tuyên về cuộc sống; cũng lại như một khuyên nhủ bạn bè… Nó khiến tôi nhận ra, kinh doanh là CÕI THỰC để tồn tại; còn thơ là CÕI MƠ  để sống… Một cuộc sống như thế, được thế, mới thật đẹp, thật xứng đáng với CON NGƯỜI, dù cái vòng quay nhân – quả, nghiệp – sinh ở đời vốn vẫn đầy những gian lao trắc trở…

Người có chia sẻ trên kia là nhà thơ Trương Vạn Thành, nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Thanh Hoa – Sông Đà ở Thanh Hóa, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Anh mới nghỉ kinh doanh năm 2022, nhưng từ năm 2008 đến nay, Trương Vạn Thành đã cho ra đời 6 tập thơ, đều do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành và hẳn sẽ còn làm nhiều thơ hơn nữa...

Ở đây, bởi không có điều kiện, nên tôi xin dẫn bình hai bài của nhà thơ dưới một cái tiêu đề: KHÚC KHẢI CA  HỌA MI  VÀ NỖI MIỀM THỰC – MƠ  GIỮA  ĐÔI  BỜ  CHÙA – CHỢ !...

 

 1.   Bài thơ:  CHIM HỌA MI SỔ LỒNG
 

Mỗi sáng

ngươi ngước nhìn bầu trời

tia nắng đầu tiên

chào ngày mới

hát ca vang lừng

lòng kiêu hãnh vô cùng

 

Ta nghe

trong tiếng ca của ngươi

suối reo

thác đổ

mây bay

hồ đầy

tiếng ca ngàn đời

lãnh địa

rừng hoang

quyền thế!

 

Ta nghe

trong tiếng ca của ngươi

cả niềm xót xa giam cầm

khát khao bầu trời

những ngày xưa thương nhớ…

 

Ta vỗ về ngươi

lồng gỗ đẹp

tấm khăn choàng thổ cẩm

cầu ngang, cóng nước điệu đàng

 

Những khi

ngươi hót

ta nấp sau khung cửa

đắm duối

mê si

Ôi... tình yêu một phía!

 

Những khi

tiếp tế cho ngươi

dọn lồng cho ngươi

kẻ nô lệ

là ta

khe khẽ trên môi

điệp khúc

bài ca hạnh phúc

 

Thế rồi

ngày ấy

ngươi đã bay đi

nơi cửa lồng ta chưa kịp đóng

Ta đứng trông theo

bóng ngươi hun hút phía chân trời

Gió từ cánh vút bay

phả vào mặt ta

mãi còn mơn man nơi sống mũi

 

Giận ngươi

kẻ khát khao tự do mông muội

để ta

mông muội đợi chờ

Cửa lồng vẫn mở

vẫn đầy nước ngọt lương khô

phòng khi ngươi có đói lòng...

Ta chẳng thèm lường gạt ngươi đâu

cớ sao không một lần trở lại?

 

Chỉ còn

mùi hương ngai ngái

chút phân khô

lồng hoang

bỏ ngỏ...
 

Họa mi!
 

Thành phố Thanh Hóa. 16/12/2011  (Rút từ tập “Chim họa Mi sổ lồng”. Nhà xuất bản Văn học. 2013, tr 58.)
                                

1.1. Đọc cái đầu đề bài thơ, hẳn cũng như ai, điều mà tôi nghĩ đến đầu tiên là câu chuyện chơi chim, một thú vui của bao người chứ chả cứ doanh nhân, cả dù đó là chim họa mi, với cả là khi rủi thay họa mi đã bay đi... bởi “cửa lồng ta chưa kịp đóng”...

Lại nữa, chơi chim ai cũng biết họa mi là chúa tể hót hay, càng nhốt, hót càng hay; nhưng không thể thuần dưỡng thả ngoài lồng được. Họa mi sống và hót hay trong lồng như một tù binh, nhưng nếu “sổ lồng” là nó sẽ bay đi như một chiến binh. Sự bay đi... vào trời xanh, mây trắng, rừng hoang... là bản ngã tồn sinh của họa mi, như một biểu tượng của khát vọng tự do, đã làm nên hình tượng về sự tự do tuyệt đối của thi phẩm!

Vậy nên, nhìn ngẫm cái đầu đề bài thơ, tôi đã tự hỏi, có ngẫu nhiên tình cờ không khi “Họa mi sổ lồng” đã thành một sự kiện thi tứ, cho thi phẩm này, của thi nhân? Câu chuyện “Họa mi sổ lồng” vụt thành câu chuyện tự do về khát vọng của con chim; cũng lại làm thức tỉnh câu chuyện về tự do và khát vọng của con người, mà cái làn ranh mất – còn, cái giới biên vô cùng và hữu hạn... vẫn chưa bao giờ ngưng nghỉ xung đột với nhau, hoán đổi cho nhau... như một bi ca tồn sinh của cuộc sống...

Tôi đọc bài thơ mà thức – nhận được cái thông điệp tư tưởng của thi phẩm, thức – nhận được cái rộng dài cao xa vô tận của “cõi mơ”, giữa biết bao trói buộc, chật hẹp, thấp hèn, của hữu hạn một đời nơi “cõi thực”... Vì thế mà tôi đã gọi bài thơ “Chim họa mi sổ lồng” là khúc khải ca của tự do!

1.2. Cái chất khải ca mà tôi thấy ở đây khởi từ khổ thơ đầu, chính ngay từ chữ đầu tiên của bài thơ! Tôi biết, tùy vào vị thế xã hội, mỗi người có thể đưa ra vô khối những quan niệm của họ về thơ; lại cũng từ động cơ mục đích nghiên cứu mà người ta có thể đưa ra định nghĩa không giống nhau về thơ; trong khi ai cũng thấy, xét đến cùng, thì rõ ràng thơ là chữ nghĩa, là nghệ thuật ngôn từ.
 

Xin hãy đọc:

 

“Mỗi sáng

ngươi ngước nhìn bầu trời

tia nắng đầu tiên

chào ngày mới

hát ca vang lừng

lòng kiêu hãnh vô cùng”
 

Đấy, bạn thấy chưa, đã cảm thấy cái nhịp điệu của từng câu thơ; cái âm giai trầm thống nỗi bi ca khởi đầu từ chữ “MỖI” ở đầu câu thơ, của bài thơ chưa?! Cứ từ chữ nghĩa, thì “Mỗi sáng/...” cũng như là “Sáng sáng/...” ; nhưng nếu tôi viết “Sáng sáng/...”, thì đó chỉ là một sự tả thực; không thể khiến hoài niệm trào dâng như “Mỗi sáng/...” là chữ mà thi phẩm đã dụng tâm chọn lựa. Bởi “ngươi” niềm “kiêu hãnh” ấy đã bay đi rồi, chỉ còn kia là chiếc lồng trống không, trùm lên “ta”, giam nhốt tâm tưởng “ta” mãi vẫn trong vang vọng hoài niệm tiếng ca của “ngươi” mỗi sáng...

“Kiêu hãnh”, phải! “Ngươi” chẳng cần che dấu giá trị đã làm nên bản thân “mi” ! Và, tôi bỗng nhận ra từ sự “sổ lồng” vượt thoát vào tự do của “ họa mi”, là tiếng ca chim để lại, đã như một cái lồng vô hình trùm nhốt, giam cầm “ta” trong đó...

 

1.3.  Thế rồi “Ta nghe...” ..., thế rồi “Ta nghe...”..., tiếng chim và niềm đau hoài vọng cứ tuôn trào hết lớp này qua lớp khác!...
 

Có khi:

Ta nghe

trong tiếng ca của ngươi

suối reo

thác đổ

mây bay

hồ đầy

tiếng ca ngàn đời

lãnh địa

rừng hoang

quyền thế!

 

Có lúc:

Ta nghe

trong tiếng ca của ngươi

cả niềm xót xa giam cầm

khát khao bầu trời

những ngày xưa thương nhớ…

.....

Và, thế là chất sử thi bắt đầu những phức điệu làm nên khải ca, hát lên những cung bậc, trạng huống mà “ta”“ngươi” đã trải qua suốt cả thi phẩm; mà tôi có thể cảm thức đủ đầy qua kết cấu câu chữ ít nhiều, dài ngắn của mỗi khúc đoạn tự do của bài thơ. Để rồi đứng lại là giai điệu dỗi hờn sau cuối... khiến tôi không khỏi chạnh lòng:

Giận ngươi

kẻ khát khao tự do mông muội

để ta

mông muội đợi chờ

...

Họa mi! ”

Và, tôi hiểu, rồi sẽ vẫn còn vang mãi nỗi khát khao tự do đến “mông nuội” , với vẫn một niềm hoài niệm đến khôn nguôi... Tôi hiểu “mông muội” trong ngữ huống trên đã biểu đạt được mức độ đắm say tình yêu tự do của cả “ngươi”“ta”, mà không phải là trạng thái “u mê” của ý thức tuyệt đối về giới hạn của nỗi niềm tự do ấy.

Bỗng... tôi lại nghe văng vẳng đâu đây sẻ chia của Thi nhân: 

 

 Thuyền ai ngự giữa dòng mơ – thực

Lưới cất, vàng reo…

                         cá lẫn trăng!”

Và, tôi tin, kẻ đã đứng vững vàng giữa dòng mơ – thực” hơn nửa cuộc trường sinh thế kỷ không thể không biết  “Tự do là cái tất yếu được nhận thức” (Heghen) khi viết xong bài thơ “Chim họa mi sổ lồng” này vào ngày 16 tháng 12 năm 2011...

2.  Doanh nhân Trương Vạn Thành giờ đã rút hẳn khỏi “chiến sự kinh doanh...” từng trải ngót nửa thế kỷ tranh đấu không chỉ vì lợi – quyền của bản thân mình. Tập thơ thứ 6, tập mới nhất của anh vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành có tên là : TÔI ĐI GIỮA CHỢ VÀ CHÙA, như nói cho tôi biết phía trước anh vẫn còn đó một hành trình mới!...

 

2.1.  Đây, bài thơ thứ hai: TÔI ĐI GIỮA CHỢ VÀ CHÙA
 

Phố tôi bên chợ bên chùa

Chợ xưa chùa cũ tứ mùa bình yên

Đã đành ở cũng thành quen

Lao xao chợ với thâm nghiêm nâu sồng

 

Bên thì sắc sắc không không

Bên thì co kéo từng đồng sớm trưa

Bên thì mõ gõ lưa thưa

Bên thì tất bật rau dưa cua cà

 

Phố nhà hay có chim sa

Con chim tội nghiệp ai đà phóng sinh

Hòa trong tiếng kệ tiếng kinh

Tiếng người khất thực, tiếng mình lơ ngơ

 

Cửa chùa cây gạo bất ngờ

Sáng nay hoa nở ngẩn ngơ cả trời

Tình nồng oan trái chia phôi

Tim yêu cháy giữa bời bời tuôn mưa
 

Tôi đi giữa chợ và chùa...
 

3/2020
Thơ Trương Vạn Thành (Rút từ tập TÔI ĐI GIỮA CHỢ VÀ CHÙA, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2022, Tr.20-21)

2.2  Cũng phải thôi! Hơn mười năm sau tráng ca “Chim họa mi sổ lồng”..., giờ đây là “Tôi đi giữa chợ và chùa” với những nhịp bước đầy chiêm nghiệm. Tôi cũng mãi theo chân thi nhân,  đến gần nhập tâm cái khúc Sáu – Tám ông bà kia... thì bỗng giật mình khi vướng phải cái dấu phẩy (,) ở câu thứ 12 : “Tiếng người khất thực, tiếng mình lơ ngơ” của bài thơ 5 khổ, 17 câu. MỘT DẤU PHẨY THỨC TỈNH BIẾT MẤY NHÂN TÌNH!...

2.3.  Đó là tất cả Thức – Nhận bài thơ của tôi, mà chẳng nói thì ai đọc, dẫu chỉ một lần thôi, cũng nhận ra cuộc Vạn Thành của Trương thi sỹ  vốn vẫn luôn giữa một bên chợ, một bên chùa, với đủ cả “sắc sắc không không”  và  “co kéo từng đồng...”  trưa sớm! Ôi, nhân tình thế thái trong cuộc thế tồn sinh “Tiếng người khất thực, tiếng mình lơ ngơ”!...

“Lơ ngơ”? Làm sao lại lơ ngơ?!... Phải vì mong muốn... cũng đã ... mà chưa..., bởi đã mà vẫn còn chưa đặng, với vô thường của kiếp nhân sinh..., như cây gạo cửa chùa kia vẫn khiến đất trời ngẩn ngơ khi sắc hoa bừng đỏ..., như lửa yêu kia vẫn cháy giữa bời bời mưa tuôn!... Và ta vẫn “đi giữa chợ và chùa” với một thức – nhận nhắc nhở khát khao có thể làm được thêm gì nữa cho cuộc trường sinh muôn mãi nỗi niềm thực – mơ giữa đôi bờ CHÙA – CHỢ!...

LXL.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm