TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Bàn về tính lý luận trong các bài giảng của thầy và bài viết của trò hiện nay

Bàn về tính lý luận trong các bài giảng của thầy và bài viết của trò hiện nay

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-08-31 13:35:41
mail facebook google pos stwis
903 lượt xem

Lý luận văn học Lý luận văn học (LLVH) là bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện lý thuyết khái quát nhằm tìm ra những quy luật chung nhất về văn học. Trong đó bao gồm sự nghiên cứu bản chất của sáng tác văn học, chức năng xã hội-thẩm mỹ của văn học, đồng thời xác định phương pháp lý luận và phân tích văn học. Lý luận văn học tồn tại như một môn học độc lập ở một số trường đại học; nó cũng là một phân môn cho sinh viên và học sinh THPT thế hệ trước. Cho dù độc lập hay là phân môn của môn Ngữ văn thì vai trò của LLVH là vô cùng lớn.

Ảnh minh họa

Không phải ngẫu nhiên có Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương và các chi hội tại các Hội VHNT địa phương (cấp tỉnh). Không phải ngẫu nhiên có các báo, tạp chí chuyên ngành về lý luận phê bình văn học, nghệ thuật.

Và, một bài giảng chất lượng, nhất là bộ môn ngữ văn phải có tính lý luận.

Thế nào là một bài giảng về tác phẩm văn học có tính lý luận?

Tác phẩm văn học là một công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hay một tập thể  sáng tạo nên nhằm thể hiện những khái quát về cuộc sống, con người và biểu hiện tâm tư, tình cảm, thái độ của chủ thể trước thực tại bằng hình tượng nghệ thuật. Tác phẩm văn học bao giờ cũng là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.

Tác phẩm văn học không phải là một sản phẩm cố định. Nó mang tính lịch sử, đa nghĩa, nó có sự biến đổi về văn bản và có sự khác nhau trong cảm thụ của người đọc ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau.

Tác phẩm văn học còn là một hệ thống chỉnh thể. Tính chỉnh thể đó được xem xét chủ yếu trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của một tác phẩm. Bên cạnh đó, các chức năng của văn học như chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ… cũng thuộc phạm trù lý luận văn học.

Một bài giảng có tính lý luận là bài giảng vận dụng sáng tạo, không khuôn mẫu, không khiên cưỡng, gò ép, không sơ cứng các kiến thức LLVH vào bài giảng của mình, giúp học sinh hiểu sâu kiến thức trong tính chỉnh thể, có chiều sâu. Đó là các bài giảng mà giáo viên hướng dẫn học sinh sao cho học sinh chủ động tiếp cận kiến thức và chủ động thể hiện năng lực, phẩm chất vốn có cũng như phẩm chất cần hướng tới. Tại bài giảng đó, giáo viên có cách hướng dẫn các em đặt bài học trong tính chỉnh thể của hệ thống, ví dụ học Truyện ngắn “Dưới bóng hoàng lan” thì cần đặt trong hệ thống các tác phẩm của Thạch Lam, làm rõ phong cách Thạch Lam: Truyện không có cốt truyện, truyện mang tính trữ tình, truyện không lấy ngôn ngữ, hình ảnh bên ngoài làm chính mà thường khơi gợi suy nghĩ, đi vào thế giới chiều sâu bên trong của con người một cách nhẹ nhàng và tinh tế. Học thơ tình Xuân Diệu phải hiểu Xuân Diệu là “ông hoàng của thơ tình yêu”, là người luôn “khát khao giao cảm với đời” theo cách riêng: vồ vập, đắm say và trân trọng, níu giữ từng khoảnh khắc hiện diện trên cõi đời này. Khai thác ngôn từ trong thơ Xuân Diệu phải là những động từ, tính từ bộc lộ cảm xúc và hành động mạnh mẽ…

Bên cạnh việc đặt tác phẩm trong hệ thống, trong mối quan hệ với chỉnh thể, trong việc làm nổi bật phong cách tác giả vì tác phẩm luôn là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan mà tác giả miêu tả thì còn cần khai thác các chức năng vốn có của văn học, tiêu biểu như nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ. Ví như học truyện Thạch Lam sẽ yêu làng quê bình dị mà đằm sâu tình cảm (tình bà cháu, tình bạn ở ngưỡng cửa tình yêu… trong truyện ngắn Dưới bóng hoàng lan) hay học thơ tình Xuân Diệu thì phải thấy được việc trân trọng từng phút giây của cuộc sống, yêu con người, yêu thiên nhiên với tình yêu ở độ đắm say, mãnh liệt (qua bài thơ Vội vàng…). Điều đó nhân lên năng lượng sống cho con người có thái độ và trách nhiệm sống tích cực hơn. Khi nói về tính đa nghĩa của ngôn từ trong tác phẩm, hay tính lịch sử của tác phẩm cũng chính là bàn đến tính lý luận trong tác phẩm văn học. Tính đa nghĩa cho ta nhìn nhận đa chiều để hiểu sâu điều tác giả gửi gắm qua ngôn từ. Tính lịch sử cho thấy đặt tác phẩm đúng thời kỳ, đúng giai đoạn lịch sử thì tác phẩm phát huy tối đa giá trị cần có. Ví như tác phẩm “Từ ấy” của Tố Hữu, giúp học sinh hiểu bài thơ thì ngoài việc hiểu phong cách thơ Tố Hữu, ngoài việc khai thác các yếu tố nghệ thuật như ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu… nhằm biểu đạt hạnh phúc của chủ thể- của người chiến sỹ cộng sản khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng, còn cần phải cung cấp cho các em kiến thức lịch sử, bối cảnh ra đời tác phẩm vì thế hệ học sinh bây giờ khác xa những năm đầu của thế kỷ XX.

Như vậy, nếu chỉ hướng học sinh khai thác ngôn từ hiện diện và gói gọn trong tác phẩm thì không thể giúp học sinh hiểu sâu thông điệp được chuyển tải qua ngôn từ của tác giả. Đồng nghĩa với việc bài giảng đó kém tính lý luận.

Về phía học sinh, khi học trung học cơ sở (THCS), và khi mới bước vào đầu cấp trung học phôt thông (THPT) thường các em chưa viết được bài văn mang tính lý luận. Vậy, thế nào là một bài viết của học sinh mang tính lý luận?

Bài viết văn của học sinh có giá trị không đơn giản chỉ là bố cục rõ ràng, diễn đạt lưu loát, đủ ý chính mà còn phải biết liên hệ với các tác phẩm khác cùng chủ đề; đặc biệt, còn cần có tính lý luận, đó là phân tích nhân vật thì cần hiểu và làm nổi bật được nhân vật điển hình, phải hiểu nguyên mẫu và tính đại diện của nhân vật điển hình. Ví như học về nhân vật Chí Phèo nếu chỉ thấy nhân vật lập dị, nhân vật có hành động như kẻ say, kẻ điên thì chưa khai thác được giá trị vốn có của tác phẩm. Chí Phèo có nguyên mẫu ngoài đời, Chí Phèo hành động như kẻ điên nhưng ẩn sâu trong hình hài ấy là một tâm trạng phẫn uất đến cùng cực. Chí Phèo là nhân vật điển hình cho một bộ phận nông dân thời đó. Nhà phê bình văn học Nga Bê-ê-lin-xki viết: “Tính điển hình là một trong những dấu hiệu nổi bật của tính mới mẻ trong sáng tạo. Nếu có thể thì cũng nói được rằng: Tính điển hình là huy chương của nhà văn. Điển hình là người lạ đã quen biết”. Vâng “Người lạ đã quen biết”, Chí Phèo là một điển hình, tính cách nhân vật này là tổng hợp nhiều nét tính cách của các nhân vật bị bần cùng hóa, bị tha hóa trong xã hội. Nói cách khác, nhà văn đã lựa chọn những nét tiêu biểu của một số nguyên mẫu ngoài đời để tổng hợp nên một nhân vật điển hình. Xã hội thời Chí Phèo sống có thể không có một nhân vật y hệt Chí Phèo, nhưng có nhiều người bất mãn mà say, có người vì say và bị cộng đồng xa lánh mà lấy rượu và tiếng chửi làm bạn đồng hành, có người sinh ra bị bỏ rơi đâu đó tựa cái lò gạch bỏ hoang.v.v…

Hoặc phân tích, bình giảng câu thơ, bài thơ phải chú ý trước hết là câu thơ, bài thơ đó, đồng thời cần phải biết rõ các đặc điểm mang tính lý luận như bố cục, nội dung, hình thức, đặt trong mối quan hệ không thể tách rời giữa các yếu tố nội dung, hình thức. Khái quát về giá trị tác phẩm cần đánh giá cả hai mặt hình thức và nội dung; tác phẩm đạt được các giá trị khi hướng tới chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ như thế nào…. Khi nói về từng yếu tố, lối diễn đạt phải tự nhiên, không gò câu ép chữ, không khiên cưỡng. Muốn hiểu rõ câu thơ “Đưa người ta không đưa qua sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng” nhất định phải đặt câu thơ trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận, đặt trong bối cảnh sáng tác, hoàn cảnh lịch sử chi phối thế giới quan, nhân sinh quan của nhà thơ trong phong trào thơ mới. Hoặc câu thơ “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” chỉ có thể được hiểu sâu sắc khi đặt nó trong cả bài thơ “Vội vàng” và trên cơ sở nắm bắt được phong cách thơ Xuân Diệu.v.v…

Thực tế hiện nay, học sinh THCS và học sinh khi mới vào lớp 10 tại các trường THPT thường làm văn rất thiếu hoặc không có tính lý luận. Bài biết của các em chủ yếu bám vào câu, chữ trong tác phẩm văn học cụ thể, trong đề bài cụ thể; chưa biết đặt tác phẩm hoặc câu, đoạn trong chỉnh thể, chưa gắn được với lý luận văn học. Thậm chí còn một bộ phận không nhỏ học sinh học thuộc bài giảng của thầy cô hoặc bài tham khảo sao chép trên mạng Interet. Nhiều em do nguyên nhân không thích học văn; không phải môn thi đại học… và nhiều em là do hổng kiến thức hoặc chưa biết phương pháp học tập môn Ngữ văn sao cho đạt hiệu quả.

Tôi luôn có niềm tin rằng nếu giáo viên dạy Ngữ văn làm cho học sinh yêu thích bộ môn của mình thì khó mấy học sinh cũng làm được. Để có được bài văn mang tính lý luận cho học sinh thì giáo viên cần ý thức sâu sắc về điều đó để rèn cho các em khi viết bài. Các trường đại học cũng dạy dỗ bộ môn này kỹ lưỡng hơn và căn dặn sinh viên về vai trò của các em trong sứ mệnh “trồng người”. Bộ môn Ngữ văn sẽ trở nên giá trị hơn rất nhiều khi mỗi bài giảng của thầy cô và mỗi bài viết văn của học trò đều có tính lý luận,

                                                 Việt Trì 22/7/2 023

                                        Đỗ Nguyên Thương

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm